THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 7)

CHƯƠNG    12

Thấm thoắt toán tôi cắt rạ đã được một tuần. Sáng ấy chị Hoành nói với tôi:

– Phần ruộng cần cày để gieo mạ và ươm đất tập đoàn giao mình cắt sắp xong. Bọn mình sắp trở về đi gặt lúa tiếp với tập đoàn. Hôm nay là ngày giỗ bố tôi, buổi tối mời chị Ngọc lại nhà uống bát nước.

– Chị mời ai có đông không?

– Không, chỉ có một ông anh họ, chị Lâm và chị thôi. Tôi đâu dám làm rình rang.

– Lúc nào? Tới sau khi mình cắt rạ về được không?

– Vâng, được! Tôi có xin chị Lâm về sớm hơn một chút để lo sắp xếp công việc.

– Dạ, tối tôi sẽ đến. Nhưng chị nhớ còn thiếu tôi một món nợ đó nghe.

– Vâng, nhớ rồi! Lần trước tôi có hứa với chị, tôi sẽ trả trong dịp này đấy.

Khi chị Lâm và tôi đến nhà anh chị Hoành thì việc cúng kiến đã hoàn tất, mâm cỗ đã dọn sẵn đợi chờ. Ăn uống xong, anh Hoành đem ghế ra sân ngồi nói chuyện với ông anh họ. Chị Hoành thì dồn chén bát xuống bếp rồi lên ngồi kể chuyện cho chị Lâm và tôi nghe.

– Hồi nhỏ tôi tên là Nụ, con đầu trong gia đình. Thời cải cách ruộng đất tôi mới lên mười sáu, bố tôi đã hứa gả tôi cho anh Hoành tức chồng tôi bây giờ đó. Hai đứa em tôi đều là con trai, thằng lớn tên Khôn mới lên mười, thằng Tài mới lên bốn. Gia đình tôi nói là giàu có, thật tình cũng chỉ ở hạng trung. Bố tôi chỉ có cỡ vài ba mẫu ruộng với một con bò chứ mấy! Ngặt vì thời cải cách chính quyền ra tiêu chuẩn cho xã tôi phải đấu tố ít nhất là năm tên địa chủ…

– Cũng tiêu chuẩn, chỉ tiêu nữa! – chị Lâm chen vào.

– Vâng, đấu tố địa chủ cũng phải đặt ra tiêu chuẩn số lượng. Xã tôi thật sự không có người giàu lớn mà chỉ có hạng xoàng xoàng. Viên bí thư xã bàn với viên đội trưởng đội cải cách ruộng đất lựa một số trung nông trong xã đưa ra cho ủy ban nhân dân xã biểu quyết nâng lên hàng địa chủ cho đủ con số được ấn định. Bố tôi không may bị lọt vào danh sách những người bị đôn lên đó. Thấy tình thế nguy cấp có thể ảnh hưởng đến tương lai của tôi, bố mẹ tôi vội làm đám cưới cho chúng tôi. Thủ tục hôn sự được làm giản tiện chẳng khác gì một đám cưới chạy tang. Tôi vừa về nhà chồng thì gia đình tôi bị cô lập, bố tôi bị bắt giam, tài sản bị niêm phong. Sau đó bố tôi bị đưa ra đấu tố, bị ném đá và đánh đập đến mang bệnh mà chết. Mẹ tôi và em Khôn thì bỗng nhiên biệt tích. Người trong làng cho rằng hai mẹ con đã trốn lọt vào Nam, nhưng tới giờ tôi vẫn chưa hề bắt được tin tức gì về hai người. Khốn khổ cho đứa em út của tôi, thằng Tài mới bốn tuổi còn kẹt lại ở nhà. Nghe nói nó chịu đói chịu khát một thời gian dài mà họ hàng xóm giềng không ai dám giúp đỡ gì cả. Nhà cha mẹ tôi bị canh giữ, tôi sợ quá đâu có dám về thăm em. Sau này tôi nghe người ta kể lại em Tài đã chết bên một đống rác chị ơi! Tội nghiệp nó quá! Cái hình ảnh và tiếng nói của em Tài lúc chia tay tôi không thể nào quên được. Với đôi mắt ngây thơ đẫm lệ, nó kêu van: “Chị ở nhà với em, chị đừng đi chị Nụ ơi!”. Hăm mấy năm rồi tôi vẫn chưa quên đôi mắt đẫm lệ và tiếng kêu van thống thiết của nó được. Sau này lâu lâu tôi lại mộng thấy nó. Hôm rồi tôi cũng mộng thấy nó nữa, tôi thấy thân hình nó ốm teo, chỉ mặc một cái áo rách, đang bò lên đống rác bốc rác mà nhai! Xúc động quá tôi bật khóc òa lên rồi anh Hoành đánh thức tôi dậy…

Nghe chuyện tôi cũng không cầm được nước mắt, bèn hỏi:

– Thế chị có biết nó được chôn ở đâu không?

