Hiểu Sao Cho Đúng Về Cách Dạy Con“Thương cho Roi cho Vọt”?

 

Cô giáo Lan Lê

Trong khi dạy học tôi thường được nghe những lời gửi gấm của một vài phụ huynh Việt Nam:” Cháu có điều gì không nên không phải xin cô cứ cho biết, chúng tôi sẽ sửa dạy cháu ngay.”Nghe vậy tôi phải vội vàng giải thích ngay về chủ trương của các nhà trường tại Mỹ nghiêm cấm không cho xúc phạm đến các trẻ em qua lời nói hay hành động. Tôi cũng cảnh giác họ về việc sửa trị các em tại nhà bằng cách đánh đòn dù rất nhẹ nhưng nếu để lại vết tích nào trên thân thể chúng thì giáo viên bắt buộc phải báo cáo cho cơ quan hữu trách .

Lời dặn dò của các phụ huynh này bắt nguồn từ nguyên tắc giáo dục nghiêm khắc của các dân tộc Đông phương nói chung. “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa”, dạy học là phải nghiêm khắc với học trò vì “Dạy học mà không nghiêm là vì ông thày lười biếng.” Khi nói đến kỷ luật là phải nói đến hình phạt. Trong gia đình, uy quyền của người cha tượng trưng bằng cây roi và của người thày là cây thước kẻ – đôi khi có kèm cả roi mây- Chúng ta những người đã trưởng thành trong xã hội Việt Nam đều ít nhất một lần nếm qua những biện pháp cứng rắn khi bản thân vi phạm kỷ luật.  Nhẹ thì bắt quì gối úp mặt vào tường, rồi đến bị khẻ tay, tát tai. Nặng hơn nữa thì bị quất roi đến nỗi phải mất vài ngày có khi vài tuần vết thương hay vết bầm tím mới lành lặn. Kỷ luật nghiêm khắc nhằm mục đích làm cho đối tượng sợ hãi mà không dám vi phạm .

Ngoài ra còn có những biện pháp nhằm làm nhục người vi phạm bằng cách công khai hóa lỗi lầm. Chúng ta chắc hẳn còn nhớ câu chuyện “Lưu Bình, Dương Lễ” được nhắc nhở để ca tụng tình bằng hữu . Trong đó Dương Lễ cũng đã làm tổn thương lòng tự ái của Lưu Bình bằng cách dọn ra trước công đường cho bạn một mâm cơm hẩm với cà thiu, trước khi ngấm ngầm ra tay dùng vợ để giúp bạn đi đến thành công .

Đã từ lâu câu nói:” Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” được dùng làm phương châm cho nguyên tắc giáo dục tại Việt Nam. Nhưng  khi phương cách này khi bị lạm dụng sẽ đi đến nhục hình, tàn nhẫn để lại vết thương cho thể xác và nhất là sự tổn thương trong tâm hồn người bị sửa phạt .

Ngược lại, trong các xã hội Tây phương đặc biệt là tại Hoa Kỳ  tự do, nhân quyền rất được tôn trọng. Điều này đã làm không ít phụ huynh Việt Nam không thoải mái khi phải áp dụng những biện pháp kỷ luật với con cái. Vậy thì chúng ta thử tìm hiểu xem các nhà giáo dục Mỹ đã nói gì về cách dạy trẻ con. Dĩ nhiên đã có rất nhiều tài liệu của các nhà xã hội học đã để công nghiên cứu sự phát triển của trẻ em qua việc khảo sát các đối tượng kéo dài hàng thập niên. Nội dung bài viết này chỉ nhằm giúp bạn đọc có thêm những hiểu biết về những nhận định của tác giả Barber Baumeister trong quyển  Child Development  xuất bản năm 1996 đồng thời tìm cách đối chiếu với cách dạy con “truyền thống” của cha ông chúng ta và hy vọng tìm ra phương cách dạy con thích hợp hơn.

