Những Khó Khăn và Thuận Lợi của Trẻ Em Việt Nam và “Công Tác Chuyển Vận Lòng Ái Quốc”

 

Cô giáo Lan Lê

Người Việt Nam là thành phần di dân đến sau so với các đợt di dân của những dân tộc khác. Nhưng chính nhờ vào sự muộn màng này mà chúng ta đã tránh được những kỳ thị về chủng tộc gay gắt và những chính sách di dân khắt khe đã dần dà được sửa đổi nhờ vào những cuộc tranh đấu bất bạo động của các nhà tranh đấu cho nhân quyền và cho quyền lợi của người di dân lao động như Martin Luther King Jr. và Cesar Chavez.

Tuy vậy, không phải chúng ta và nhất là con cháu chúng ta khi hòa đồng vào dòng chính của xã hội Mỹ không gặp những khó khăn. Trên thực tế chúng ta vẫn thấy những khác biệt giữa các sắc dân mặc dù được luật pháp đôi khi vẫn bị khơi dậy như những thách đố trong xã hội này.  Con cháu những người di dân khi vào trường học Mỹ vẫn phải đương đầu với những khó khăn mà tác giả Ned Seelye trong sách “Teaching Culture” đã dành một chương để phân tích cho các thày cô giáo tìm hiểu và hướng dẫn các em học sinh gốc thiểu số thành công trong học đường.

Trước hết, cái khó khăn mà các em học sinh di dân phải vượt qua đó là mặc cảm về “căn cước lý lịch” của mình. Đây là giai đoạn khi các cháu bước vào trường tiểu học. Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh khi trả lời cô sinh viên người Úc gốc Việt Hạo Nhiên “Làm thế nào để giúp các em trẻ cảm thấy hãnh diện là người Việt Nam?” đã đề cập đến việc các con của bà ở giai đoạn tiểu học cũng đã trải nghiệm về sự “khủng hoảng lý lịch” (identity crisis) khi nhân dạng của mình khác với bạn đồng học.  Sự khủng hoảng này theo nhà giáo dục Ned Seelye đã nhận định rằng khi đương đầu với sự khủng hoảng về lý lịch, các em học sinh gốc thiểu số luôn luôn phải trải nghiệm để tự phát triển bản ngã cho riêng mình. Theo đó thường có hai khuynh hướng xảy ra: Nếu sự khủng hoảng này không được cha mẹ hay các thày cô giúp đỡ, hướng dẫn thì: ”Đôi khi sự căng thẳng này sẽ có thể đưa đến việc phát triển theo chiều hướng có hại như tự ty mặc cảm hay nghiện ngập” (Some of the stress may become counterproductive and lead to undesirable behaviors such as low-esteem or drug abuse– p.236-).  Ngược lại, cũng theo tác giả thì:”May thay, hầu hết những thử thách này lại cung cấp một cơ hội – hay hơn nữa là một sự khích lệ- cho những cá nhân có những khám phá tích cực khi tiếp nhận và hài hòa bản ngã của mình khi tiếp xúc với thế giới chung quanh” (Most of stress fortunately, provides an opportunity – even an incentive – for the individuals to make exciting discoveries above the interaction between self and the world beyond.)

Cũng trong chương này thì trong những cách đối phó với sự khác biệt trong một xã hội đa sắc dân tựu trung có năm phương cách tiêu biểu như sau:

  • Adherence to first-culture patterns (bám chặt lấy những sắc thái dân tộc): Ví dụ: Phụ nữ Ấn Độ sang Hoa Kỳ sinh sống lúc nào cũng mặc áo sari.
  • Substitution of second-culture patterns (thay thế bằng sắc thái của nền văn hóa thứ hai): Phụ nữ Ấn này chọn lựa mặc theo y phục Tây phương.
  • Selective addition of second-culture patterns to first-culture patterns (chọn lựa tùy lúc các sắc thái của hai nền văn hóa): cô này mặc áo sari hay y phục Tây phương tùy theo hoàn cảnh và thời điểm.
  • Hybridization or recombination of behavior from first and second cultures

(Kết hợp sắc thái của hai nền văn hóa): cô ta mặc áo sari nhưng đi kèm với giày da, áo khoác.