– Biết, một người trong xóm đã chỉ cho tôi. Tôi đã cải táng cho em Tài cùng một lượt với mộ bố tôi. Nhưng nay tôi vào sinh sống ở đây, không biết bao giờ mới về thăm mồ mả được!

Nói đến đây chị Hoành khóc sụt sịt. Vừa lúc đó thằng con nhỏ của chị chạy lại nói:

– Mẹ treo mùng cho Dần ngủ đi!

– Ừ, để mẹ nói chuyện một chút nữa.

Chị quay sang nói với chúng tôi:

– Thằng Dần này không hiểu sao nó lại giống cậu Tài nó một cách lạ lùng. Nếu em Tài còn sống giờ đây chắc nó cũng có vợ con rồi. Cứ thấy thằng Dần tôi lại nhớ đến em Tài. Có khi nào vì lưu luyến tôi, Tài nó đầu thai lại không hở mấy chị?

Chị Lâm nói:

– Theo thuyết nhà Phật trường hợp như vậy vẫn có xảy ra. Nhưng cháu Tài khi chết tuổi còn thơ ấu chưa đến nỗi mắc tội lỗi gì sao lại bị đọa xuống làm người nữa? Không có đâu!

Tôi nghe chị Lâm nói thì tức cười hỏi lại:

– Chị cho làm người là bị đọa à?

Chị Lâm nói:

– Chứ gì nữa? Cô không thấy làm người như tụi mình ngày nào cũng làm việc quần quật từ tinh sương cho tới gần nửa đêm mà chẳng bao giờ đủ ăn sao? Như vậy không phải bị đọa ư? Nhưng thôi, sự hiểu biết của tôi thô thiển lắm, không dám bàn đến chuyện đó nữa. Bây giờ cũng khuya rồi. Mình xin phép về để chị Hoành mắc mùng cho cháu ngủ.

Thế rồi chúng tôi cáo từ anh chị Hoành. Ra tới đường, chị Lâm nói với tôi:

– Ngồi ráng nghe bà Hoành nói chuyện cũ thêm buồn chứ được gì! Chế độ này nói chi ngạ mà nói!

      CHƯƠNG    10

Sau khi cắt dọn xong số rạ đã được chỉ định, chúng tôi lại trở về làm việc với tập đoàn. Lúc này tập đoàn 9 đang gặt số ruộng vùng đầm lầy trũng thấp, phần ruộng mầu mỡ nhất và cũng xa nhất của xã. Dù cấy hay gặt ở số ruộng này, nông dân đều phải đi bằng thuyền. Ở Thiện Trường người ta vẫn gọi thuyền lớn là nôốc. Thuyền con thì có hai loại là ghe và tròng. Ghe đan bằng tre, nức bằng mây rồi trát dầu rái hoặc dầu hắc. Tròng cũng ghép ván như nôốc nhưng nhỏ hơn nhiều.

Thường năm rất ít khi có mưa trong vụ gặt đầu, nhưng không hiểu sao mấy hôm ấy trời có vẻ u ám và nực nội khó chịu. Vụ này lúa được quá. Cả cánh đồng rặt những tấm thảm lúa bông nặng trĩu. Nếu gặp mưa, dù mưa lớn hay nhỏ đều không thể tránh được sự thiệt hại. Nhất là số ruộng thấp này dễ bị ngập nước, sự thiệt hại sẽ càng lớn. Vì thế, xã phải xin huyện cho bộ đội địa phương tăng cường gặt giúp.

Hôm ấy là lần đầu tiên trong đời tôi bước chân xuống một chiếc thuyền. Trên thuyền đã có nhiều người xuống trước ngồi hai dãy bên mạn. Vừa bước một chân vào thuyền tôi đã bị chao người vì thuyền lúc lắc. Anh Sự ngồi ở đầu thuyền đứng dậy vói tay nắm tay tôi kéo giật lên:

– Coi chừng té, coi chừng té!

