THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 5)

Tôi gánh đôi thùng không lên vai, bước chưa ra khỏi cửa ngõ bỗng nghe tiếng la hét khác thường của một người nào đó. Ngạc nhiên, tôi dừng lại lắng nghe. Tiếng la hét vang lên đều đều theo một nhịp điệu hẳn hòi. Đó là giọng khàn đục khó phân biệt của đàn ông hay đàn bà. Âm thanh mỗi lúc một rõ hơn chứng tỏ người la hét đang tiến về phía tôi. Dần dần tôi nghe rõ lập đi lập lại vỏn vẹn chỉ có năm tiếng: “Thu mua là thua mu! Thu mua là thua mu! Thu mua…”. Tôi bước ra đường, hướng mắt về phía có tiếng la hét. Trước mắt tôi là một người đàn bà dáng điệu ngúng nguẩy trông như người đang múa. Tôi không hiểu ất giáp gì, vội bước lùi vào cửa ngõ để tránh.

Người đàn bà đã đến gần. Thân xác bà ta gầy teo, áo quần rách rưới, đầu trần chân đất lem luốc bù xù trông rất dễ sợ. Đôi chân bà ta đi ngoằn ngoèo nhưng thoăn thoắt trong khi đôi tay bà múa men liên tục. Chốc chốc bà lại đấm ngực, vỗ đùi như ấm ức điều gì. Vài lúc bà ta lại vỗ bôm bốp cả hai tay vào háng mình như khoe khoang, thách thức. Miệng bà ta vẫn la hét đều nhịp “Thu mua là thua mu! Thu mua là thua mu!…”. Khi đi ngang trước ngõ nhà tôi, bà ta quay nhìn tôi một cái với ánh mắt giận dữ, man dại khiến tôi phải rùng mình. Nhưng rồi bà ta lại hướng về phía trước tiếp tục đi…

Hình như trong ánh mắt dữ tợn của người đàn bà này tôi thấy có chút gì quen quen. Chắc bà ta là người trong làng. Có thể tôi đã gặp bà ta ở đâu rồi! Tôi đứng lại nhìn theo bóng dáng người đàn bà đang xa dần. Khi bà ta đã khuất hẳn tôi vẫn còn thẫn thờ suy nghĩ. Tôi cố nặn óc mình một hồi để nhớ xem người đó là ai? Nhưng cuối cùng tôi đành chịu thua!

Khi tôi gánh nước đã đầy đủ thì bà Nhiêu ở cùng xóm sang thăm. Vừa bước vào nhà bà ta giở ngay cái lồng bàn đậy mấy tô cháo bí để giữa bàn ra rồi quở:

– Dân đi Sài Gòn về cũng ăn bí ngô à?

Bà nội nói đỡ:

– Tôi mua lúa điều hòa chưa kịp, tụi nó về bất ngờ quá… Mà mẹ con nó ở Đà Lạt chứ đâu có ở Sài Gòn.

Bà Nhiêu ra vẻ ân cần hỏi tôi:

– Thế bây giờ chú Thành ở đâu? Sao cô không ở Đà Lạt nữa mà lại về đây? Trong đó làm ăn không được à?

– Anh Thành hiện giờ ở đâu thiệt tình cháu cũng chẳng biết. Cháu ở Đà Lạt cũng sống được lắm, nhưng mẹ cháu cứ kêu về cháu biết làm sao?

Bà Nhiêu quay lại hỏi bà nội:

– Sao chị không để mẹ con cô Ngọc ở luôn trong ấy làm ăn có phải hay hơn không?

Bà nội chống chế:

– Thím thử nghĩ, nếu tôi ở nhà một mình mãi lỡ nửa đêm nửa hôm có chuyện chi bất thường tôi biết nhờ ai?

– Chị nói vậy chứ ở đâu chẳng có xóm có làng! Bộ người ta để chị chết sao?

Bà Nhiêu lại quay sang tôi:

– Thế cô có để dành được ít nhiều vốn liếng chi để làm ăn không? Nói vậy chứ thời trước làm quan làm quyền chắc gom bó cũng nhiều, đâu đến nỗi phải không cô Ngọc?

Bực mình trước cái giọng khích bác, tò mò của bà Nhiêu, tôi trả lời nhát gừng:

– Nếu có chút tiền cháu đã đi tìm chồng cháu rồi!

Như chẳng để ý đến lời tôi, bà Nhiêu hỏi tiếp:

– Thế bây giờ cô có định đi đâu để sống nữa không?

– Cháu đã về đây thì sống ở đây chứ còn đi đâu nữa!

Trong khi bà Nhiêu hỏi chuyện, bà nội cứ đưa mắt nhìn tôi nháy nháy. Tôi hiểu ngay bà nội dặn tôi phải dè chừng. Bà Nhiêu lại tiếp tục:

– Cũng được thôi. Tôi khuyên cô nên lo làm ăn cho thật tốt rồi chúng tôi sẽ vận động hội phụ nữ Thiện Trường làm tờ thỉnh nguyện xin chính phủ sớm tha chú Thành về nếu như chú ấy đang học tập cải tạo.

Chồng tôi đã bị cụt cả hai chân mà cách mạng vẫn bắt đi học tập cải tạo sao? Tôi hơi giật mình. Ừ, biết đâu anh ấy chẳng bị cầm giữ? Có lẽ bà Nhiêu đang giữ một chức vụ gì đó nên mới ăn nói lớn lối như thế – tôi nghĩ. Cũng được. Bà nói gì mặc bà, tôi cứ vâng vâng dạ dạ chứ không có ý kiến. Chuyện vãn một hồi, sực nhớ tới người đàn bà gặp hồi nãy, tôi hỏi:

– Hồi nãy đi gánh nước con gặp một người đàn bà điên, thấy nét mặt quen quen mà con không nhớ ra là ai. Mẹ với thím Nhiêu có biết bà đó không?

Bà Nhiêu nói với giọng thản nhiên:

– Cái con mẹ cứ la hét “thu mua là thua mu” đó phải không?

– Dạ, đúng rồi thím!

– Thế thì con mẹ Hào thợ mộc chứ ai! Cô Ngọc không nhớ à?

Tôi ngạc nhiên hết sức, kêu lên:

– Trời ơi, thím Hào thợ mộc sao đến nỗi ra thân như thế? Thế chú thợ Hào sao không lo chạy chữa cho thím ấy?

Bà Nhiêu nói tỉnh bơ:

– Thằng cha Hào chống lại lệnh cách mạng nên người ta đưa vô trại cải tạo rồi, đâu còn ở ngoài nữa mà lo cho con mẹ đó!

– Chú thợ Hào cũng phản động hả thím Nhiêu?

