THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 6)

Tôi bắt đầu làm việc với tập đoàn 9 nhằm lúc vụ lúa tháng ba đã gặt xong gần một nửa. Tháng ba đây là tháng ba âm lịch, nói theo thói quen của dân địa phương, chỉ vụ gặt đầu trong năm. Vụ này kéo dài hơn một tháng, thường vào khoảng cuối tháng tư tới giữa tháng sáu dương lịch. Tôi thao thức sẵn nên sáng hôm ấy khi mới nghe hồi kẻng đầu tôi đã vùng dậy chuẩn bị mọi thứ. Xong xuôi tôi sang nhà chị Hiền chờ chị cùng đi. Thấy tôi chị Hiền liền kêu lên:

– Đi gì sớm dữ vậy! Nửa tiếng nữa đi cũng vừa mà!

Tuy nói như vậy nhưng chị cũng lật đật bới cơm bới nước. Khi lướt mắt nhìn qua tôi, chị Hiền lại kêu:

– Chị Ngọc mang dép à? Không được đâu! Chị phải đi chân đất chứ mang dép làm sao lội nước?

À, làm ruộng thì phải lội nước! Tại sao cả mười ngày ở đây rồi mà mình lại không để ý đến vấn đề này chứ? Tôi cười ngượng ngập rồi quay về nhà. Cất dép xong, vừa bước ra sân tôi đã cảm thấy lòng bàn chân đau tê tái khi dẫm phải sỏi đá. Sỏi càng nhỏ càng làm bàn chân khó chịu hơn. Dù cơn đau chỉ thoáng chốc rồi hết nhưng tôi vẫn thấy nhợn nhợn bàn chân. Tôi phải rón rén thật nhẹ từng bước. Nhưng rón rén tới mức nào cũng không tránh khỏi dẫm thứ này hay thứ khác. Từ một vỏ trấu đến một cọng cỏ khô đều làm tôi phải nhăn mặt khó chịu. Tôi than với chị Hiền:

– Tôi đi chân không chưa quen, cứ dẫm phải sỏi là đau điếng lên thế này phải làm sao đây chị Hiền?

Chị Hiền cười thương hại:

– Phải ráng chịu đau rồi nó quen dần thôi! Nhưng dẫm sỏi từ lòng đến phần trước bàn chân thì đau hơn dẫm ở phần gót. Chị khum mấy ngón lại để nâng lòng bàn chân lên một chút sẽ đỡ hơn! Đừng nản, vài ngày nữa sẽ quen hết.

Nghe lời chị Hiền, tôi cố khum mấy ngón chân mà đi. Vừa ra khỏi nhà mấy bước chúng tôi đã thấy một toán cả đàn ông lẫn đàn bà đi cùng chiều từ phía sau lướt tới. Tôi đau chân nên đi hơi chậm, chị Hiền cũng đi chậm lại chờ tôi. Toán người kia qua mặt chúng tôi xong cũng chậm bước lại. Vài người cứ quay lại nhìn hai đứa tôi. Họ xầm xì với nhau gì đó. Bỗng một bà cười khanh khách rồi nói:

– Hôm nay có bà đại úy đi quan sát chúng ta gặt lúa đó nghe! Chị em phải gắng lao động cho thật tốt không lại bị quở!

Tôi biết ngay là họ nói móc mình. Đang bỡ ngỡ chưa biết phản ứng như thế nào tôi lại nghe một giọng khác:

– Dân chuyên sống trên giày trên dép trông ra khác! Nội cách đi đứng cũng thấy trái dáng rồi!

Người thứ ba lên tiếng:

– Sao bà đại úy không bảo ông nhà cho xe “rép” chở một vòng cho sướng mà phải đi khum khum bàn chân cho khổ vậy kìa?

Không ngờ họ dễ gây sự đến thế! Tôi giận cành hông nhưng vẫn cố nhịn nhục coi như không nghe. Tiếp đó một giọng đàn ông nói lớn:

– Mấy bà này ăn nói gì lôi thôi dữ vậy? Chính sách của nhà nước đề ra là hòa hợp hòa giải dân tộc, các bà sao lại cứ khiêu khích chia rẽ như thế?

Một giọng đàn bà cãi lại:

– Thấy cách đi đứng làm bộ điệu khuê các quá thiên hạ ngứa mắt nói đôi lời chứ làm gì đâu mà chia rẽ?

Người đàn ông giải thích:

– Các bà phải thông cảm người ta đi chân đất chưa quen chứ có gì mà nói là làm bộ làm điệu!

Một giọng đàn bà khác phản đối:

– Thế tại sao chúng tôi đây lại đi chân đất được? Chúng tôi thuộc hạng người gì?

Lúc đó nỗi đau trong tim óc đã lấn át hết cả nỗi đau ở đôi bàn chân. Người tôi run lên, nước mắt tôi cứ chực trào ra. Tôi cố dằn từng bước mạnh trên đường như để tống xuất nỗi uất hận ra khỏi người. Bỗng có tiếng tập đoàn trưởng Phước quát lên:

– Thôi, đủ rồi! Yêu cầu các bà ngừng tranh luận ngay!

Im lặng được một lát tôi lại nghe một giọng nữ nói nhỏ:

– Cũng đẹp gái đấy chứ! Mấy cha đàn ông bị hớp hồn khi nào không hay đó!

Một giọng gay gắt lại trỗi lên:

– Đẹp cái con khỉ khô! Nhờ lấy con “c… chó” mà quệt môi quệt mép tô vẽ ra chứ nó hơn gì bọn mình?

Một giọng khác phụ họa:

– Sẵn tiền bóc lột của nhân dân sắm chi không được? Kiểu đi làm dáng đó là để đi trong các động ăn chơi mới đúng!

Biết tinh thần tôi đang căng thẳng tột độ, chị Lâm tiến lại gần bấm tay tôi nói nhỏ:

– Nói gì mặc họ, nói mỏi miệng hết nói!

Chị Hiền cũng nói nhỏ:

– Trước đây tụi tôi cũng bị họ xoi móc suốt mấy tháng trời. Nhưng tôi cứ một mực im lặng rồi cũng qua cả. Họ rất thù vợ lính, nhất là vợ sĩ quan…

Một lát sau chị Lâm dặn tôi:

– Mấy con mẹ đó nhiều chuyện lắm. Nhất là con mẹ Huy và con mẹ Dục, cô đừng thèm để ý đến lời chúng nó!

Nước mắt tôi cứ chực tuôn ra vì tủi thân. Ngay bước đầu đi làm việc tôi đã gặp những điều khổ tâm như thế, liệu tôi có thể ở lâu dài được với cái hợp tác xã này không? Tôi đâm ra giận luôn cả bà nội lũ nhỏ. Tại sao bà nội cứ một mực đòi tôi phải trở về? Bà nội có biết tôi sẽ gặp phải tình cảnh này không? Nhìn lưỡi vằng sắc bén dùng để gặt lúa móc trước đòn xóc, trong thoáng chốc đầu tôi bỗng dậy lên một ý nghĩ thật hung bạo. Không chừng tôi có thể liều mạng để trừng trị chúng! Tôi có thể bửa lưỡi vằng vào đầu đứa nào cả gan nói móc tôi một lần nữa!