  • Innovation (sáng tạo): y phục của cô được thiết kế theo mẫu áo sari với hoa văn và những đường nét Tây phương.

Cho dù lựa chọn cách nào đi chăng nữa thì sự thành công là khi cá nhân đó cảm thấy thoải mái và hài lòng với sự chọn lựa của mình như qua câu trả lời của một nữ sinh người Nhật với tác giả :”Tôi sẽ chẳng bao giờ là một người Nhật đúng như ý của bà tôi; cũng như chẳng bao giờ là một người Mỹ đúng như các bạn tôi nên tôi sẽ chỉ phải là chính tôi mà thôi” (I‘ll never be Japanese enough for my grandmother or American enough for my friends, so I‘ll just have to be myself.)

Cô gái Nhật này nói rất đúng cô ta không còn là một người Nhật thuần túy, cũng không thể trở thành một người Mỹ dù có trải qua bao nhiêu cuộc giải phẫu hay lột da mặt như Michael Jackson. Mà cô phải là chính cô, là một người Mỹ gốc Nhật. Cũng vậy, “lý lịch” của con cháu chúng ta bây giờ là ”người Mỹ gốc Việt”. Do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, chúng đã có mặt ở xứ sở này để được thừa hưởng di sản của hai nền văn minh Đông và Tây.  Do đó, giữ gìn và phát huy những gì đã có và tiếp thu chọn lọc những gì đang thừa hưởng là phương thức tốt nhất và cũng là đáp án cho vấn đề “khủng hoảng lý lịch”.

Ngoài ra, trong một cuộc khảo cứu khác hai tác giả Seelye và Wasilewski (1981) khám phá ra rằng trong độ tuổi bắt đầu đến trường thì: “Điều quan trọng nhất cho sự thành công trong trường học là khi con trẻ có bạn chơi trong những ngày đầu niên học. Hơn thế nữa, sự thành công trong những lãnh vực khác còn được tìm thấy khi chúng tìm được sự thân thiết với một người mà chúng có thể nói bất cứ chuyện gì liên quan đến chính mình.” (It was discovered that one of the most important correlates of success in school was whether they made friends the first day of school.  Furthermore, success in the other domains was related to whether they had a close confidant with whom they could talk everything about themselves.)   Vì thế các lớp chuẩn bị cho tuổi bắt đầu đi học như Preschool hay Transitional Kindergarten kiến tạo một môi trường rất tốt cho các cháu bé chuẩn bị bước vào môi trường mới, khác với không khí gia đình để phát triển sự cởi mở, hoạt bát, giúp các cháu biết làm quen (socialize) với các bạn và thày cô giáo để khỏi bị bỡ ngỡ, nhút nhát, rụt rè làm cản trở không ít cho tiến trình học tập. Khi các cháu cảm thấy có được sự thân thiện với thày cô và tiếp cận thoải mái với bạn bè, đó chính là bước đầu của sự tự tin (self-esteem).

Để kiến tạo một môi trường hài hòa trong các học sinh đa văn hóa, tác giả Steelye đề nghị:” Sự tự tin của các em học sinh có hai nền văn hóa khác nhau được phát huy khi các thày cô, ban điều hành, và bạn bè của nền văn hóa lớn am hiểu tường tận về ngôn ngữ và phong tục, tập quán của mình.  Nhất là khi có sự hiện diện của các nhân viên thông thạo ngôn ngữ, văn hóa và trưng bày các hình ảnh tiêu biểu cho sắc dân thiểu số này.” (The self-esteem of bicultural students is enhanced by the presence of teachers, administrators, and peers of the mainstream culture who are fluent in the language and customs of the minority ethnic group.  It is also positively affected by the presence of adult bilingual-bicultural models from the minority culture as well. P. 356)