– Không phản động mà cũng như phản động! Chính quyền đã ra lệnh ai có vàng bạc phải khai báo, có trữ lúa chỉ được quyền trữ vừa đủ ăn, thừa ra phải để nhà nước thu mua. Vợ chồng thằng cha thợ Hào ỷ giàu sắm vàng cả hũ, mua lúa trữ cả hầm trong khi nhân dân đang thiếu thốn, ác ôn chưa? Nhưng vợ chồng thằng chả làm sao qua mặt nhân dân được? Cách mạng đã khám phá ra và tịch thu hết sạch. Thằng chả lại ỷ miệng mồm lý lẽ cãi lại cán bộ nên người ta phải bắt đi cải tạo. Con mẹ ấy tiếc của nên giả điên giả khùng như vậy thôi chứ gì. Có ngày người ta cũng đưa con mẹ đó vào trại cải tạo cho coi! Thật thà như tôi với chị Thắng đây – bà Nhiêu chỉ vào bà nội – thì ai làm gì được?

Hèn gì! Thì ra vậy! Hình ảnh chú thím thợ Hào chợt hiện về trong trí tôi. Trong xã Thiện Trường cũng có năm bảy người làm thợ mộc nhưng chú thợ Hào nổi tiếng khéo tay bậc nhất. Chú làm ăn phát đạt nên có dựng được một rạp mộc ngay bên ngôi nhà chú ở. Thiên hạ ai cũng cho là chú Hào mát tay, chỗ nào cất nhà người ta cũng muốn nhờ chú đến “phở mộc”. (Có nơi gọi là “động mộc”, một động tác tượng trưng như đẻo vài nhát gỗ đầu tiên ở đòn dông đúng vào giờ tốt đã được thầy phong thủy chọn để khởi công dựng nhà). Người ta tin rằng nếu được người thợ mát tay “phở mộc”, ngôi nhà đó ở sẽ không gặp rắc rối, gia chủ sẽ làm ăn phát đạt… Nhờ được người ta tin tưởng như vậy nên việc làm ăn của chú Hào cứ mỗi ngày một khá thêm. Bình thường thím thợ Hào chỉ biết lo công việc nội trợ. Tánh tình thím hiền lành, luôn tử tế vui vẻ với mọi người nên xóm làng ai cũng mến. Không ngờ qua cuộc đổi đời chú thím ấy lại trở thành nạn nhân của chế độ mới! Trước kia thím đẹp đẽ, thùy mị, bây giờ thím gầy ốm tong teo như vậy tôi làm sao nhìn ra được? Tôi tò mò muốn biết rõ thêm về cái tai vạ của chú thím ấy nên hỏi:

– Chú thím thợ Hào ấy gian dối ra sao thím Nhiêu?

– Vợ chồng nó hồi trước làm ra tiền như nước, mua vàng đựng cả hũ. Tới khi cách mạng vào, vợ chồng nó lại cả gan mua hàng tạ lúa đào hầm ngay dưới rạp mộc để giấu! Nhưng thiên bất dung gian, đoàn cán bộ đi xăm hầm thấy chỗ nào khả nghi người ta chú ý liền, dẫu bí mật thế nào người ta cũng phát hiện ra. Hũ vàng thì nó chôn dưới một gốc mít cạnh nhà. Nó che dấu tích bằng cách rải lên một ít mạt cưa, một ít lá khô nhưng làm sao che mắt cách mạng được? Của không đăng ký là của lậu, nhà nước tịch thu là phải rồi, oan ức nỗi gì! Thế mà thằng chả ngoan cố cãi bướng với nhà chức trách của đó là do mồ hôi nước mắt của nó làm ra! Cuối cùng nó phải đi cải tạo thôi!

Kể đến đây bà Nhiêu cười hăng hắc ra vẻ thỏa mãn lắm. Sau đó bà lại nhìn tôi một hồi rồi nói với giọng có vẻ chế nhạo:

– Sắp đến cô Ngọc định đi dạy học lại hay làm công việc gì khác? Chứ chẳng lẽ một người trí thức đẹp đẽ như cô lại đi làm hợp tác xã chân lấm tay bùn như tụi tôi?

Lối nói châm chọc ấy làm tôi bực mình thêm nhưng tôi vẫn gắng nhã nhặn trả lời:

– Cháu nghỉ đã lâu rồi ai mà cho dạy nữa. Bây giờ đã về đây hợp tác xã cho làm việc gì cháu làm việc nấy thôi!

Lúc đó mấy đứa nhỏ con tôi đã thức dậy. Có đứa kêu đói đòi ăn. Tôi chỉ mấy tô bí ngô cho chúng. Bà Nhiêu cười xen vào:

– Tụi nhỏ ăn cao lương mỹ vị quen miệng chắc nuốt cháo bí không vô?

Nghe cái giọng đâm hông đó tôi lại càng bực mình thêm:

– Có gì đâu mà cao lương mỹ vị thím?

Bà Nhiêu cười khảy:

– Thì lương hai vợ chồng bạc bó không lẽ để con cái ăn dưa ăn mắm?

Tôi đã quá chán nói chuyện với bà ta nên quay sang nói với mấy đứa con:

– Tụi con ăn tạm cháo bí đi đã! Mẹ ra chợ một lát sẽ về ngay…

Rồi tôi quay lại bà Nhiêu:

– Thím ngồi chơi với mẹ cháu một lát nhé, cháu phải ra chợ một chút vì hồi hôm về trong nhà không còn gì hết.

*

Khi tôi đi chợ về thì bà Nhiêu đã đi mất. Bà nội giúp tôi soạn đồ ra rồi hai mẹ con cùng lo chuyện cơm nước.

Khi cả nhà ngồi ăn, bà nội dặn nhỏ tôi:

– Khi con đi, có mụ Tẩn ngồi đây nên mẹ không tiện dặn. Từ nay mỗi lần đi chợ con nhớ phải mua thêm một ít thức ăn độn như khoai, sắn. Tốt nhất là sắn khô vì mình có thể để dành lâu được. Nếu con thèm thịt muốn mua ăn, mang về nhà cũng phải kín kín đáo một tí. Mụ Tẩn qua nhà mình hồi sáng đó không phải có ý tốt mô! Mụ ta muốn kiểm soát xem mình ăn cái chi đó! Ngày ngày rảnh rỗi mụ cứ chạy xợt xợt nhà ni qua nhà khác để tìm hiểu rồi tới một buổi họp mô đó lại đưa ra phê bình kiểm thảo chứ không phải đi chơi không mô!

Nghe bà nội gọi “mụ Tẩn” tôi hơi lạ tai bèn hỏi:

– Mụ Tẩn là thím Nhiêu đó hả mẹ? Cái tên này sao con chưa nghe tới bao giờ?