Nhưng rồi tôi lại cố xua đuổi cái ý nghĩ ấy đi. Không thể được, nếu mình có mệnh hệ nào thì ba đứa nhỏ và bà nội sẽ khổ! Phải cố dằn lòng nhịn nhục!

*

Lúc bấy giờ xã Thiện Trường đang ở buổi giao thời của hai chế độ trồng lúa: loại lúa ngắn ngày và loại lúa dài ngày. Xã đang chủ trương tiến tới việc thống nhất trồng loại lúa ngắn ngày toàn bộ nhưng mới thực hiện chưa được một nửa. Phần lớn cánh đồng Thiện Trường là ruộng sâu, cây mạ giống thần nông lại quá thấp, dễ bị hư khi ngập nước. Bởi thế người ta vẫn còn phải cấy các thứ lúa địa phương dài ngày như lúa chiên, lúa hẻo rằn, lúa chùm dâu… Vì thân lúa địa phương cao, hay bị ngã, người ta phải dùng loại dụng cụ cổ điển là vằng để gặt.

Trước ngày ra quân tôi đã được nhiều người chỉ vẽ cách dùng vằng rất cẩn thận vì nó là thứ dụng cụ dễ hại chính người sử dụng nó nhất. Riêng chị Lâm còn chỉ cho tôi biết cách đề phòng đỉa cắn. Chị cũng tặng tôi một món bửu bối trị đỉa nữa. Đó là một cục vôi ăn trầu đựng trong một miếng vải nhỏ buộc túm lại. Thấy đỉa đeo chỗ nào cứ việc dí túm vôi đó vào chỗ ấy khiến đỉa bị phỏng miệng phải nhả ra.

Lần đầu tiên bước xuống ruộng lúa, tôi hết sức lúng túng. Đôi chân tôi dẫm nước bùn sền sệt chưa quen, nhột nhạt rất khó chịu. Nhiều chỗ sâu còn nước đọng, đỉa trâu, đỉa mén thấy nước động sung sướng tung tăng tỏa ra tìm mồi. Tuy gặp nhiều trở ngại nhưng vì tự ái với đám đàn bà kỳ thị nhỏ nhen kia, tôi cố làm như chẳng ngán một thứ gì. Thật ra cứ bước vài bước tôi lại lén liếc xem đôi chân mình có đỉa bám chỗ nào không. Tôi rất ngán loại đỉa mén mình nhỏ như que tăm, rất khó thấy. Chúng cứ chun vào giữa kẽ hai ngón chân hút máu mà không thấy đau đớn gì hết. Mãi đến khi chúng no nê thỏa mãn nhả mồi, chỗ bị đỉa cắn hút chảy máu ra mình mới biết.

Lúa mới chín, hầu hết thân lúa còn đứng vững rất dễ gặt. Lâu lâu mới gặp phải một đám lúa bị ngã. Gặt lúa đã bị ngã thường khó khăn hơn. Những chỗ này lúa hay bị rối nùi do nhiều bụi ngã chồng chéo lên nhau, gió máy lại làm chúng quyện vào nhau thêm. Cái cù ngoéo của chiếc vằng rất hữu dụng trong trường hợp này. Người ta dùng nó để khều móc các nhánh lúa ngã gom gọn vào nắm tay. Cứ đầy nắm người ta lại quay phía lưỡi thép có răng cưa để cắt. Cứ kéo nhẹ vằng một cái là nắm lúa tách khỏi thân gốc ngọt xớt.

Tôi vừa làm vừa theo dõi bắt chước từng động tác của những người bên cạnh. Thấy tôi là lính mới, nhiều bạn gặt cũng chú ý giúp đỡ tôi. Sợ chuyện sơ suất xảy ra, chốc chốc lại có người nhắc chừng tôi. Với sự quyết tâm học hỏi, chỉ qua một buổi sáng tôi đã khá quen với công việc. Lúc nghỉ ăn cơm trưa nhiều người đến chúc mừng tôi, khen tôi sáng ý. Ông Phước là người khen tôi nồng nhiệt nhất. Dù chưa hẳn theo kịp mọi người nhưng tôi đã thấy phấn khởi, bớt lo.

Lúc mặt trời xế bóng, tập đoàn bắt đầu cho ôm gom lúa lại để bó. Mọi người lại làm việc thoăn thoắt. Tôi tưởng chừng như công việc dễ lắm nên cũng làm vẻ thành thạo gom bó như mọi người. Chị Lâm thấy thế cười bảo:

– Bó được không đó? Để người khác họ bó cho. Từ từ tập lần!

Tôi không tin lời chị Lâm, cứ hăng hái làm. Nhưng loay hoay mãi tôi vẫn không bó được bó nào. Nhìn mớ cồi lúa xộc xệch dưới chân tôi, anh Sự tập đoàn phó cười:

– Chị sắp lúa thẳng đuột thế này bó không chắc đâu! Và dẫu bó được đi giữa đường nó cũng có thể xổ tung ra, mệt lắm. Chị phải sắp từng ôm cồi đan chéo nhau như thế này bó nó mới khỏi tuột!

Thế rồi anh lấy từng ôm cồi, lần lượt đặt hơi chéo nhau lên sợi lạt, phần bông lúa vẫn quay về một bên, phần cọng quay về một bên. Khi nhắm đã đủ bó, anh xoắn một đầu lạt làm chuẩn rồi dùng hết sức rút đầu lạt kia thật mạnh để thắt phần giữa bó lúa lại rồi xoắn lạt giữ kỹ luôn. Bó lúa hai đầu xòe ra, giữa thắt lại trông giống như một trái đậu phộng hai hột. Anh Sự lại nói:

– Bây giờ gấp quá tôi giải thích chị chưa kịp hiểu đâu. Cứ từ từ mà học. Tạm thời chị cứ lo gom lúa đi, tôi bó cho.

Tôi đành ngượng nghịu bỏ đi gom lúa cho người khác bó. Tới khi thấy người ta xóc gánh lúa để gánh về, tôi lại ngạc nhiên thêm một lần nữa. Trước đây đã có lần tôi được xem một cuộn phim trong đó có cảnh gánh lúa trên đồng. Tôi còn nhớ như in những bó lúa người ta gánh lúc nào cũng quay phần cọng quay lên trời, phần bông nặng trĩu thòng xuống dưới. Nhờ thế trông gánh lúa khá cân bằng, không chao đảo. Bây giờ ở đây người ta lại xóc bó lúa nằm ngang, nghĩa là khi gánh phần bông quay về một bên, phần thân lúa quay về một bên. Thế mà khi gánh người ta vẫn giữ được thế cân bằng như thường. Tôi cũng xóc thử nhưng không thành công. Một ông nào đó phải xóc giúp gánh lúa rồi đỡ lên vai cho tôi. Tôi gánh chạy theo mọi người mới được một đoạn đã thấy vai đau chịu không nổi. Từ khi về nhà chồng thỉnh thoảng tôi vẫn gánh nước cho gia đình dùng nhưng đường gần nên tôi không học cách trở vai. Bây giờ gánh lúa đường dài tôi mới thấy cái tai hại của khuyết điểm ấy. Nhìn những người khác ai cũng quay đòn xóc qua phía sau cổ để đổi vai một cách nhanh nhẹn tôi phát thèm. Tôi cố bắt chước họ nhưng mỗi lần xoay đòn xóc qua cổ gánh lúa lại trệ xuống muốn tuột, thế là tôi phải vội xoay nó trở lại như trước. Muốn đặt gánh lúa xuống đường để đổi vai cũng không dám vì sợ cất lên lại không nổi. Biết nhờ ai giúp cho đây? Tôi gắng chạy theo một chị đàn bà đang chạy trước để hỏi:

– Chị ơi, có nghỉ dọc đường không hở chị?