Điều rất thuận lợi cho chúng ta ngày nay là ngày càng có sự tham gia đông đảo của người Việt vào mọi lãnh vực khác nhau trong xã hội Hoa Kỳ. Trong lãnh vực giáo dục ngày càng có đông đảo đội ngũ thày cô và nhân viên Việt Nam.  Phụ huynh ngày nay có quyền yêu cầu được sự trợ giúp của các thông dịch viên khi có trở ngại về ngôn ngữ trong các buổi gặp gỡ trong trường học.  Hơn thế nữa, hai nhà giáo dục Mỹ Erickson và Bekker (1999) nhận định rằng:” Chúng tôi tin rằng sự khác biệt về văn hóa đã không còn là một trở ngại cho việc tham gia học tập tại trường. Thật ra, nó còn có thể được xem như thuận lợi hơn là trở ngại.” (We believe that cultural differences per se do not necessary create barriers to school participation and learning. In fact, it is certainly possible to view cultural differences as assets rather than as liabilities.)

Nhận định trên cho ta thấy việc cần thiết phải duy trì văn hóa, tiếng nói và chữ viết cho trẻ em Việt Nam tại Mỹ. Chúng tôi đọc được trên mạng bài viết của tác giả Võ thị Trúc Giang với tựa đề “Công Tác Chuyển Vận Lòng Ái Quốc”. Câu chuyện về một người mẹ dạy con nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của Tập Cận Bình. Khi cô con gái lo lắng hỏi mẹ cần phải làm gì và phải bắt đầu từ đâu để thực hiên hoài bão chuyển vận lòng ái quốc cho các thế hệ sau. Bà mẹ nhìn con bình thản nói:” Chỉ cần các con truyền lại cho con mình tiếng mẹ đẻ và dạy cho con lịch sử nước nhà. Có hiểu tiếng Việt, hiểu sử Việt thì tự nhiên nảy sinh lòng ái quốc.”

Người xưa có câu ”Vô tri bất mộ” nghĩa là nếu không hiểu thì không thể cảm mến được. Đúng vậy, có hiểu tiếng Việt và đọc sử Việt thì các cháu mới biết tự hào về nguồn gốc Tiên Rồng của dân tộc, về nền văn minh trống đồng của người Lạc Việt.( Xin vào link “Bài Học Trống Đồng Ngọc Lũ” http://danhgiactau.com/index.php/vi/tc/107-1300/203-1308-3104-mat-trong-ngoc-lu-ket-tinh-niem-tin-va-nep-song-viet-1 ) Tự hào về hai nữ tướng Trưng Trắc, Trưng Nhị từ năm 40 thế kỷ thứ nhất đã lên ngôi vua do công cuộc khôi phục đất nước từ tay giặc Tàu chứ không do kế vị ngai vàng mà có được. Tự hào về hình thức dân chủ đã có từ rất sớm tại nước ta qua Hội Nghị Diên Hồng để toàn dân một lòng ba lần đánh tan đạo quân Mông Cổ đã từng được nổi tiếng là”bách chiến, bách thắng” vào năm 1288. (Xin đọc bài “Chữ ‘Việt‘ của Đức Thánh Trần” do Luật sư Nguyễn công Bình biên soạn trong website vnn360.com.)

Hiểu biết tiếng Việt còn giúp cho chúng ta biết trân trọng và gìn giữ những truyền thống lễ giáo tốt đẹp. Chúng ta có luật đi đường để bảo vệ sinh mạng con người được an toàn khi đi lại trên đường và khi ta có được tấm bản đồ hay GPS càng chính xác thì càng giúp chúng ta tìm đường và điểm đến dễ dàng hơn.  Cũng vậy, những truyền thống tốt đẹp, những lễ giáo chân chính đề cao những giá trị đạo đức, những phẩm chất cao đẹp giữ vai trò như những bộ luật đi đường, những GPS cho những mối giao hòa giữa tình người với nhau và cũng là để giữ gìn sự trong sáng cho tâm hồn của chính chúng ta và con cháu chúng ta.