Bà nội hạ giọng:

– Từ ngày cách mạng vô, cặp vợ chồng nớ lên mặt lắm, người trong xã mình ai cũng né hết. Người ta ghét mặt vợ chồng lão nên cứ gọi là lão Tẩn, mụ Tẩn. Mẹ cũng không hiểu cái tên Tẩn ấy có ý nghĩa chi nhưng chắc là không được hay. Thật ra người ta cũng chỉ gọi lúc hai vợ chồng họ vắng mặt. Có lẽ vợ chồng mụ cũng không thích chi cái tên đó.

– Thím Nhiêu đi dò la hàng xóm ăn gì để phê bình chỉ trích thật hả mẹ? Làm gì mà quá đáng như thế?

– Răng không thật được! Ở xóm ni rất nhiều người bị phê bình nào là không chịu ăn độn, nào là thường xuyên ăn cá ăn thịt… Nhà mụ ta theo cách mạng cả nhà lâu nay mình mô có biết! Lão Tẩn hiện chừ là an ninh thôn đó, con phải coi chừng.

Hóa ra cách mạng muốn kiểm soát luôn cả việc ăn uống của người dân! Lời bà nội dặn tôi khi đi chợ phải mua một ít thức độn mới nghe qua cũng tức cười, nhưng nghĩ lại cũng có lý lắm chứ! Bây giờ một mình tôi đi làm để nuôi một lũ con như thế sợ ăn độn cũng không đủ nữa, mong gì đến chuyện cơm trắng cá tươi? Với tôi, chuyện đó chẳng phiền hà chi cả! Tôi chỉ thắc mắc về hành động của vợ chồng ông Nhiêu:

– Con không hiểu sao chú thím ấy lại ưa làm mất lòng thiên hạ như vậy?

– Chi mà không hiểu? Lập công! Mần cho người ta nể oai! Chừ thì vợ chồng họ còn sợ ai nữa!

– Con cũng không ngờ. Ngày trước chú thím ấy trông hiền như cục đất!

– Con mới về mần dâu trong làng không biết chứ ngồi đó mà hiền như cục đất! Lúc còn trẻ lão Tẩn đã từng chỉ điểm cho cách mạng giết không biết bao nhiêu người rồi. Hồi đó làng mình có một người đàn bà giàu có, ăn học khá nên nói được tiếng Tây. Mỗi lần lính Tây đi lùng bắt bớ người trong làng, bà hay tiếp xúc với bọn chỉ huy của chúng để xin tha cho họ. Chỉ có rứa thôi, nhưng cách mạng kết tội bà ta là Việt gian, phải xử tử. Khi bà ta bị giết rồi, lão Tẩn lấy dây thừng buộc cổ bà vào một chiếc đò rồi cho kéo mấy vòng trên các sông hói để cảnh cáo dân làng. Bà ta có mấy cái răng bịt vàng lão Tẩn cũng dùng kềm bẻ ra lấy hết. Về sau dù bên quốc gia đã vãn hồi trật tự nhưng người trong làng vẫn sợ trả thù nên chẳng có ai dám tố cáo lão. Kể ra dưới thời quốc gia vợ chồng lão cũng chịu khó cúi đầu mần ăn thiệt. Ai cũng tưởng lão đã hối hận chuyện cũ, nào ngờ cách mạng vừa vô là lão lập tức ngoi đầu lên mần mưa mần gió. Chính lão và lũ con cháu lão đã dắt cán bộ đi xoi hầm từng nhà để tìm chỗ người ta giấu lúa, giấu vàng chứ ai! Con mẹ thợ Hào dở chết dở sống như thế cũng vì con cháu của lão chứ ai! Lão độc như con rắn mai gầm, con phải coi chừng mới được!

Tôi lắc đầu thở dài:

– Thế mà hồi nãy bà Nhiêu khuyên con cứ làm việc cho tốt bà sẽ vận động hội phụ nữ làm thỉnh nguyện thư xin chính phủ tha chồng con về!

– Phớt phớt lỗ miệng! Nói rứa chứ cả nhà mụ mong tụi bây đi khỏi xã lắm đó!

Tôi hơi tức cười:

– Họ mong mình đi thì lợi gì cho họ?

– Cái nhà chứ chi nữa? Bán có người mua liền!

– Thì ra thế. Hèn gì chị Lâm đã nói tới hồi hôm. Bây giờ tụi con về đây chắc họ không vui?

– Tống được người mô đi hay người nấy chứ răng! Con mẹ Hiền nhà cửa vững vàng như vậy mà người ta cũng khuyên đi vùng kinh tế mới nữa là!

Tôi sực nhớ tới gia đình chị Hiền, chỉ cách nhà tôi một hàng rào mà từ hôm tới giờ không thấy động tịnh chi cả. Tôi hỏi:

– Mẹ này, anh Hành chị Hiền đi đâu hết không thấy ai bên nhà cả?

– Thằng Hành mô còn nữa! Nó chết trong dạo di tản vô Đà Nẵng rồi. Còn con mẹ Hiền chừ đang đi mần với hợp tác xã. Vừa rồi con nó đau phải chở lên nằm nhà thương. Hôm qua nghe nói nó xin nghỉ để đi thăm con không biết đã về chưa.

– Tội nghiệp chưa! Hóa ra chị Hiền đã thành góa bụa! Thế con chị ấy đứa nào bị đau gì mà phải đi nằm nhà thương?

– Thằng Tương con thứ hai của nó đó. Thầy giáo cắt nó đi làm “kế hoạch nhỏ” chỗ mô đó đạp nhằm thép gai nên bị nhiễm trùng, cái chân sưng vù lên không đi được. Nghe nói có thể bị cưa như chơi.

– Khổ chưa! Nhưng làm kế hoạch nhỏ là làm việc gì mẹ biết không?

– Con có đi dạy học còn không biết tao mần răng biết được?

Gần trưa, tôi nấu một nồi chè đậu xanh vỏ cho cả nhà ăn thay cơm luôn. Ăn xong, tôi mời bà nội lại xem mớ áo quần cô Hậu đã cho mấy mẹ con tôi. Tôi mở va li, lấy ra từng chiếc để khoe với bà nội. Thấy phần nhiều là loại hàng đắt tiền thường dùng ở xứ lạnh, bà nội cứ than thở về sự hao tốn của cô Hậu. Nãy giờ con Hoa ngã ngớn chưa chịu ăn, lúc ấy nó đang bưng tô chè cũng sấn lại xem. Bất ngờ nó sảy tay làm tô chè rớt đổ cả vào va li quần áo. Tôi nổi giận thét:

– Thế là bày việc thêm cho mẹ rồi!

Bé Hoa sợ hãi bỏ đi chỗ khác. Tôi phải vất vả gần hai tiếng đồng hồ để giặt mớ áo quần bị dơ. Sau đó tôi phải giăng thêm mấy sợi dây trong vườn mới đủ chỗ để phơi.