Chị ta vừa thở vừa đáp:

– Gánh lúa có ai nghỉ dọc đường đâu! Đau vai thì cứ trở vai, hai vai thay nhau. Để xuống nhấc lên sẽ làm rụng lúa hết!

Thế là tôi phải nghiến răng chịu đau không dám nghỉ chân. May sao, cuối cùng tôi cũng lết về tới sân phơi. Ông Phước đang đứng sẵn ở sân phơi đỡ giúp tôi để gánh lúa xuống. Ông ta mỉm cười chỉ cho tôi đám củi ngổn ngang ở sân:

– Tôi biết cô Ngọc gánh lúa chưa quen đau vai lắm. Nhưng cô cứ yên chí, mọi việc sẽ quen dần. Bây giờ cô khỏi gánh lúa tiếp, cô ở lại đây chuyển giúp tôi mớ củi này chất ra phía sau nhà rồi quét dọn quanh sân cho sạch. Nghỉ một lát cho khỏe rồi làm!

Tôi mừng như bắt được vàng, vui vẻ nhận lời ngay. Phải nói là lúc ấy tôi sợ việc gánh gồng đến phát khiếp. Mới nhìn qua thấy đám củi không nhiều nhặng gì, tôi hơi thất vọng vì sợ mình thoát khỏi việc gánh lúa không mấy lâu! Nhưng khi nhìn kỹ toàn bộ cái sân, thấy rêu lá khá nhiều tôi mới yên chí mình có thể kéo thêm thời giờ ra.

Hút thuốc uống nước xong mọi người lại đi gánh lúa tiếp. Tôi cũng bắt tay vào công việc mới. Trước khi đi ông Phước quay lại dặn tôi:

– Cô Ngọc làm nhanh nhanh kẻo lúa về không kịp có chỗ để chất đó! Chỗ nào có rêu trơn cô gắng cạo đi, chà xát cho sạch để người ta bước khỏi trợt.

Thấy cầm chắc khỏi gánh lúa tiếp trong chiều nay, tôi đáp:

– Dạ, thưa anh, tôi sẽ gắng.

Liền đó tôi nghe một giọng nữ nói trổng:

– Chiều nay bà đại úy ở nhà rồi!

Tiếp theo là một giọng nữ khác chanh chua hơn:

– Có quí nhân phù hộ mà. Nay mai lên làm thư ký hợp tác xã rồi đấy!

Tôi lại ứa gan lên, muốn trả công việc lại. Nhưng thấy ông Phước đã đi khuất, tôi đành cắn răng làm thinh.

Đây là cái sân được lát gạch khá rộng trước mặt một ngôi nhà rường gồm đủ nhà lớn, nhà cầu, nhà lều trông rất đồ sộ, kiến trúc theo kiểu cổ. Chủ nhân ngôi nhà là một vị chức sắc có uy tín trong xã trước đây, hiện đang bị giữ ở một trại cải tạo nào đó. Cách mạng đã trưng thu ngôi nhà này để chứa đồ đạc, phân thuốc của hợp tác xã. Cái sân lâu ngày không ai quét dọn nên rêu cỏ, lá mục, rác rưởi, sỏi đá phủ đầy. Người ta chỉ mới dọn một khoảnh nhỏ để chất lúa. Nhiều chỗ rêu bám cả lớp, tôi phải dùng cả dao liềm để cạo, chà xát cho sạch như lời ông Phước dặn. Kể ra dọn sạch cái sân này cũng mệt hộc hơi nhưng tôi vẫn thích hơn việc gánh lúa. Nhiều người gánh lúa về thấy công việc tôi làm có vẻ bằng lòng lắm.

– Sạch quá, tốt lắm! Thế này thì hết sợ trợt té gẫy xương rồi!

– Phải như thế đi mới đỡ nhợn chân. Cô lính mới hôm nay làm được việc lắm!

Ông Phước nhìn quanh rồi nói với tôi:

– Tốt đấy. Cô tiếp tục làm nốt phần còn lại nhé.

Thế là tôi lại tiếp tục dọn sân.

Buổi tối, khi người ta bắt đầu cho trâu lên giã lúa tôi thấy có một số người có vẻ như sửa soạn ra về. Tôi nhìn quanh tìm ai quen để hỏi ý nhưng thấy chị Hiền và cô Ánh đang làm việc ở đằng xa nên tôi ngại không dám lại gặp. Tôi chưa biết tính sao thì ông Phước kêu tôi mà nói:

– Được rồi, cô Ngọc nghỉ về nhà ăn cơm đi. Ăn xong, nếu thấy khỏe trở lại xảy rơm, ra lúa với người ta. Nếu không khỏe cô cứ nghỉ luôn, sáng mai đi làm tiếp.

Nghe ông Phước nói tôi hơi bỡ ngỡ. Mình được tùy tiện làm hay nghỉ như vậy ư? Lúc ấy người sẵn mệt, bụng lại đói nên tôi “dạ” một tiếng rồi rút lui. Chợt thấy chị Lâm đang làm gần đó, tôi lại gần hỏi chị:

– Chị về ăn cơm chưa?

– Không, về ăn xong tới làm lại nó cũng đói thôi, mất công lại tốn của ăn lần thứ hai. Thà ráng nhịn làm cho xong rồi về ăn luôn một thể.

– Thế sao ông Phước bảo em cứ về ăn, nếu mệt thì nghỉ luôn?

– Cô Ngọc chưa biết à? Nếu ăn xong cô trở lại làm tiếp thì được tính điểm tiếp, nếu cô nghỉ luôn thì không tính điểm, thế thôi! Đi làm người ta theo dõi cô từng bước chứ có phải để cô muốn làm gì thì làm đâu!

Giờ thì tôi đã hiểu. Tôi về nhà. Bà nội đã lo cơm nước sẵn. Sau khi ăn xong, dù không khỏe lắm tôi vẫn trở lại cùng mọi người lo việc xảy rơm, hốt lúa… Hình như chẳng có mấy ai không trở lại làm việc buổi tối.

Trong khi đang làm việc, cô Ánh hỏi tôi:

– Chốc nữa chị ở lại họp bình điểm không?

Tôi chưa hiểu rõ việc này nên hỏi lại:

– Bình điểm ra sao  cô Ánh?