Sống trên đất nước Hoa Kỳ, người Việt đã nhanh chóng hội nhập vào dòng chính  với những đóng góp rất đáng tự hào. Đồng thời chúng ta cùng đã tạo dựng các hình thái của quê hương mình từ văn hóa ẩm thực, các lễ hội, các khu thương mại sầm uất, các sinh hoạt văn nghệ, sách vở báo chí, truyền thanh, truyền hình làm cho chúng ta cảm thấy được bao bọc bởi một bầu khí Việt Nam thân thương.  Nhưng rồi đây những “chất Việt” đó sẽ còn nữa không nếu không được duy trì và phát triển cho các thế hệ tiếp nối? Ca nhạc, văn nghệ, báo chí, truyền thanh, truyền hình rồi đây sẽ không còn thính giả, độc giả khi con cháu chúng ta mất dần khả năng nghe, nói và đọc tiếng Việt.

Hiện nay việc giảng dạy Việt ngữ đang phát triển mạnh mẽ nhất là tại tiểu bang California. Nhớ lại thời gian đầu của thập niên 90 tại San Jose chúng tôi khi dạy Việt ngữ đã xử dụng các sách giáo khoa in hai màu đen trắng được biên soạn bởi các thày cô giáo tại các học khu, các trường đại học, các trung tâm Việt ngữ, và các giáo xứ Việt Nam. Đến nay chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều bộ sách Việt ngữ với hình ảnh minh họa đầy màu sắc đẹp đẽ lại được biên soạn công phu bởi các giáo sư, chuyên gia về giáo dục.

Tuy nhiên xin lưu ý các vị có trách nhiệm trong việc giảng dạy Việt ngữ, nhất là các phụ huynh cần phải kiểm soát các sách vở, tài liệu tiếng Việt.  Nếu phát hiện những sai trái phải mạnh dạn đề nghị thay đổi như nghị viên Tạ Đức Trí đã từng đòi hỏi.  Chúng ta phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt và tính chân thật của lịch sử.  Ở hải ngoại quyền tự do có thể bị lợi dụng để đưa vào các loại sách vở tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Ở trong nước sự dối trá đã tạo nên một nền giáo dục mà người trẻ Thành Lê đã mạnh dạn đòi hỏi phải thay đổi cấp bách và tận gốc rễ (Xin vào link “Giáo Dục tại Việt Nam”) https://m.youtube.com/watch?v=heaE_ne4Qf8

 

Dân tộc Việt Nam rất may mắn có được chữ Quốc ngữ để diễn đạt trọn vẹn ngôn ngữ Việt rất phong phú, giàu về thanh âm với năm dấu giọng, với cách dùng các đại danh từ, động từ, tính từ và trạng từ; đẹp về chất thơ và cách diễn tả vô cùng gợi hình, gợi cảm

Thiên tài Nguyễn Du đã vận dụng tính phong phú này vào văn chương để để lại cho hậu thế tuyệt phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” (Xin vào link Truyện Kiều). http://thienmusic.free.fr/Australie%20-%20SBTN%20-%202013.htm

Hãy nghe Nguyễn Du vận ngữ để thấm thía nỗi đau khổ, hãi hùng khi tương lai chỉ còn là một cánh hoa sẽ bị vùi dập tả tơi của Thúy Kiều khi bị giam giữ tại lầu Ngưng Bích:

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu.

Buồn trông ngọn cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt nước một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt gềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

 

Thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đã dùng từ rất đẹp để diễn tả màu xanh ngọc thạch mượt mà của thôn Vỹ Dạ:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

 

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã vẽ tranh “Mưa Hồng” tuyệt đẹp của hai hàng phượng vĩ:

“Đường phượng bay không lối vào,

Hàng cây lá xanh gần với nhau.”