*

Đến tối chị Hiền mới sang chơi. Vừa thấy mặt tôi chị nói liền:

– Chị Diệu Ngọc thấy khổ không? Cách nhau chỉ một bước chân, biết chị về hồi hôm mà đến giờ này tôi mới sang thăm chị được! Công việc cứ túi bụi con mắt, chị đừng trách nghe. Hôm qua tôi mới lên nhà thương đem thằng Tương về. Còn may, bị kẽm gai xước chút nữa mà cưa chân…

Tôi sực nhớ ra điều thắc mắc của mình, liền tiếp lời:

– À, tôi có nghe mẹ tôi nói rồi. Cháu không việc gì cũng mừng cho chị. Có điều tôi không hiểu, thầy giáo cắt cháu đi làm kế hoạch nhỏ là làm việc gì vậy?

Chị Hiền thiểu não cười:

– Chị nghỉ dạy học rồi không biết cũng phải. Cái đó người ta mới bày đặt ra. Họ bảo là tập cho học trò lao động. Nào cho học trò đi nhặt bao nylon, lượm chai lon, lượm sắt vụn… Nào cho đi mót lúa, mót khoai sắn… Đứa nào làm tốt được điểm cao, được biểu dương “anh hùng lao động”. Đồ thu hoạch được dồn lại bán gây quỹ cho trường. Nhiều khi thấy tụi nhỏ giành giựt nhau vài cái bịch nylon ở bãi rác mà tội nghiệp! Chúng bị đạp mảnh chai, kẽm gai, sướt vai, rách áo thiếu gì! Thằng Tương cũng vì thế làm tôi tốn hết một mớ tiền đó.

– À, kế hoạch nhỏ là vậy! Thế chị Hiền bây giờ đang làm việc gì?

– Ở đây thì làm ruộng làm rẫy với tập đoàn chứ làm gì nữa chị!

– Làm việc có dễ chịu không?

– Tôi bết lắm chị ơi. Nhưng mình còn biết làm chi hơn!

– Tôi muốn hỏi mình làm có đủ ăn không ấy mà!

– Đủ ăn chi nổi!

– Hằng ngày người ta giao cho mình làm những việc gì?

– Bây giờ đang đi gặt! Thường thì ban đất, nhổ mạ, cấy lúa, đạp nước vào ruộng, vớt rong cho cá ăn, lên luống khoai lang… Người ta làm việc gì thì mình làm việc nấy thôi. Chỉ khác cái là người ta có sức khỏe lại quen việc, còn tôi quá chậm chạp bị người ta nạt nộ, xỉa xói coi không ra gì cả. Khổ nhất là nhiều đêm họp hành người ta cứ phê bình kiểm thảo mình nghe nhức đầu lắm.

– Chị làm không đủ ăn chắc tôi cũng vậy quá?

– Những người làm thiệt giỏi may ra. Cỡ như tôi nói thiệt làm không đủ húp cháo. Khổ nỗi mình đâu còn con đường nào khác!

– Chị nói làm không đủ húp cháo vậy lấy gì mà bù vào?

– Chị Ngọc không tin à? Tôi phải bán lần bao nhiêu áo quần, đồ đạc trong nhà để ăn đó. Không biết khi hết đồ đạc rồi phải làm sao đây? Thế mà người ta cứ chực dòm vào tận đáy nồi của mình. Chán ơi là chán. Mới đây đã xảy ra không biết bao nhiêu vụ ăn trộm lúa ngoài đồng, nhổ trộm khoai sắn ở trong rẫy, tất cả chỉ vì người ta không cách nào làm đủ ăn mà ra. Mai mốt đây rồi chị sẽ thấy! Khổ lắm chị Ngọc ơi!

Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp cho chị Hiền quá. Chị vốn thật thà, vụng về, xưa nay mọi sự chỉ biết trông cậy vào ông chồng. Bây giờ chồng chị không còn nữa, chị phải gánh chịu bao nhiêu sự thua thiệt. Tôi tìm lời an ủi chị:

– Tạo hóa an bài cả chị Hiền ơi. Chẳng lẽ tình trạng này cứ kéo dài mãi hay sao?

Chị Hiền lắc đầu:

– Tôi chưa nói hết đâu chị. Chị sẽ gặp hàng vạn chuyện bất bình khác nữa! Miệng người ta độc địa tàn nhẫn lắm. Lúc nào họ cũng chực nói móc nói méo mình nghe muốn điên đầu. Có lúc tưởng chừng độn thổ được tôi cũng độn mà trốn. Giờ nói có thể chị chưa tin, nhưng tôi cũng phải báo trước để chị chuẩn bị tinh thần…

Đang chuyện vãn tôi bỗng sực nhớ một điều, bèn hỏi:

– Tại sao người ta lại gọi ông Nhiêu là lão Tẩn chị biết không?

Lần này nét mặt chị Hiền lộ hẳn vẻ thích thú:

– Ồ, do mấy ông lão đồng lứa với ông ta đặt ra cả! Ông ấy hay xoi mói bắt bẻ người khác nên ai cũng ghét. Người ta gọi ông ấy là Tẩn Nhiêu là nói lái đó mà! Nói vậy chứ chị cũng không nên gọi cái tên ấy, lão giận sinh oán thù cũng mệt. À, chị về lại đây đã báo cáo với tập đoàn hay thôn xã chưa?

Tôi cười nói tếu:

– Chút nữa tôi quên mất. Nhưng cũng chẳng đáng lo. Tôi chưa trình diện thôn đội gì cả nhưng bà an ninh thôn đã đến trình diện tôi rồi!

Chị Hiền cũng cười:

– Đùa vậy chứ chị cũng nên đến báo cáo với tập đoàn một chút cho phải phép để họ khỏi lý lẽ lôi thôi. Ở đây cái mảy xảy thành cái vung là chuyện thường! Nhà anh Sự tập đoàn phó cũng gần đây thôi, bây giờ anh ấy cũng về rồi. Nếu cần tôi cùng đi với chị đến đó một lát cho xong.

Suốt ngày hết nói chuyện với những người hàng xóm tới thăm lại phải làm nhiều việc nên tôi mỏi người lắm. Sau khi cùng chị Hiền đến gặp anh Sự, tôi trở về ngủ một giấc khá dài.

Nửa đêm thức giấc tôi sực nhớ tới mớ áo quần phơi ngoài vườn chưa lấy cất. Thế là tôi lật đật vùng dậy chạy ra lấy. Nhưng hỡi ơi, chỉ còn trơ mấy sợi dây! Toàn bộ số áo quần tôi phơi đã biến sạch! Tôi hoảng hốt chạy vào kêu bà nội dậy nói cho bà nội biết. Tôi tiếc nhất là bộ đồ vải xoa màu tím nhạt anh Thành tặng tôi hồi chưa cưới! Bà nội nghe tôi nói liền phẫn nộ kêu lên:

– Người trong xóm lấy chứ ai vô đây nữa?