Chị Hiền giải thích vừa đủ tôi nghe:

– Mỗi ngày ra làm việc, mình theo dõi người khác làm được việc hay không rồi tối đến, trước cuộc họp, mình đề nghị cho người ta hưởng bao nhiêu điểm để mọi người biểu quyết. Làm cho có lệ vậy chứ ý kiến mình ai coi ra gì. Tôi khi nào cũng chiếm chỗ cuối bảng nên chẳng muốn tham gia bầu bán chi hết, về nhà ngủ sớm lấy sức!

Tôi hỏi lại:

– Chị không tham gia bình bầu người ta không cho là tắc trách à?

Cô Ánh nói nhỏ:

– Ở đây có hai loại họp hành chị ơi. Như họp để học tập, để phổ biến thông tư bưu điệp hoặc bàn thảo phương hướng công tác mình không dự có thể bị người ta phê bình là tiêu cực, chống đối gì gì đó. Còn trường hợp bình điểm trong ngày mình không dự người ta còn mừng là khác. Càng ít người tham dự bình bầu người ta càng dễ thao túng. Mấy cuộc họp bình bầu thường chỉ có khoảng một phần ba nhân số là nhiều. Một phe với nhau hết chứ ai!

Hiểu ý Ánh, tôi cười:

– Nếu thế tôi cũng chẳng ở lại bình bầu làm gì!

Rồi một ngày dài đầy gian khổ cũng qua. Tôi về nhà đúng mười giờ đêm. Lúc ấy cả bốn bà cháu đều đã đi ngủ hết. Tôi rón rén rửa ráy sơ sài, ăn vội thêm vài miếng rồi chun vào mùng. Thân xác mệt nhoài, vai đau, lưng mỏi, tôi làm một giấc cho tới khi nghe tiếng kẻng báo thức…

*

Sang ngày thứ hai, ai gặp tôi cũng hỏi cảm tưởng về ngày làm việc đầu tiên, có chịu nổi với công việc không. Tôi chỉ cười – chịu đựng nổi sự mỉa mai xiên xỏ của đám người kia mới khó chứ công việc dù khó bao nhiêu chắc cũng ráng được! Khi trở lại công việc, tôi biết mình đã tiến bộ nhiều. Mặc dù các bắp thịt trong người đều còn ê ẩm, tôi vẫn thấy mình làm việc nhuần nhuyễn hơn hôm trước rất xa. Những bạn gặt ở gần tôi đều tỏ ra ngạc nhiên. Họ chẳng cần kềm cặp nhắc nhở tôi nữa. Sự tiến bộ quá nhanh trong công việc khiến tôi càng tự tin.

Thế nhưng tới mục bó lúa tôi lại tiu nghỉu chịu thua. Tôi đang bứt rứt trong lòng thì ông Phước lại đến. Ông nhỏ nhẹ dạy tôi cách đặt lạt, đặt lúa, rút lạt, xoắn lạt. Có lúc ông ta còn nắm tay tôi để chỉ dẫn cụ thể từng động tác. Nhưng vô ích, trong lãnh vực này cô giáo đã thành một cô học trò dốt. Rốt cục tôi vẫn trầm trầy trầm trật chẳng làm nên trò trống gì. Sau đó ông Phước nói với mọi người:

– Cô Ngọc làm việc tốt lắm, nhưng cô yếu tay quá, từ nay cô khỏi làm việc này – ông cười – không xay lúa được thì mình bồng em, chán gì việc!

Thế thì còn gì bằng! Nỗi ưu tư lớn của tôi đã được giải tỏa một phần. Tôi lại gắng xông xáo làm các việc khác để bù lắp vào chỗ yếu kém của mình. Chị Lâm thấy tôi làm quá hăng bèn nói nhỏ:

– Cứ làm từ từ, phải giữ sức để còn làm ngày khác nữa chứ!

Tôi thành thật nói:

– Em bó lúa không được phải gắng làm việc khác để bù chứ!

Chị Lâm nói:

– Bù cái gì mà bù? Bộ cô tưởng họ làm ơn cho mình ư? Đừng lầm thêm hao sức! Người biết bó biết xóc họ chỉ đứng một chỗ để làm mà được tính đến 9, 10 công điểm một ngày. Người không bó lúa được chỉ cho 6, 7 công điểm là cùng. Thê thảm nhất là hạng không biết bó không biết xóc, phải lội nước lội bùn ôm gom lúa muốn bại tay, vấp lên trợt xuống cao lắm chỉ được trên dưới 5 điểm chứ mấy! Chớ có dại mà thiệt mình! Không bó lúa được có người quen tay họ bó cho! Việc xóc lúa đưa lên vai không nổi nhờ người ta giúp ít ngày rồi cũng sẽ làm được! Trong tập đoàn mình có cả chục mạng không bó nổi lúa chứ đâu phải một mình cô!

Chị Lâm vừa nói vừa nháy mắt hướng về phía chị Hiền, chị Hảo và đám đàn bà lắm chuyện nọ. Lúc này tôi mới để ý đến chuyện tập đoàn tôi số phụ nữ đông gấp ba số đàn ông. Điều này cũng dễ hiểu – một số đàn ông còn đang ở trong các trại cải tạo hoặc đang làm các công tác khác. Chị Lâm hạ thấp giọng:

– Cô Ngọc nên coi chừng cái lòng tốt của ông tập đoàn trưởng đấy!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Chị Lâm nói sao em chưa hiểu?

– Rồi từ từ cô Ngọc sẽ hiểu! Còn mấy con mẹ kia chỉ được cái già miệng đàn áp người ta chứ làm thì cũng như cứt chó chứ hơn ai!

Chị Lâm với tôi vốn là chỗ thân tình từ trước, chị lại là người chín chắn, tôi nghĩ chị đã nói tất không phải vô cớ. Vì thế tôi không hỏi nữa mà quay lại tiếp tục gom lúa.

Tới khi mọi người xáp lại xóc lúa để gánh, tôi lấy cái khăn lông đem sẵn xếp vuông để lên vai rồi ấn ngón tay xuống thử. Đó là mẹo cô Ánh bày cho tôi để giúp đôi vai gánh đỡ đau. Khi thử ấn nhẹ vào vai phải, tôi giật mình biết cái vai này còn đau quá đỗi! Giờ đành phải gánh vai trái vậy! Quả đúng lót vuông khăn trên vai gánh đỡ đau nhiều thật. Tuy không thoải mái mấy nhưng rồi tôi cũng gánh được gánh lúa về tới sân phơi như ai. Lần này uống xong miếng nước tôi lại phải cầm đòn xóc tiếp tục đi gánh nữa. Cứ việc nhìn người ta mà ráng sức! Vuông khăn trên vai đã đắc lực giúp tôi trong việc vượt qua sự khó khăn. Hú vía, hôm ấy người khác gánh được bao nhiêu gánh tôi cũng gánh được bấy nhiêu!