 

Tính chất phong phú của tiếng Việt còn được thể hiện qua nền văn học dân gian với các câu hò, điệu hát đậm tình dân tộc; các câu ca dao, tục ngữ chứa đựng những bài học về cách xử thế rất thực tế mà cũng rất thâm thúy. Di sản văn chương, thi ca, âm nhạc phong phú, đẹp đẽ của dân tộc rồi ra sẽ còn có ai thưởng thức? Lịch sử hào hùng, và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc rồi ra còn có ai trân trọng, gìn giữ?

Mỗi phụ huynh xin hãy làm “Công tác chuyển vận lòng ái quốc”.  Xin hãy tin rằng “nước chảy đá mòn”, hãy kiên trì bằng những lời lẽ nhẹ nhàng nhưng đầy tâm huyết lâu dần sẽ thấm vào lòng con trẻ, nhất là khi các cháu đã trưởng thành sẽ có khuynh hướng tìm về nguồn cội. Thật vậy, “cây có cội, nước có nguồn”. Thân cây có được gốc rễ bám càng sâu vào mảnh đất phì nhiêu thì càng đâm chồi nẩy lộc. Giòng sông sẽ chảy xiết để hòa mình vào đại dương khi thượng nguồn tiếp tục tuôn đổ lưu lượng mạnh mẽ.

Sau 40 rời bỏ quê hương ký ức chúng ta vẫn còn đầy ắp kỷ niệm, di sản văn hóa vẫn còn trong con tim và khối óc của mỗi người. Đừng để cho con cháu chúng ta khi tìm về cội nguồn chúng sẽ phải vất vả như nhà văn người Mỹ gốc Phi Châu Alex Haley, tác giả quyển sách “Roots: The Saga of an American Family”. Ông đã phải bỏ ra nhiều năm ròng rã trở về lục địa Phi Châu để truy tìm nguồn gốc của mình bắt đầu từ đời ông cố của ông bị bắt làm nô lệ từ 1765. Với thành tâm và thiện chí chúng ta phải thực hiện, phát triển ngay việc dạy học, nói tiếng Việt để giúp con cháu chúng ta tìm hiểu những khó khăn để khắc phục và phát huy những thuận lợi để rồi đây lịch sử chân thật, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam còn được mãi mãi lưu truyền cho các thế hệ mai sau.

Lịch sử ngày xưa kể chuyện nàng Mỵ Châu hiền lành, ngây thơ để mất nỏ thần vào tay gian tặc Trọng Thủy. Còn An Dương Vương Thục Phán thì thiếu cảnh giác để đến bước đường cùng khi thần Kim Quy hiện ra chỉ cho nhà vua thấy:” Giặc ở sau lưng vua kìa!” thì chỉ còn có nước giết con gái rồi tự giết mình. Ngày nay lịch sử đang tái diễn khi miền nam Việt Nam đã bị Trọng Thủy đột nhập. Để đến nông nỗi bây giờ “Nước sắp sửa mất và nhà cũng đang bị phá tan tành“. Con cháu An Dương Vương chạy ra biển, một nửa bị bỏ xác trên biển cả, một nửa chạy thoát để làm lại cuộc đời ở các quê hương thứ hai.  “Giặc” không chỉ ở sau lưng mà đang ở trước mặt chúng ta. “Hồn Việt” mà chúng ta mang theo phải chăng sẽ là “Nỏ Thần” để giúp chuyển vận lòng yêu nước?

Dân tộc Do Thái dù bị lưu đày hàng ngàn năm đã trở về xây dựng lại đất nước trên mảnh đất sa mạc khô cằn nhờ vào truyền thống gìn giữ văn hóa dân tộc mãnh liệt, ôm ấp các lề luật của Đạo Do Thái bất di bất dịch. Chúng ta trước hiểm họa Hán hóa, trước một đất nước Việt Nam suy đồi, tang thương về mọi mặt chắc hẳn phải là những người Do Thái để khỏi phải đau lòng khi sẽ chứng kiến từng người dân trong nước tự thiêu trong tuyệt vọng như hoàn cảnh của những người dân Tây Tạng bây giờ.