Trong chương đầu của quyển sách tác giả đã đề cập đến “ Vai trò của những nhu cầu tâm lý và động lực phát triển nội tại” (The role of psychological needs and intrinsic motivation). Từ đó dẫn đến các nhận định về vai trò quan trọng của môi trường sống mà cách hướng dẫn của cha mẹ là nhân tố tích cực, trong đó có đưa ra một số phương pháp dạy con (Parenting styles) sẽ được trích dẫn nguyên văn bằng Anh ngữ, kèm theo đó là phần lược dịch:

“Human beings are intrinsically motivated to meet basic psychological needs, including the needs for belonging and affiliation, a sense of competence, feelings of autonomy, safety, and meaning.( Baumeister & Leary,1995;Deci,1995; Hillman,1996; Richarson,2002; Ryan & Deci,2000; Sander,2000). For young people, whether these needs are allowed to expression in positive, pro-social ways depends to a great extent on people, places, and experiences they encounter in their families, schools, and communities.  It is widely understood that people learn by example.  Therefore, adults who are respectful of children are not just modeling a skill or behavior, they are meeting the emotional needs of those children, thereby helping to create the psychological conditions for children to treat others respectfully.(Kohn, 1997; Watson& Ekens,2003)”

“Con người tự bẩm sinh đã có sẵn những động lực bên trong thúc đẩy để đáp ứng những nhu cầu về tâm lý gồm nhu cầu được thuộc về và được hội nhập, sự nhận thức về năng lực của mình, những cảm nhận về (một cuộc sống) tự lập, an toàn, và có ý nghĩa . Với thanh thiếu niên, những nhu cầu trên có được diễn đạt ra một cách tích cực và có khuynh hướng xã hội hay không tùy thuộc phần lớn vào con người, nơi chốn , và kinh nghiệm các em có được trong khi tiếp xúc với gia đình, học đường, và cộng đồng. Chúng ta ai cũng biết rằng con người được học hỏi qua những mẫu gương trong cuộc sống. Do đó khi người lớn đối xử tôn trọng với trẻ con thì không những họ đã nêu gương sáng về tài năng, đức độ đồng thời họ cũng đáp ứng được nhu cầu về tình cảm cho những đứa trẻ này  bằng cách tạo ra những điều kiện tâm lý giúp chúng biết tôn trọng người khác trong cách đối xử.”

Nhận định trên khiến chúng ta nhớ đến câu”Nhân chi sơ tính bản thiện”, con người sinh ra đã có bản chất hướng thiện và chính môi trường chung quanh đã góp phần thăng hoa hay vùi dập nó. Nói về tầm quan trọng của ảnh hưởng môi trường sống, người Việt chúng ta có câu ” Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, hay “ Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Và hình ảnh con cái chính là tấm gương phản chiếu của cha mẹ được tìm thấy qua câu “Rau nào, sâu nấy” hoặc là “Trông cây, biết quả”.

Đến đây, chúng ta sẽ bước sang chương tiếp theo của quyển sách này với tiểu đề “The Environmental Protective Factors” “Những Yếu Tố của Môi Trường Cung Cấp Sự Che Chở” cho sự phát triển của trẻ em. Vai trò của những yếu tố cung cấp sự che chở đó được tác giả tóm tắt qua mô thức sau đây:

Protective Factors (facilitate) Positive Development (leading to) Successful Outcomes.

Positive development and successful outcomes in any human system depend on the quality of the relationships, beliefs, and opportunities for participation.

Trong bất cứ cá nhân nào sự phát triển tích cực và những thành quả đạt được đều tùy thuộc vào phẩm chất của mối liên hệ, của sự tin tưởng, và cơ hội đươc hội nhập.

Phẩm chất của mối liên hệ giữa cha me và con cái theo tác giả được định nghĩa là một mối quan hệ tận tâm A caring relationship that conveys loving support – the message of being there for a youth, of trust, and of unconditional love – In particular, caring relationship is characterized by a sense of compassion – non judgmental love that looks beneath negative behaviors in search of their causes.”  Mối quan hệ tận tâm bao gồm lòng yêu thương nâng đỡ – sẵn sàng đứng bên con với sự tin tưởng và với một tình yêu vô điều kiện – nói rõ hơn mối quan hệ tận tâm được biểu thị  bởi lòng thương cảm, không phán đoán mà phải tìm hiểu nguyên nhân nào đã dẫn đến những hành động tiêu cực của đứa trẻ. ” In addition, Steinberg and his colleagues (2000, p. 173) found that parental warmth is a general facilitator of mental health, academic competence, and overall psychological functioning.” Bên cạnh đó, Steinberg và đồng nghiệp đã công nhận rằng tình thương nồng ấm của cha mẹ đã tạo điều kiện cho sự phát triển tâm trí, học lực thành công, và ổn định tâm lý.