Mấy ngày kế tiếp công việc vẫn tiến đều. Tôi đã lần lượt loại trừ được một số khó khăn. Tôi đã tự xóc lúa và tự cất được gánh lúa lên vai. Khi gánh lúa tôi cũng đã trở vai được. Chỉ có một điểm tôi thấy khó khắc phục là sự dị ứng của những người đàn bà kia. Tôi có cảm tưởng như lúc nào họ cũng rình rập chờ cơ hội để mỉa mai, để xoi móc tôi. Do đó, cứ làm việc gần với họ là tôi mất tự nhiên, thiếu an tâm… Nhiều lúc tôi cứ băn khoăn không biết bao giờ mới chấm dứt được tình trạng này?

      CHƯƠNG    9

Qua mấy ngày làm việc tôi đã quen mặt gần hết những người trong tập đoàn. Quen mặt thôi, thật sự trong đó có một số người tôi không muốn tiếp xúc với họ chút nào. Những lời châm biếm mỉa mai cay độc cứ liên tiếp nhắm vào tôi đã tạo cho tôi một ấn tượng rất sâu đậm. Tôi đâm ra sợ hãi bất cứ người đàn bà nào mới đến cư ngụ ở xã Thiện Trường. Nếu bức thế phải đối mặt nhau với những người đó, tôi chỉ gật đầu chào sơ một chút chiếu lệ rồi tìm cách lảng tránh ngay…

Từ khi mới ra làm việc, tôi đã nghe nói tập đoàn có cử một toán nhỏ đi cắt dọn rạ ở những phần ruộng mới gặt để cày sớm lo chuẩn bị cho vụ sau. Tôi vẫn ao ước được cử đi như thế để được yên thân hơn. Không ngờ ao ước của tôi cũng có lúc thành sự thật. Một hôm chị Lâm nói với tôi:

– Mấy bữa nay cô vẫn mong được đi với toán cắt dọn rạ, nay toán đó đã trở về, tập đoàn cử tôi làm toán trưởng toán cắt dọn rạ mới, cô thích đi không?

Tôi mừng quá hỏi lại:

– Thật hả chị Lâm? Em tình nguyện đi với chị nghe!

– Vậy thì chuẩn bị đi, có thể là ngày mai mình nhận việc.

– Nhưng tại sao tập đoàn lại cho cắt dọn rạ sớm vậy chị?

– Cô chưa làm ruộng nên chưa biết chứ ở làng mình năm nào vụ đầu nông dân cũng phải làm việc tối đa để bắt kịp thời vụ đấy. Như bây giờ là tháng tư âm lịch, mình đang gặt thế này mà vẫn phải chuẩn bị luôn việc cấy mạ sao cho lúa vụ sau chín kịp gặt xong trong tháng bảy. Nếu để trễ sang tháng tám có thể gặp lụt là thua. Lúa thần nông từ khi cấy đến khi gặt chỉ kéo dài ba tháng tới ba tháng rưỡi nên không đáng lo. Nhưng mình còn trồng lúa mùa cũ nữa nên phải cấy sớm hơn lúa thần nông trên một tháng mới kịp. Vì vậy vụ này mới gặt xong một ít đã phải chuẩn bị gieo mạ lúa mùa. Tới giờ thì mạ thần nông cũng đã gieo luôn rồi đấy. Sắp tới đây là giai đoạn mà nông dân gọi là “đầu này gặt đầu kia cấy” rồi, gấp lắm. Mình đi cắt dọn rạ đây là để rảnh đất cho người ta cày xới trước, sau đó vô nước ươm đất kịp làm tiếp vụ sau. Hi vọng vài năm nữa chỉ trồng toàn lúa thần nông, công việc vụ hè thu này sẽ được thong thả hơn. Đi cắt dọn rạ tuy công điểm thấp hơn đi gặt một chút nhưng bù lại khỏi gánh gồng mệt nhọc, đầu óc cũng được thoải mái hơn. Mình cứ coi thời gian này như thời gian giải lao đi!

Hôm sau thì chị Lâm được lệnh chọn 4 toán viên. Tôi là người tình nguyện đầu tiên. Kế đó là cô Ánh và cô Xuân Hương. Vẫn còn thiếu một người, chị Lâm hỏi:

– Cần một người nữa, ai tình nguyện?

Tôi định kêu chị Hiền nhưng liền đó có một người nói to:

– Có tôi.

Tôi nhìn người vừa ứng tiếng. Trời ơi, bà Hoành! Bà Hoành là một trong số những người đàng ngoài mới nhập cư xã Thiện Trường mà tôi đã có thành kiến không mấy tốt. Tôi than thầm: mình đã muốn tránh mà đâu có thoát? Tưởng tình nguyện theo toán cắt rạ là tạm xa được bọn họ, không ngờ vẫn còn một người trong bọn họ lẽo đẽo bám theo. Bóng dáng bà Hoành xuất hiện đã làm tôi cụt hứng.

Sau khi nghe ông Phước dặn dò những điều cần thiết, chị Lâm dẫn toán cắt rạ tách khỏi tập đoàn. Việc cắt rạ khỏi lội nước, chỉ dùng liềm, khỏe hơn gặt lúa nhiều. Rạ cắt xong cứ việc ôm chất lên bờ ruộng để đợi khi thuận tiện tập đoàn sẽ cho chuyển về ủ mục làm phân bón.

Chị Lâm đưa chúng tôi đến một vùng ruộng cao. Toán cắt rạ chỉ có năm người nên chúng tôi luôn làm việc sát cạnh nhau. Lúc đầu phải làm việc bên cạnh bà Hoành tôi thấy khó chịu lắm. Nhưng rồi tôi ngạc nhiên khi gặp thái độ hoàn toàn mềm mỏng, thân ái của bà ta. Có phải vì ở đây bà chỉ một mình nên không dám sinh chuyện? Tôi cứ thắc mắc như thế và vẫn lặng lẽ, dè dặt đề phòng. Để tạo bầu không khí vui vẻ, chị Lâm tinh nghịch nói đùa:

– Cắt rạ thế này chị em mình tha hồ cà đũng quần lên gốc rạ. Đỡ ghiền lắm chứ không phải chơi đâu!

Bà Hoành cười tán thành:

– Đúng đó, vừa đỡ ghiền vừa đỡ mỏi nữa chứ!

Chị Lâm lại hỏi:

– Mấy cô có đồng ý như vậy không?

Ngoại trừ tôi, cả bốn người đều cười rộ lên vui vẻ. Cô Ánh nói:

– Cắt rạ hay bị gốc rạ nó làm mình nhột nhột một tí thôi nhưng đỡ mỏi thật. Còn hơn gặt lúa hay đi cấy cứ chổng mông ra mỏi lưng thấy bà!

Bà Hoành nghe cô Ánh nói thì cười khục khặc. Cô Ánh ngạc nhiên hỏi lại:

– Thím cười cái gì? Bộ cháu nói sai sao?

Bà Hoành vẫn cười:

– Không phải, nghe cô Ánh nói chổng mông tôi tức cười nhớ lại cái chuyện năm ngoái. Lần đó chị nói sao mà bị ra hầu xã một buổi còn nhớ không chị Lâm?

