Giữ Gìn Văn Hóa Dân Tộc Qua Các Công cuộc Nghiên Cứu tại Mỹ

 

Người xưa có câu”minh trí, khai tâm” ý nói việc khai mở tâm tư, tình cảm và phát triển trí tuệ thông minh là hai mặt không thể tách rời được trong nhiệm vụ giáo dục con trẻ. Các sách nghiên cứu về giáo dục tại Mỹ cũng bàn rất nhiều về phương hướng để giúp trẻ em phát triển toàn diện . Một trong những sách được trích dẫn trong bài viết này là Resiliency, What We Have Learned. Tạm dịch là “Những Gì Chúng Ta Học Được Về Sự Sung Mãn”.Theo đó một cá nhân đạt được đến trạng thái sung mãn khi bốn yếu tố sau đây được phát huy toàn diện: – khả năng xã hội – khả năng tự trị – khả năng giải quyết vấn đề – và khả năng định hướng cho mục đích của cuộc đời.

Trong khuôn khổ của bài này để minh họa cho những ưu điểm của việc giữ gìn tiếng nói và truyền thống văn hóa dân tộc qua các công cuộc nghiên cứu và khảo sát của các nhà giáo dục và xã hội học tại Mỹ, tôi chỉ xin đề cập đến khả năng xã hội . Vì theo tác giả quyển sách này thì các nhà tâm lý và xã hội học nhận định rằng sự phát triển về khả năng xã hội nơi trẻ em là chỉ dấu định hướng cho sự thích nghi và toàn thiện của con trẻ.

Khả năng xã hội bao gồm những đức tính như: biết cảm thông, biết đáp trả, biết giao thiệp, có lòng từ tâm và vị tha. Gia đình chính là nơi để khai mở tâm tư tình cảm hay nói khác đi là môi trường phát triển khả năng xã hội của con trẻ. Trước hết, khả năng xã hội là sự biểu lộ rõ ràng, tích cực của trẻ em khi tiếp xúc với môi trường chung quanh chúng. Ngay từ rất sớm con trẻ đã tìm kiếm nguồn trông cậy, yêu thương, săn sóc bằng cách lôi cuốn sự chú ý của người lớn có mặt bên cạnh mình qua tiếng khóc, dần dần tiến đến sự biểu lộ qua cử chỉ và lời nói .Sự thỏa mãn với những tiếp xúc ban đầu đem đến cho con trẻ cảm giác an toàn, tin cậy. Từ cái nôi yêu thương, an toàn đó con trẻ vươn ra thế giới bên ngoài để tiếp xúc với bạn bè, thày cô, nhân viên nhà trường và xã hội  một cách đầy tự tin. Người cưu mang và đem lại cảm giác an toàn đầu tiên cho bé đó chính là người mẹ. Bên cạnh mẹ bé còn được che chở bằng tình thương của người cha và cả một đại gia đình .   Khi ông bà cùng cha mẹ tích cực giúp cho con cháu giữ gìn tiếng mẹ đẻ, yêu mến truyền thống và văn hóa dân tộc thì chúng ta đã thực sự “minh trí, khai tâm” cho các cháu. Và còn gì tốt đẹp hơn là khai tâm cho các cháu qua tình tự dân tộc “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời làm người”.

Theo như các nghiên cứu về ngữ học thì con trẻ có khả năng “nghe” tiếng nói từ rất sớm. Trong sách Language Development Peter Ạ Reich đã nhận định rằng trẻ em có khả năng thông tin với thế giới bên ngoài ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Ông nêu lên một dẫn chứng về khả năng ghi nhớ tiếng nói khi còn là một thai nhi theo lời kể của một bà mẹ ở Oklahoma City một hôm nghe thấy cô con gái hai tuổi của mình cứ lặp đi lặp lại như một bài hát câu “Hít vào, thở ra; hít vào, thở ra”. Bà nhớ lại rằng đó chính là lời nói của hướng dẫn viên thể dục trên Tivi khi bà tập thể dục vào mỗi buổi sáng khi đang mang thai cô bé.

Nhận định này cho ta thấy khi con trẻ được cưu mang trong lòng người mẹ Việt Nam thì cùng một lúc dòng máu Việt và tiếng Việt đã được thấm nhập và luân lưu trong hình hài bé nhỏ. Kể từ khi các cháu chào đời và lớn lên  trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì đây là lúc các cháu đã được cung cấp một số vốn ngôn ngữ mà nhà ngữ học Jean Piaget gọi là “Ngôn ngữ riêng” (Private language). Khi ngôn ngữ thứ hai được thu nhập thì Piaget và các nhà nghiên cứu đều có nhận xét rằng song song với “Ngôn ngữ riêng” đã được thu nhận, các trẻ em phát triển bình thường đều có khả năng  tiếp nhận thêm một – hay có thể nhiều hơn- khi các cháu được xử dụng liên tục và chuẩn xác những tiếng nói này .

Tại xã hội Hoa Kỳ, từ những buổi đầu lập quốc người Mỹ đã có chủ trương một xã hội “Melting pot” trong đó mọi sắc tộc ở Mỹ đều phải “tan chảy” có nghĩa là chỉ còn có một nền văn hóa chung duy nhất . Nhưng chủ trương này dần dà đã phải nhường chỗ cho một “Salad bowl”, một xã hội mà mọi sắc dân đều chung sống hài hòa và giữ lại những bản sắc tinh hoa của dân tộc mình. Biểu tượng này đã đem lại một đất nước Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đa dạng, thịng vượng, phong phú . Ưu điểm của việc duy trì, phát huy truyền thống, văn hóa dân tộc đã được tác giả Bonnie Benard ghi nhận qua nhiều công cuộc khảo sát,nghiên cứu như sau, xin trích nguyên văn bằng Anh ngữ:

Cross- cultural communication skills or cultural competence received much research attention over the last decade. For youth of non-dominant cultures, the ability to move back and forth between their primary culture and the dominant culture, or to accommodate the dominant culture without assimilating to it, means learning the “codes of power” while retaining their culture and self-identities. This ability has consistently been identified with school success and positive youth development outcomes. ( Delpit,1995; Eccles & Gootman, 2002; Gibson, 1997 a,b; Luthar & McMahon,1996; Mehan et al, 1994) It has also been found to be related to less substance use among youth (Oetting,1993). Xin lược dịch:

Khả năng biết truyền đạt thông tin giữa các nền văn hóa khác nhau đã nhận được những sự chú ý của nhiều công cuộc nghiên cứu trong thập niên vừa qua.    Theo đó, khả năng mà các trẻ em thuộc về nền văn hóa “ thứ yếu” có thể giao lưu hài hòa với nền văn hóa “chính thống” mà không bị đồng hóa; có nghĩa là các em trong khi tiếp nhận những “quy tắc mạnh mẽ chi phối” mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa và căn cước lý lịch của mình; khả năng này đã được công nhận một cách rõ ràng với sự thành công trong học đường và những kết quả phát triển tích cực khác nơi các thanh thiếu niên . Các em này cũng đã trở nên ít bị nghiện ngập ma túy hơn.

Hy vọng những lời nhận định trên đây sẽ giúp cho các bậc phụ huynh và các nhà giáo dục thiết tha hơn trong việc duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt cho những thế hệ tiếp nối. Chúng ta sẽ cố gắng “gạn đục khơi trong”để gìn giữ và phát huy nền văn hóa ngàn đời cùng với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc . Xin kiên nhẫn và cùng đồng hành với các cháu trong công tác khó khăn này.