– Bao nhiêu đồ bận mùa lạnh mất sạch rồi. Bây giờ làm sao đây mẹ?

Qua giây lát giận dữ, bà nội đã có vẻ định tĩnh trở lại:

– Tức hộc máu đi được, nhưng đành chịu chứ biết mần răng chừ con? Con mới về một hai hôm nếu làm ồn ào lên không tiện chút nào. Có trình với thôn xã cũng vô ích thôi. Có khi họ làm phiền thêm nhiều người khác càng sinh oán cho mình. Gia đình mình đang bị người ta ghét bỏ, ráng mà chịu vậy! Biết mô nó lấy của mình có khi nó rước giùm hoạn nạn cho mình không chừng…

      CHƯƠNG    7

Suốt thời gian mới trở về làng, ngày nào cũng có một vài người hàng xóm đến thăm tôi. Khi nghe tôi nói phải bỏ ngang cái việc buôn bán đang phát đạt ai cũng lắc đầu tiếc rẻ. Đặc biệt có bà Nhiêu hay đến chơi nhất. Gần như lần nào bà cũng đến nhằm vào khoảng bữa ăn. Cứ vào nhà là bà cười cười nói nói bước lại dòm tận nồi hoặc giở đồ đậy thức ăn ra xem. Lối kiểm soát vừa ấu trĩ vừa lố bịch đó làm tôi rất khó chịu! Lúc này tôi mới tin hẳn lời của bà nội và chị Hiền. Nhưng tôi vẫn giả vờ như chẳng hề biết đến hành vi có dụng ý của bà ta.

Những người khác, khi đến thăm đều khuyên tôi chuẩn bị tinh thần để nhập cuộc. Chỉ nghe nói sơ qua tình trạng làm ăn tôi đã phát sợ. Từ công việc, giờ giấc đến tiêu chuẩn được thụ hưởng, tôi có cảm tưởng như người ta nói để hù dọa mình. Thực tế có thể trái ngược với những lời tán dương sự làm ăn thịnh lợi qua đài phát thanh, qua báo chí và những cán bộ cách mạng nói đến thế sao? Một số người không hiểu hoàn cảnh đặc biệt của tôi trách tôi sao đã được đi xa còn trở về cho khổ? Tôi càng nghe lòng càng hoang mang. Xưa nay tôi có hề biết việc trồng trọt cày cấy bao giờ đâu! Trong tình trạng này liệu tôi có đủ sức để theo kịp mọi người, để nuôi đủ năm miệng ăn trong nhà không? Bà nội tuy được hưởng chế độ mua lúa điều hòa nhưng tiền đâu? Chính tôi vẫn phải chạy ra tiền bà nội mới mua được chứ đâu phải tiền ai cho?

Quả thật tôi sắp phải gánh một gánh nặng! Tôi rất hối hận đã bỏ mất cái việc buôn bán ở chợ Hòa Bình Đà Lạt. Dù sao việc buôn bán vẫn hợp với khả năng của tôi hơn việc đồng áng quá xa lạ này! Nhưng lỡ rồi, giờ đây tôi chỉ còn biết phó mặc cho con tạo đưa đẩy…

Trong khi chờ đợi tập đoàn gọi đi làm việc, tôi tất bật lo dọn dẹp, sắp xếp mọi thứ trong ngoài ở nhà. Trong nhà từ cái bàn thờ đến cái phản ngủ, giường ngủ, bàn ghế, chạng kệ… chỗ nào cũng bụi đọng với mạng nhện giăng đầy. Các góc nhà, dưới chân bàn thờ, dưới gầm giường… bất cứ chỗ nào cũng có rác. Chung quanh nhà thì rựa cùn, dao rỉ, cuốc mẻ rải rác mỗi nơi một cái. Ngoài vườn thì ngập lá khô lá mục, đó đây vài đống phân người mối đụn còn bốc mùi, lội quanh một lát thấy lợm cả chân. Bà nội đã già yếu, tai điếc mắt kém, đâu có thể trách gì bà được! Nhưng suy từ sự việc này tôi bỗng đau nhói trong lòng. Tôi làm sao khỏi lo sợ khi nghĩ đến ngày trở về của chồng tôi? Trước đây cả gia đình chúng tôi vẫn quen giải quyết vấn đề vệ sinh bằng cách ra “cồn mồ”. Bây giờ bà nội đã khá già, chồng tôi lại thành kẻ tàn phế, việc đó đâu còn đơn giản nữa? Phát xuất từ nỗi lo này, tôi đã bất chấp thể chất yếu đuối của mình, liều lĩnh thực hiện một cái cầu tiêu ngay trong vườn.

Số là xã Thiện Trường có một khu mồ mả khá lớn, ước chừng bảy tám mẫu tây, ba mặt đều giáp rẫy bái của dân làng, mặt bên ngoài giáp đường xe lửa Xuyên Việt. Dân địa phương vẫn quen gọi khu ấy là khu “quần mồ” hay “cồn mồ”.

Không biết bắt đầu từ thuở nào, có thể đã lâu lắm rồi, phần lớn dân hai thôn 2 và 3 vẫn quen thói giải quyết vấn đề vệ sinh hằng ngày ở khu vực đó. Hồi ấy ở vùng quê rất ít ai xây cầu tiêu trong nhà hoặc đào cầu tiêu trong vườn. Mỗi buổi sáng khi nhìn ra đường người ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người, từ ông già bà lão đến các cô các cậu, đến cả lũ trẻ con, người nào cũng tay cầm một nắm lá chuối khô, một nắm giẻ rách hay một mảnh giấy báo, giấy học trò, lũ lượt kéo nhau ra khu cồn mồ. Những chỗ trống giữa đám mồ mả gần đường rày và gần mép hai con đường vào rẫy đều bị dân làng mặc nhiên coi như đất tự do phóng uế. Chịu trận đậm đà nhất là khu vực giáp đường rày. Những lăng mộ cao thấp cùng những lùm cây dại trong khu đã trở thành những tấm phên che chắn tự nhiên, dù chỉ tượng trưng. Chúng đã giúp người ta yên tâm, thoải mái hành sự. Việc ấy đã thành một sinh hoạt quen thuộc. Các bà các cô còn trẻ cũng không thoát ra ngoài lệ ấy. Chỉ có khác là họ thường rủ nhau đi từng tốp năm ba người để… canh chừng cho nhau. Cứ đến chỗ, thấy đâu vắng người là họ sà tới đấy. Khi đang ngồi, lỡ thấy có ai lò mò đến thì lên giọng “đằng hắng” làm hiệu để người ta tránh ra là xong.

Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người gặp những pha khốn đốn tức cười! Đang lúc đau cấp thiết mà nhìn chỗ nào cũng có người phục kích, phải nghiến răng ôm bụng chạy quanh tìm bãi đáp, thử hỏi còn gì khổ hơn? Còn có cả những pha hai người khác phái trong lúc đau bụng quýnh quáng đến ngồi “xả xấu” bên nhau mà không hay, khi phát giác ra nhau chỉ biết cười trừ.

Quanh đấy có cả hàng chục con chó lúc nào hờm sẵn. Cứ thấy người dớm bước là chúng nhảy ra thu dọn chiến trường. Nhờ thế nên những vết tích dơ dáy vẫn  ít tồn tại rõ rệt ngoại trừ mùi hôi và đồ lau chùi. Chó ở đây không phải chó hoang mà là những con chó có chủ đàng hoàng. Ban đêm chúng canh nhà cho chủ nhưng ban ngày lại quần tụ về đây. Chúng coi đây như vùng đất thiên nhiên ưu đãi, vừa có thể rong chơi đàng đúm vừa có thể cải thiện đời sống no đủ hơn.

Ngày nay, sau cuộc đổi đời, đa số dân làng phải thức dậy đi làm sớm nên cảnh sinh hoạt giải quyết vấn đề vệ sinh ở đây cũng bớt phần rộn ràng. Thế nhưng khu cồn mồ lại trở nên dơ dáy hơn trước rất nhiều. Đố ai biết vì sao không? Chính vì những con chó hay rong chơi “cải thiện” đời sống trước kia lúc này đã bị ăn thịt hết! Bây giờ bước vào đó muốn tìm một chỗ tương đối ít dơ cũng rất khó. Thế nhưng muốn giải quyết chuyện đó thì phải vào nơi đó chứ biết đi đâu? Tội nghiệp mấy đứa con tôi chỉ lội qua mấy lần mà đêm về đã kêu ngứa chân…

Vì thương bà nội già yếu, vì nghĩ đến ngày anh Thành trở về, tôi nhất quyết đào cho được một cái cầu tiêu trong vườn. Nhưng sức tôi không được dẻo dai, cứ đào một hồi là thấy nản. Đã nhiều lần tôi tưởng phải bỏ cuộc. Nản rồi lại gắng! Gắng rồi lại nản! Cuối cùng, hì hục mất gần ba ngày tôi cũng đào được một hầm cầu khá rộng và sâu.

Để bảo đảm an toàn cho bà nội và lũ nhỏ, tôi phải hi sinh luôn mấy tấm ván còn khá tốt để lót miệng cầu. Tôi che chắn chung quanh cầu bằng những lá chuối khô. Sự cố gắng của tôi đã không đến nỗi vô ích. Từ đó gia đình tôi không còn vất vả vì vấn đề vệ sinh nữa!

Vào một buổi chiều, lúc tôi đang lo cơm nước thì anh Sự cùng một người đàn ông lạ đến chơi. Anh Sự vốn là một hạ sĩ quan của chế độ cũ, cũng là bạn thuở nhỏ của chồng tôi. Vừa rồi tôi đã đến gặp anh để báo việc trở về làng làm ăn của mình, anh bảo tôi cứ về nhà đợi, tập đoàn sẽ sắp xếp sau. Người đàn ông cùng đi với anh Sự dáng tầm thước, có vẻ nhanh nhẹn, tuổi khoảng năm mươi. Anh Sự giới thiệu:

– Đây là anh Phước, tập đoàn trưởng tập đoàn 9 sản xuất tức tập đoàn của mình. Anh Phước cũng người làng mình, tập kết ra Bắc năm 1954 mới trở về.

Tôi chưa kịp chào ông Phước đã mau mắn nở một nụ cười thân thiện:

– Chào cô Ngọc, tôi nghe nói hoàn cảnh của cô cũng hơi khó khăn. Nhưng cô đừng lo, nhà nước xã hội chủ nghĩa lúc nào cũng lo cho dân như con đỏ. Cô cứ gắng lao động sản xuất thật tốt thì không ai bỏ rơi cô cả. Nếu chồng cô còn sống trước sau anh ấy cũng sẽ trở về với cô. Người ta đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại bao giờ! Cô cứ vui vẻ tham gia làm việc với tập đoàn để nuôi con. Có chúng tôi bên cạnh, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ cô. Mấy cháu nay mai sẽ đến trường, sẽ được đào tạo để trở thành những công dân tốt của một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa độc lập phú cường.

Tôi hơi lấn cấn về cách xưng hô với ông ta. Có lẽ tôi kém ông ta đến hai mươi tuổi. Ngẫm nghĩ một lát tôi nói đại:

– Thưa ông tập đoàn trưởng, tất nhiên tôi sẽ cố gắng làm việc để nuôi con. Tuy thế, trước đây tôi chỉ biết dạy học, chưa biết gì về việc đồng áng. Trong bước đầu chưa quen công việc, xin tập đoàn châm chước chỉ vẽ thì may cho tôi lắm.

Ông Phước tỏ vẻ sốt sắng:

– Cô Ngọc cứ gọi tôi là anh Phước cho tiện. Từ nay chúng ta thành người nhà cả, xưng hô tập đoàn trưởng tập đoàn phó làm gì cho phiền! Chúng tôi có nhiệm vụ giúp cô ổn định cuộc sống. Khi có việc gì cần cô Ngọc cứ tự nhiên cho tôi biết nhé!

Vừa nói ông Phước vừa bước ra phía sau vườn nhìn ngắm quanh quất. Anh Sự và tôi cũng bước theo ông ta. Một lát ông Phước nói:

– Chà, cô Ngọc mới về mấy ngày mà dọn dẹp trong nhà ngoài vườn sạch sẽ thế này là giỏi lắm đấy! Thế khi nào cô Ngọc bắt đầu đi làm việc với tập đoàn được?

– Dạ, thưa tập đoàn trưởng… à, thưa anh Phước gọi tôi lúc nào cũng được!

– Vậy cô cứ nghỉ thêm một hai ngày nữa để thu xếp những việc còn lại trong nhà. Ngày kia bắt đầu được chưa?

– Dạ được, nhưng tôi muốn đi làm chung toán với chị Lâm chị Hiền để các chị ấy bày vẽ công việc dần dần cho tôi được không?

Anh Sự cười nói:

– Ừ, làm chung với tụi tôi chứ với ai nữa! Cái gì cũng đầu khó sau dễ, chị đừng lo quá mà ốm người! À, mà thế này nữa, bây giờ tập đoàn đang gặt lúa địa phương, chị phải sắm một cái vằng như người ta mới được!

Chưa biết cái vằng ra sao, tôi hỏi lại:

– Vằng có phải là cái liềm đó không?