Lần này lại tới phiên chị Lâm cười sằng sặc:

– Bữa đó bọn tôi đang gặt lúa. Gặp lúc một phái đoàn của xã và mấy ông bộ đội đi tham quan cánh đồng đang đứng trên bờ phía sau lưng. Bà Vàng không biết bực mình chuyện gì đó nên cằn nhằn: “Mụ cô cha nó cực quá đi! Ngồi thì gốc rạ nó xóc vào đũng quần, đứng thì phải cúi xuống muốn gẫy lưng”. Tôi nghe tức cười bèn nói đùa: “Thì cứ chổng mông mà gặt cho đằng sau người ta nhìn chứ ngồi làm gì cho gốc rạ nó xóc đũng quần!” Mình tưởng nói mà cười đâu ngờ hôm sau cả hai chị em bị gọi ra xã làm kiểm điểm vì cái tội ăn nói bừa bãi, mất tư cách, thiếu văn hóa. Hôm đó có một chị ở ấp 2 cũng bị gọi tới làm kiểm điểm về tội phát ngôn bừa bãi như tụi tôi. Mấy người biết chị ta nói gì không? Chỉ vì một câu thôi: “Thóc lúa ở đâu bồ câu ở đó!”

Cô Ánh chận ngang:

– Hai thím phát biểu như vậy ra hầu xã là hợp lý rồi. Còn câu “Thóc lúa ở đâu bồ câu ở đó” chỉ là một câu tục ngữ ai cũng biết, tại sao bà kia lại phải làm kiểm điểm?

Chị Lâm cười:

– Tôi nói chưa hết mà. Vì thời gian ấy lúa chín nhiều sợ gặt không kịp, xã phải nhờ mấy đơn vị bộ đội đóng gần đó tăng cường gặt giúp. Phái đoàn của xã và toán bộ đội kia đi quan sát ruộng lúa cũng chỉ nhằm mục đích thảo luận việc đó. Thế mà chị ta nói như vậy có khác gì chửi xéo họ?

Mọi người cười vang lên. Cô Ánh lại hỏi:

– Thím nói chửi xéo ở chỗ nào?

Bà Hoành giải thích:

– Cô không biết đó chứ. Bộ đội thật ra thiên lôi chỉ đâu đánh đó thôi. Nhưng tỉnh hay huyện lại lúc nào cũng có sự trao đổi “hai bên cùng có lợi” chứ đâu dễ gì ai giúp đỡ không cho ai! Hai bên trao đổi với nhau dĩ nhiên hai bên đều được lợi. Rốt cục chỉ có nông dân chịu thiệt vì bao nhiêu tốn kém đều rút từ xương sống của nông dân. Vì vậy nói tới chuyện bộ đội đi gặt lúa giúp dân người ta nghĩ ngay là nói kháy, cấp lớn của họ cũng thấy nhột. Thế là đủ phạm rồi!

Nghe lời giải thích của bà Hoành tôi cũng đâm ngạc nhiên. Không ngờ bà ta cũng có cái giọng “phản động” như thế. Nhưng biết đâu đó là những lời cò mồi để người khác bắt chước nói theo rồi bị sập bẫy? Nghĩ thế nên tôi vẫn một mực im lặng. Thình lình bà Hoành hỏi tôi:

– Chị Ngọc sao buồn dữ vậy? Nói chuyện cho vui chứ!

– Tôi đâu biết chuyện chi mà nói!

– Chị mà không biết chi thì còn ai biết nữa! Dù sao thì đời cũng bầm dập rồi. Cứ vui mà sống chứ chị có buồn cũng vô ích thôi!

Tôi trả lời hơi gay gắt:

– Mấy bà đối xử với tôi như vậy mà bảo tôi vui được à?

– Trời ơi, chị hiểu lầm tôi rồi. Tôi có hề nói gì chị đâu mà mấy ông với mấy bà! Chắc chị Ngọc ghét tôi lắm nhỉ?

– Câu đó phải dành cho tôi hỏi bà mới đúng!

Bà Hoành nở một nụ cười nhân nhượng:

– Thôi thì đáng ai hỏi ai cũng được. Đồng hội đồng thuyền cả mà chị Ngọc! Nói thật, tôi rất có cảm tình với chị chứ không như bà Dục bà Huy đâu. Chị đừng hiểu lầm! Thấy chị bị họ mỉa mai bươi móc tôi cũng buồn lắm chứ. Tôi không hề tán đồng việc làm của họ đâu. Nghĩ mình gặp nhau hằng ngày mà cứ như đuôi với sừng tôi thấy khó chịu lắm. Hi vọng rồi đây chị sẽ hiểu tôi hơn!

Thấy giọng điệu bà ta không đến nỗi nào, tôi đâm ra tò mò:

– Cám ơn bà. Thế bà nói đồng hội đồng thuyền nghĩa là sao?

Bà Hoành nói:

– Chắc lâu nay chị vẫn tưởng tôi hùa với mấy người kia để ức hiếp chị? Không có đâu chị Ngọc! Tôi biết người ta xử ép chị nhiều lắm. Người ta vẫn gán cho chồng chị là thành phần ác ôn. Lại nữa, chị đẹp đẽ hơn người ta nhiều quá nên người ta càng ganh ghét. Tôi cũng có nỗi oan tương tự nên tôi thông cảm hoàn cảnh của chị lắm chứ!

Tôi chưa hẳn tin bà Hoành đã nói thật lòng. Biết đâu bà ta chẳng có một ý đồ nào khác. Tôi dè dặt nói:

– Ghét thương mặc họ, khi họ nói cạnh nói khóe tôi, tôi cũng có giận một chút, nhưng chuyện qua rồi thôi. Tôi đâu có để tâm làm gì!

Bà Hoành lại cười:

– Tôi giãi bày như thế chị vẫn chưa tin ư? Chị biết tôi trước đây thuộc thành phần nào không? Người ta gán cho gia đình tôi là địa chủ, kẻ thù của nhân dân đấy chị Ngọc ạ! Chỉ có điều oan cho tôi là địa chủ đôn lên chứ không phải địa chủ thật! Nhưng đôn hay thật thì gia đình tôi cũng tan nát rồi!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Gia đình chị đã tan nát rồi?

– Vâng, tan nát từ thời 53-54.

– Tan nát vì gia đình chị thuộc thành phần địa chủ?

– Vâng, nhưng thật tình gia đình tôi chỉ là địa chủ do địa phương đôn lên thôi chứ không phải địa chủ thứ thiệt!

– Tại sao lại có sự đôn lên như vậy?

– Thôi, chuyện đó dài dòng lắm, vả lại nói lúc này cũng không tiện. Có dịp tôi sẽ kể cho chị nghe sau. Bây giờ mình nên làm gì để mọi người cùng vui mà làm việc đã phải không chị Lâm? Tôi nghe nói cô Xuân Hương và cô Ánh hát hay lắm, giờ chỉ có năm chị em mình, hai cô hát cho nghe vài bản đi!

Chị Lâm tán thành:

– Ừ, phải đấy, hát vài bản cho vui đi hai cô lười biếng!

– Sao thím bảo bọn cháu lười biếng? – Ánh hỏi.