Yếu tố thứ hai  của môi trường che chở cho con trẻ là sự tin tưởng (beliefs) ở đây được tác giả gọi là “High expectation” tạm dịch là đặt niềm hy vọng, tin tưởng nhiều vào khả năng của con mình . Theo ông thì :” High expectation refers to the guidance and regulatory function that caregivers must provide the youth.  This means creating a sense of structure and safety through rules and disciplinary approaches.” Có nghĩa là khi đặt niềm tin nơi đứa trẻ người săn sóc chúng phải đưa ra sự chỉ dẫn rõ ràng, an toàn qua những luật lệ, biện pháp kỷ luật  nghiêm minh và có thể thi hành được.” Và ông nhấn mạnh rằng :” The adult’s high expectation must base on the strengths, interests, and dreams of the youth- not on what the adults want the youth to do or be.”Người lớn khi đặt sự đòi hỏi, niềm hy vọng  cần phải dựa vào khả năng, lợi ích, sự ưa thích, và mơ ước của chính đứa trẻ hơn là những gì họ muốn nó phải làm hay phải trở nên như vậy”.  Điều này khiến  chúng ta liên tưởng đến việc cha mẹ đặt kỳ vọng quá cao cho con mình hoặc cách giáo dục gò ép bắt con cái phải học theo sự mong muốn của cha mẹ khiến đã xảy ra thảm kịch trong một vài gia đình người Việt. Các em phải nói dối liên tục hay thậm chí giết chết cha mẹ mình khi phẫn chí.

Yếu tố thứ ba mà tác giả đề cập đến là tạo cơ hội cho con được hội nhập ( Opportunities for participation) trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Theo ông khi cha mẹ biết lắng nghe con:” Parents who listen to their children as people deserving respect and attention grant them psychological protection against anxiety, depression, and other forms of internal distress.” Cha mẹ lắng nghe con với sự chú ý và tôn trọng đã ban tặng chúng sự bình ổn tâm lý, tránh được tâm trạng lo âu, chán nản, và những suy trầm khác. Khi cha mẹ biết lắng nghe con là đã đồng thời  tạo cơ hội để nghe chúng tâm sự, được làm bạn với con. Từ đó chúng ta mới có thể chỉ cho chúng biết cách chọn bạn mà chơi, chọn môi trường tốt để tham gia. Ngày nay chúng ta thấy rất nhiều cha mẹ trẻ đã cùng chơi đùa với con, cùng sinh họat chung với con như tham dự cắm trại, tham gia các ngày lễ hội của nhà trường hay của các đoàn thể, tổ chức, tôn giáo.

Các phân tích và nhận định trên đây giải thích phần nào phương cách giáo dục trong những xã hội tôn trọng nhân phẩm con người. Tuy nhiên, nếu áp dụng bất cứ nguyên tắc nào một các quá  máy móc hay quá cực đoan đều dẫn đến hậu quả không tốt nếu không muốn nói là tai hại. Do vậy sự khôn ngoan của chúng ta là biết kết hợp những tinh hoa của đất nước sở tại với những giá trị truyền thống. Chẳng hạn như chúng ta nghe lời dặn dò “Dạy con từ lúc còn thơ” của cha ông, vì nếu không “Uốn tre từ lúc còn non” thì hậu quả sẽ là “Bé không vin, cả gãy cành”. Ngay từ rất sớm  ba yếu tố của “Môi trường cung cấp sự che chở” được hình thành trong gia đình sẽ giúp cho con trẻ phát triển hài hòa đồng thời cũng tạo cho con mình thói quen, nếp sống kỷ luật ngay từ lúc bé. Bên cạnh đó, dạy cho con sống theo ”Nhân , Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” từ bao đời nay vẫn còn có giá trị không hề thay đổi. Chúng ta cũng có thể áp dụng nguyên tắc “Cây gậy và củ cà rốt” của người Mỹ, nghĩa là phần thưởng đi kèm với biện pháp kỷ luật. Tuy nhiên, cây gậy đây không được hiểu theo nghĩa đen mà có thể là cất đi những gì bé ưa thích (favorites) hoặc là những gì bé được hưởng (privileges). Nhưng cũng có những trẻ em bản tính rất khó dạy thì “cây gậy” phải tùy theo cha mẹ định lượng. Miễn sao mục đích của việc sửa phạt là giáo dục chứ không phải là làm cho con sợ hãi hay phê phán , nhục mạ con.

Vậy thì vấn đề của chúng ta là kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa của hai nền văn hóa mà chúng ta đang được thụ hưởng để giáo dục con cái thành công và thành nhân. Bây giờ chúng ta có thể đổi câu “Thương cho roi, cho vọt. Ghét cho ngọt, cho bùi” thành câu ”Ghét con để mặc buông tuồng . Thương con săn sóc, kỷ cương luyện rèn”.