– Không phải, vằng khác liềm khác chứ!

– Thế sao trước đây tôi thấy một số người đi gặt họ lại cầm liềm?

Ông Phước giải thích:

– Cô Ngọc chưa từng làm ruộng nên chưa hiểu là phải. Vằng hay liềm đều là dụng cụ gặt lúa cả nhưng mỗi thứ dùng để gặt một loại lúa chứ không phải dùng lẫn lộn được đâu! Các giống lúa địa phương thân cao nhánh lớn phải dùng vằng vì dùng liềm gặt rất bất tiện. Ngược lại, các giống lúa thần nông cây nhỏ thấp lại chỉ dùng liềm chứ dùng vằng kềnh càng cũng bất tiện. Thế trước đây bác trai cũng làm ruộng trong nhà không còn cái vằng nào à?

Bà nội đang ở dưới bếp lên tiếng:

– À, nhà mình còn có hai cái vằng đây, con vô lấy ra mấy chú coi thử còn dùng được không để dùng khỏi sắm!

Tôi vôi đi vào bếp. Bà nội chỉ cho tôi hai cái vật treo sát phên vách chái.

– Coi chừng đứt tay! – bà nội nói.

Thì ra lâu nay nó vẫn nằm đấy mà tôi không để ý. Cả hai cái đều bị mồ hóng bao phủ lâu ngày nên trông đen điu bẩn thỉu lắm. Tôi lấy cả hai cái đem ra.

Ông Phước tiếp lời:

– Cô đem rửa sạch đi! Cẩn thận, trông vậy chứ nó sắc lắm!

Tôi đi rửa rồi đem trở lại. Ông Phước cầm một cái vằng chỉ cho tôi xem từng phần và giải thích:

– Cô thấy đây, thân vằng làm bằng gỗ nhẹ hay bằng tre cũng được. Người ta thường lựa nó từ những nhánh cây tự nhiên, đầu này là cán để cầm, còn đầu này có cái cù ngoéo này để móc gom thân lúa lại từng nắm. Phía đối nghịch với cái cù ngoéo được gắn một lưỡi thép có khía răng cưa, thường rất bén để cắt lúa. Nhưng cái vằng này cùn  quá rồi, không thể dùng được nữa. May ra còn dùng được cái cán.

Thế rồi ông cầm cái thứ hai lên xem:

– Cái vằng này còn tốt lắm, cô dùng được đấy! Nhân tiện đây để tôi chỉ sơ cho cô cách dùng vằng luôn!

Sau khi chỉ cho tôi cách sử dụng vằng, ông Phước nói tiếp:

– Cô Ngọc phải nhớ là vằng chỉ dùng khi gặt lúa dài ngày. Khi gặt lúa thần nông cô phải dùng liềm mới được!

Tôi định hỏi cho biết khi nào sẽ gặt giống lúa nào, anh Sự hiểu ý trả lời:

– Có thể bây giờ chị Ngọc chưa phân biệt nổi hai loại lúa đó khác nhau ra sao. Lần lần sẽ quen thôi. Mình không biết cứ hỏi người chung quanh. Người ta làm sao mình làm vậy là chắc ăn nhất. Thường thường lúa dài ngày vẫn phải cấy trước lúa ngắn ngày đến cả tháng nhưng rồi cũng gặt một lần cả…

Bà nội nói theo:

– Tôi là con nhà mần ruộng cả đời mà tới chừ cũng không phân biệt được loại lúa mô nữa huống chi hắn. Ngọc ơi, mình không biết thì người ta mần chi mình mần nấy cũng xong!

Thế rồi bà nội lại hỏi một cách ngớ ngẩn:

– Tại răng người ta lại dùng nhiều loại lúa mần chi cho phiền rứa hè?

Ông Phước cười:

– Dạ, lúa thần nông ngắn ngày đã đỡ mất công chăm sóc, lại cấy được dày gốc hơn nên cho năng suất cao. Bây giờ nhà nước đang có khuynh hướng chuyển sang cấy lúa ngắn ngày cả đấy. Nhưng hiện tại nhà nước chưa kế hoạch hóa được toàn bộ số ruộng sâu được. Cây mạ giống thần nông thấp cấy ruộng sâu có thể bị chết vì úng ngập, phải tạm thời duy trì các giống lúa địa phương. Nhưng có thể sang năm toàn cánh đồng Thiện Trường sẽ chỉ cấy toàn giống thần nông.

Trước khi ra về ông Phước lại nói:

– Luôn tiện tối mai có cuộc họp “mạn đàm đắc cử” toàn thôn tại nhà ông Sơn, cô Ngọc tuy mới về chưa có tên trong danh sách cử tri nhưng cũng nên đến dự cho nó quen với không khí sinh hoạt chính trị ở đây. Cô gắng hăng hái sinh hoạt chính trị chừng nào chồng cô sẽ được nhờ chừng nấy. Tám giờ tối, đừng quên nghe!

Không có lý do để từ chối, tôi đáp:

– Dạ, tối mai tôi sẽ đi họp!

Khi ông Phước và anh Sự đã ra về, bà nội nói:

– Tối mai con đi họp hả? Phải đó, nhà mình hai người cũng nên đi họp một người. Vài bữa mẹ cũng đi bầu cử. Không đi người ta nghĩ mình chống đối, có thể ảnh hưởng đến thằng Thành con ạ!

*

Hôm sau tôi đến nhà ông Sơn đúng giờ như đã hẹn. Thật tình tôi còn bỡ ngỡ với không khí họp hành này lắm. Nhất là khi nghe một vài người nói về chuyện bầu cử tôi càng thấy mình mù tịt. Tôi đâm ra lo ngại, đang định kiếm một chỗ nào khuất khuất để ngồi thì ông Phước gọi:

– Này cô Ngọc, cô mới về nhiều người chưa biết, hãy ngồi phía trước để chốc nữa tôi giới thiệu với mọi người mới được.

Tôi bất đắc dĩ phải bước ra ngồi hàng thứ hai. Trước khi phiên họp mở màn, ông Phước giới thiệu tôi một cách ngắn gọn với những người của tập đoàn 9. Tôi nghe nhiều tiếng thì thầm nhưng không hiểu họ thương ghét mình ra sao.

Cuộc họp bắt đầu. Ông thôn trưởng Lê Hành giới thiệu ông Đặng Văn Chấn, trưởng tổ đảng thôn 3 là người sẽ chủ tọa cuộc họp “mạn đàm đắc cử”. Ông Chấn lúc ấy đã ngồi sẵn ở ghế chủ tọa đứng dậy gật nhẹ đầu chào mọi người. Trong khi đó bên dưới có những lời rầm rì:

– Anh hùng Trường Sơn đó!

– Người hùng bách chiến bách thắng đấy!