– Không lười biếng mà tình nguyện đi cắt rạ à? Lớn tuổi người ta mỏi lưng, còn mấy cô con gái nòng nọng như vậy mà cũng đi cắt rạ còn cãi gì nữa?

Ánh im lặng cười. Xuân Hương có vẻ rụt rè:

– Nhạc cách mạng cháu ít thuộc lắm!

Bà Hoành nói:

– Nhạc cách mạng ngày nào chẳng có hát trên loa. Chúng tôi muốn nghe là nghe nhạc vàng cơ! Phải không chị Lâm chị Ngọc?

Thế là Xuân Hương và Ánh thay nhau hát cho cả toán cùng nghe…

*

Từ cái lần nói chuyện cởi mở ấy trở đi, tôi và bà Hoành hay gặp gỡ chuyện trò với nhau. Tôi đã đổi cách xưng hô từ bà Hoành sang chị Hoành. Chị Hoành vốn ở cùng một kiệt với tôi nên việc qua lại cũng thuận tiện.

Một lần kia, giữa lúc đang cắt rạ, chị Hoành vừa cười khúc khích vừa nói:

– Có một cái tin hay lắm: Bà Huy bà Dục bà Nghĩa trước đây chế nhạo chị Ngọc đẹp nhờ lấy con “c… chó” để quệt môi quệt mép thế mà lúc này thấy họ cũng đang dùng con “c… chó” để quệt lên môi lên mép rồi đấy!

Cả bọn chúng tôi cùng cười ồ lên. Chị Hoành lại nói nhỏ với tôi:

– Thấy tôi hay gần gũi chị mấy bà ấy nhờ tôi hỏi xem chị mua thứ ấy ở đâu?

Tôi bật cười:

– Chị bảo họ bắt mấy con chó đực mà cắt lấy để dùng!

*

Trong thời gian dọn gốc rạ này, có một lần chúng tôi đã chứng kiến một cảnh tượng hành hạ súc vật hết sức thương tâm.

Hôm ấy chúng tôi đang cắt rạ bỗng nghe tiếng thét nạt “tắt, rì, hị, hẹ…” vang vang ở thửa ruộng bên cạnh. Chị Lâm nhìn sang phía người đang cày rồi nói:

– Hôm nay ông Bụi cày thửa ruộng gần đây rồi! Chà, con trâu Xe ông Bụi đang cày ấy giỏi nổi tiếng nhất ở xã Thiện Trường đó. Nó ngoan lắm, đã có sức dẻo dai lại hiểu được ý người điều khiển. Trước đây chủ nó là ông Lực cày thường chỉ nghe mấy tiếng tắt rì nhỏ nhẹ nay sao ông Bụi lại phải lớn tiếng quát tháo vậy không biết?

Xuân Hương hỏi:

– Sao thím biết được?

– Tao đi làm thuê ở xã này cả đời mà không biết được sao? Để tao kể cho nghe. Con trâu Xe ấy nó khôn lạ lùng. Hồi ông Lực con bà Vấn còn sống, ông ta chuyên dắt nó đi cày mướn. Ngày ngày ông cứ sáng sớm vai vác cày tay dắt trâu ra ruộng. Người và vật làm việc bên nhau không khác chi cha con. Khi cày, ông Lực cứ nhỏ nhẹ bảo tắt bảo rì, con Xe bao giờ cũng ngoan ngoãn làm theo lời chủ. Gần như ông Lực chẳng mấy khi phải đụng đến ngọn roi hoặc có đụng roi cũng chỉ đụng khẽ ra dấu hiệu nhắc nhở. Khi nghỉ giải lao, ông Lực thường mở ách cho con Xe gặm cỏ ở bờ ruộng. Lúc đang gặm cỏ, nếu thấy con Xe đi hơi xa, ông Lực chỉ cần quát “Xe, trở về!” là nó tự động quay lui. Đi dọc đường, những con trâu khác thường hay vói miệng ăn cắp những đọt sắn, đọt bắp, thậm chí cả những bụi lúa của người ta ở gần lề đường, riêng con Xe thì không. Không hiểu ông Lực đã huấn luyện cách nào mà con Xe trở thành thuần thục đến vậy. Bà Vấn thương nó như con. Nhiều khi nó nghỉ, bà không ngại dơ bẩn, bước vào chuồng để bắt từng con ve con lằn hoặc gãi tai gãi cổ cho nó. Rất nhiều lần bà tự đi kiếm rơm kiếm cỏ cho con Xe ăn. Khi ông Lực đã mất, nhiều người trong xã rất muốn mua lại con Xe. Mặc dù nhà thiếu người chăn nhưng bà Vấn nhất định không chịu bán. Ai cần mướn để cày, bà Vấn cũng có cho nhưng rất giới hạn. Bà luôn lo việc bảo vệ sức khỏe cho nó. Đến khi xã Thiện Trường lên hợp tác xã, ủy ban xã đã mất rất nhiều thì giờ để vừa đe dọa vừa thuyết phục bà Vấn mới chịu để họ hóa giá nó. Vừa hóa giá xong, liền có người tình nguyện dắt nó về để săn sóc. Nói vậy chứ săn sóc cái gì? Thấy nó làm được việc quá người ta cố giành để lợi dụng thôi. Bà Vấn đã khóc khi giao con vật dễ thương ấy cho hợp tác xã. Bây giờ chắc nó không còn được săn sóc tử tế như trước đâu…

Trong khi chị Lâm kể chuyện, bên kia tiếng quát nạt, hậm hẹ vẫn vang lên liên tục. Ban đầu ông Bụi còn gắng la hét chừng mực, nhưng dần dần giọng ông trở nên giận dữ thấy rõ.

– Sao hôm nay mày trở chứng ra vậy Xe? Muốn ăn roi hả? Muốn ăn roi thì tao cho ăn roi đây này!

Tiếng vun vút đen đét của chiếc roi cày rít lên nghe rợn người.

– Mày lì hả Xe? Mày muốn nằm vạ hả Xe?

Lại tiếng vun vút đen đét!

– Thế này thì tao làm sao để đạt tiêu chuẩn? Lì hả? Mày không chịu đi hả?

Tiếng vun vút đen đét của ngọn roi lại vang lên.

– Thằng cha mày thế này là mày hại tao rồi! Lì này! Lì này!

Cứ tiếng roi bên kia vút lên bên này tôi lại giật mình thon thót. Chị Lâm lẩm bẩm:

– Con trâu Xe ấy có bao giờ lười như vậy đâu? Không hiểu sao hôm nay nó trở chứng cũng kỳ thật!

Cô Ánh than thở:

– Nhưng sao ông Bụi ấy đánh nó dữ thế? Nó chịu đựng gớm thiệt! Mình mà bị một roi như vậy chắc chết!

Bên kia tiếng ông Bụi lại vang lên:

– Thằng cha mày nằm vạ này! Nằm vạ này!

Tiếng roi vút nghe liên tục quá khiến cả bọn tôi đều quay mặt nhìn sang. Chúng tôi ngạc nhiên thấy con trâu cổ vẫn mang cóng dù nhưng lại nằm ẹp trên đất ruộng. Ông Bụi vẫn vụt roi liên tiếp.

– Mày không chịu đứng dậy hả? Nằm vạ này! Nằm vạ này!

Có lẽ không nhẫn tâm được, chị Lâm kêu lớn:

– Anh Bụi ơi, anh đánh nó chi dữ vậy? Xưa nay nó có bao giờ lì đến thế đâu! Chắc có vấn đề chi đó chứ anh! Anh cho nó nghỉ một lát đi!

Ông Bụi trả lời với vẻ bực bội:

– Cô nghĩ thế này có chết tôi không? Làm sao tôi đạt được chỉ tiêu?

Tuy nói vậy nhưng ông Bụi cũng ngưng hành hạ con trâu. Ông bước lên bờ ruộng ngồi hút thuốc. Chị Lâm nói với chúng tôi:

– Nghe cái tiếng chỉ tiêu mà rùng mình. Xã mình đã có nhiều con trâu chết vì làm việc quá sức rồi. Nhưng người ta cứ đổ cho lý do này lý do khác chứ có ai nhận lỗi hành hạ trâu đến chết đâu!

Xuân Hương than:

– Tội nghiệp con vật nó không kêu khóc được!

Một lát sau chúng tôi thấy ông Bụi đang loay hoay mở dây ở cóng dù trên cổ con trâu. Chị Lâm ngạc nhiên nói:

– Chắc con trâu nó thế nào rồi. Sao ông Bụi lại mở cóng dù? Con Ánh mày chạy sang xem thử sao!

Cô Ánh đi một lát trở về nói:

– Con trâu nó ứa nước miếng ra cả vũng, hình như có lẫn cả máu nữa. Nước mắt nó cũng chảy đầm đìa. Hóa ra nó cũng biết khóc như người, thảm thiết quá. Nó nằm thở phì phò, ông Bụi để trước miệng nó một ôm cỏ nhưng nó không chịu ăn.

– Thôi, thế là xong rồi! Con trâu này cũng hi sinh vì chỉ tiêu rồi! – chị Lâm than.

Lát sau thì ông Bụi bỏ con trâu nằm đó, vác cày về nhà. Chị Lâm nói:

– Chắc con trâu bệnh cày hết nổi!

Thấy tội nghiệp con trâu, lâu lâu chúng tôi lại nhìn chừng xem nó có đứng dậy ăn không. Nhưng cả tiếng đồng hồ sau chúng tôi thấy nó vẫn nằm.

Mãi đến xế trưa ông Bụi mới trở lại với một đoàn người mang đủ cả dao búa, gánh gióng thùng gánh nước, thúng rổ. Lúc đó chị Lâm mới kêu lên:

– Hóa ra con trâu nó chết rồi!

– Họ làm thịt luôn ở đây à? – Tôi hỏi.

– Chắc vậy. Nếu không, làm sao đưa con trâu nặng nề ấy về được?

Trông đám người kia nói cười có vẻ hả hê lắm. Họ bắc thùng nấu nước sôi rồi xúm nhau mổ thịt con trâu ngay giữa ruộng thật.

Lúi húi với nhau một hồi có người kêu lên:

– Trời ơi, cái lá lách dập hết thế này biểu nó sống sao được?

– Dập lá lách à? Tội nghiệp chưa, nó là con trâu cày giỏi không một con trâu nào khác sánh kịp mà! Thế mà cứ bảo nó lười!

– Con vật sinh ra để phục vụ con người, nó chết cứ làm thịt ăn chứ than thở cái gì?

Mọi người đang kẻ làm người nói ồn ào bỗng có một người từ trong làng chạy ra, tất tả tiến về phía đám người đang mổ trâu. Hình như vì quá vội vã bị vấp váp nên người kia đã ngã xuống đứng lên nhiều lần. Khi người kia tiến gần đám đông thì có người nhận biết, anh ta thốt lên:

– Trời ơi, mụ Vấn – chủ cũ của con trâu Xe đó. Mụ cưng con trâu ấy lắm. Hơn bảy chục tuổi rồi mà nghe con trâu chết mụ còn lặn lội ra đây cũng tội nghiệp. Chốc nữa lựa miếng thịt nào ngon biếu cho mụ một miếng nghe.

Thấy bà Vấn xăm xăm bước đến, mọi người hồi hộp đợi xem bà ta xử sự như thế nào. Không chào hỏi ai một lời, bà Vấn tiến thẳng tới phục xuống ôm lấy cái đầu con trâu mà khóc tức tưởi:

– Xe ơi, con chết oan uổng lắm con ơi! Không đứa nào lo rơm cỏ cho con ăn mà ngày nào chúng cũng bắt con làm việc hết sức như vậy con làm sao sống nổi? Cái hợp tác xã này là cái hợp tác xã giết người, hợp tác xã bóc lột! Chỉ tiêu, chỉ tiêu cái mụ cô cha bây! Bây giết con tao chết oan uổng lắm! Khổ thân con tôi lắm con ơi là con ơi!

Ông Bụi thấy bà Vấn chửi bới om sòm như vậy thì nạt lại:

– Mụ phản động hả? Con trâu bị bệnh thì nó chết. Trâu của mụ hợp tác xã đã hóa giá cho mụ rồi, mụ đâu còn là chủ của nó nữa? Chửi lạng quạng coi chừng vô tù!

Bà Vấn càng giận dữ hơn:

– Mụ cô cha thằng Bụi! Chính mày là kẻ giết con tao! Nếu mày không chạy đua với cái chỉ tiêu quái ác đó thì con tao đâu đến nỗi thế này! Mày nói tao không còn là chủ con trâu nữa à? Từ trước tao vẫn yêu thương nó, săn sóc nó như con tao! Nó là con tao mà! Mà hợp tác xã đã trả nợ hết cho tao đâu? Tự chúng nó hóa giá cho tao rồi mỗi năm trả cho tao một ít. Bây giờ chúng đã trả cho tao được một phần ba số tiền hóa giá chưa? Mụ cô cha thằng Bụi! Con chết oan uổng, đau đớn lắm Xe ơi! Con có linh thiêng thì về húc cho chúng chết hết đi!

Chửi bới bưa bà Vấn lại ôm đầu con trâu nằm tại chỗ mà khóc. Ai khuyên dỗ gì bà cũng coi như không. Cuối cùng người ta phải cho người về báo tin cho cô Lê, con gái của bà, nhờ cô đến khuyên nhủ dắt bà về.

Cô Lê phải năn nỉ dỗ dành mẹ cô cả tiếng đồng hồ bà mới chịu nghe.

Khi cô Lê dắt bà Vấn bước được mấy bước, một người chạy theo đưa cho cô một miếng thịt lớn. Bà Vấn thấy vậy lại nổi điên lên:

– Bây bắt tao ăn thịt con tao hả? Quăng lại cho nó, cho bè đảng nó ăn cho sướng!

Cô Lê hoảng sợ vừa khoát tay từ chối vừa hối hả kéo mẹ về. Hai mẹ con đi đã xa mà tiếng chửi rủa của bà Vấn vẫn còn vẳng lại.