Những lời rầm rì đó đã khiến tôi nẩy sinh lòng kính nể người cán bộ này. Ông Chấn khoảng ngoài năm mươi, vẻ mặt nghiêm nghị, nói giọng Nghệ Tĩnh. Ông cho biết đây là một cuộc bầu cử bổ túc một số viên chức cấp cao. Ông giải thích về mức quan trọng của việc sử dụng lá phiếu. Ông cũng trực tiếp giới thiệu sơ về những người đáng được chọn bầu.

Từ khi nghe ông Phước bảo đi dự cuộc họp “mạn đàm đắc cử”, tôi vẫn chưa hiểu ý nghĩa chính thức của nhóm chữ này. Phân biệt ra từng cặp từ như mạn đàm là gì, đắc cử là gì dĩ nhiên tôi hiểu, nhưng bốn từ ấy đi chung tôi thật tình chưa rõ. Mãi tới khi ông Chấn nói chuyện tôi mới vỡ lẽ. Hóa ra “mạn đàm đắc cử” là hướng dẫn cử tri nên bầu cho ứng cử viên nào, nên loại bỏ ứng cử viên nào. Nói là mạn đàm, tức là có sự trao đổi ý kiến một cách nhỏ nhẹ, thân mật, nhưng thật tình ở đây chẳng có sự trao đổi nào cả mà chỉ có lãnh đạo (tổ đảng) chỉ thị cho cử tri bầu ai.

Trong dịp “mạn đàm đắc cử” này đã xảy ra một việc mà suốt đời tôi không quên được. Theo chương trình, ông thôn trưởng phải lần lượt đọc lý lịch các ứng cử viên cho cử tri nghe trước khi thảo luận. Khi đọc lý lịch một ứng cử viên hiện đang tại chức ở hàng ủy viên cấp tỉnh, đến đoạn trình độ học vấn, ông Hành vừa đọc tiếng “lớp ba” thì nhiều người không hẹn cùng phá lên cười. Có lẽ người ta cười vì quá ngạc nhiên khi thấy một vị lãnh đạo cao cấp lại chỉ có trình độ học vấn lớp ba! Ông Chấn nghe cười đâm ra mất cả bình tĩnh, quên cả việc mình đang “mạn đàm”. Ông ta nhìn thẳng vào mặt tôi nạt lớn:

– Đồ dân vô ý thức, cười cái gì? Đã mấy chục năm qua rồi chứ mới mẻ gì nữa? Hồi ấy trình độ lớp ba nhưng bây giờ là trình độ đại học! Cô nghĩ cô học cao hả? Học cao để làm tay sai cho đế quốc thì chỉ hại nước hại dân chứ được việc gì?

Oan ơi là oan! Thật tình tôi có cười đâu? Mà giả như tôi có cười đi nữa tại sao ông ta chỉ mắng một mình tôi trong khi tiếng cười vang rân cả phòng? Không ngờ ông ấy lại hồ đồ đến thế! Tôi cố ngăn nước mắt, cắn răng mà chịu. Thế nhưng nỗi uất giận đã làm đầu óc tôi rối tung, chẳng còn nghe ngóng gì được. Tôi chỉ còn biết nôn nóng ngồi chờ cuộc họp chấm dứt!

Khi ông Chấn ra về rồi, ông Phước liền đến gặp tôi và nói:

– Ông ấy hơi nóng nảy một chút, nhưng cô đừng để tâm làm gì! Thấy có vẻ sấm sét vậy chứ thật tình ông ấy vô tư lắm!

– Nhưng tôi nào có cười mà chịu cho cam!

– Thôi cứ coi như gặp rủi ro đi!

Suốt cuộc họp ấy tôi chẳng thâu nhận được gì ngoài câu chuyện kể trên!

Khi ra về được một đoạn, chị Lâm cười nói đùa:

– Không ngờ cô Ngọc mới đi họp lần đầu đã gặp sao quả tạ chiếu! Nhưng đó cũng là điều đáng mừng cho bọn tôi. Bây giờ tôi mới biết trình độ học vấn của con người cũng sẽ tự nhiên cao dần theo tuổi đời! Như vậy một thời gian sau nữa tôi cũng sẽ có trình độ học vấn đại học như ai!

Chị Hiền lại phụ họa:

– Như vậy mới đúng trường đời cũng là một trường đại học chứ!

Thấy mấy bà nói tiếu lâm sâu sắc, tôi cũng nguôi ngoai được phần nào nỗi bực tức:

– May chưa có thẻ cử tri chứ bây giờ bắt tôi đi bầu cử tôi cũng chẳng biết bầu ai?

Chị Lâm cười khảy:

– Họp hành cho rộn đám vậy chứ vị nào chức nấy người ta định sẵn cả rồi, mình bầu hay không cũng thế thôi! Cô Ngọc không nghe ông trưởng tổ đảng nói dự kiến ông này làm bí thư tỉnh ủy, ông kia làm ủy viên tài chánh, ông nọ làm ủy viên  thường vụ… đó sao?

– Nhưng đến phòng phiếu mình cũng phải biết biết một tí chứ chẳng lẽ ngơ ngơ ngáo ngáo coi sao được?

– Cô khỏi lo điều đó. Biết bao nhiêu dân trí thức đến phòng phiếu cũng nhờ mấy người giữ thùng phiếu bầu giùm có ai nói gì đâu?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Thật không đó chị Lâm?

Chị Lâm chưa kịp trả lời chị Hiền đã đáp thay:

– Thật đó chị Ngọc ơi! Ở đây việc bầu cử dễ dãi lắm! Mình muốn nhờ ai bầu thế cũng được! Cứ đưa thẻ cử tri và thẻ chứng minh nhân dân cho người ta là xong! Một nhà có bốn năm cử tri chỉ cần một người đi bầu cũng đủ! Ai trúng ai trật đâu ăn nhập gì tới mình! Mình chỉ cần cái thẻ cử tri được đóng cái dấu “đã bầu cử” để đi đâu khỏi bị ai làm khó làm dễ là tốt rồi.

– Nếu quả vậy cũng tốt!

Khi tôi về tới nhà, bà nội hỏi:

– Con đi họp thấy răng? Người ta bảo bầu cho ai?

Thật tình tôi nào nhớ được gì đâu? Tôi đánh trống lảng:

– Thế trước đây mẹ đã đi bầu lần nào chưa?

– Đi rồi chứ không đi mô được?

– Mẹ tự tay bỏ lá phiếu vào thùng phiếu à?

– Mẹ biết chi mà bỏ! Cứ nhờ mấy người giữ thùng phiếu bỏ giùm thôi! Người ta ai cũng mần rứa cả chứ mô phải một mình mình!

Tôi cười thầm: Ít ra mình cũng có được cái quyền tự do nhờ người khác bầu cử thế!