Tôi cố giữ thăng bằng để bước vào giữa thuyền kiếm một chỗ ngồi. Ông Phước đã ngồi sẵn ở mạn thuyền, thấy tôi tới ông vội nhích ra chừa một khoảng trống:

– Chỗ này còn rộng, cô Ngọc ngồi xuống đi!

Tôi đứng lại, quay mông về phía mạn thuyền toan ngồi. Bất ngờ ông Phước ngửa bàn tay đặt ngay vị trí tôi sắp tọa xuống. Đang thuận đà, thuyền lại chòng chành, tôi không thể nào dừng kịp. Thế là tôi ngồi tõm lên bàn tay của ông ta. Đơm bẫy sập được mồi, ông Phước bóp mạnh một cái khiến tôi ngượng chín cả người. Điên tiết lên vì thẹn, tôi thốt lên:

– Đồ mất dạy!

Nhiều người cười ầm lên. Bao nhiêu cặp mắt trong thuyền đồng loạt hướng về phía tôi. Tôi vùng vằng đứng bật dậy. Nhưng chiếc thuyền cứ lúc lắc làm tôi chao đảo muốn ngã chúi về phía trước. Chị Hoành ngồi gần đó liền nắm tay kéo tôi ngồi xuống cạnh chị. Ông Phước bày trò xuýt xoa:

– Trời ơi, cô Ngọc làm gì cũng phải có ý một tí chứ! Dập cả bàn tay tôi rồi! Giờ làm sao tôi gặt lúa?

Tiếng cười lại nổi lên râm ran. Tôi sùng gan định ăn thua với ông ta nhưng chị Hoành bấm tay tôi:

– Xuỵt, thôi bỏ đi.

Tôi giận muốn trào nước mắt. Tôi vẫn nghĩ những cán bộ cách mạng dù thế nào đi nữa họ vẫn cố giữ một bộ mặt đạo đức trước mắt người dân chứ! Ai ngờ lão Phước dám để lộ cả bản chất thô tục của một tên côn đồ giữa chợ thế này!

Tôi đã cố nén cơn giận làm lơ. Nhưng lão Phước đâu chịu buông tha! Khi đã phân chia công việc xong, lão cố tình đi ngang trước mặt tôi, đưa bàn tay lên mũi hít hít rồi xuýt xoa:

– Khốn khổ cái bàn tay của tôi!

Chị Lâm cũng bực bội vì cử chỉ nham nhở đó. Sợ tôi phản ứng, chị vội kéo tôi bước xuống ruộng, nói nhỏ:

– Kệ mẹ lão! Giờ thì cô hiểu lời tôi nói bữa trước rồi chứ! Cô phải đề phòng đấy. Nhan sắc của cô làm thằng chả thèm rệu nước miếng rồi đó, nó chẳng tha đâu!

Tôi bực dọc nói cứng:

– Với ai chứ gặp em, em sẽ làm tới tay, em không ngán đâu!

– Cô lầm rồi, cô dựa vào thế lực nào để chống với lão ta? Bình điểm, cắt công tác, phê bình tác phong, thẩm định thái độ chính trị của mọi người trong tập đoàn cũng do một tay lão hết. Không những chuyện đói no của gia đình cô tùy thuộc vào lão mà đến sinh mạng chú Thành cũng tùy thuộc vào lão nếu chú ấy còn nằm trong tù. Mình có nói cũng chẳng ai nghe đâu! Cô phải hiểu được điều đó chứ!

Tôi hiểu chị Lâm có lòng tốt lo sợ cho tôi. Nhưng tôi cũng tin mình còn một lối thoát khác. Tôi biết anh Hảo đang lập thủ tục bảo lãnh ba mẹ tôi sang Pháp. Nếu ba mẹ tôi đi được, tôi có thể là người được thừa hưởng ngôi nhà của ông bà, tôi sẽ về Sài Gòn. Hoặc giả nếu phải bán ngôi nhà ấy, ba mẹ tôi cũng sẽ cho tôi một số vốn, tôi sẽ đi buôn. Hơn nữa, hiện tại ba tôi đang dịch sách cho chính phủ, được ngợi khen, trọng vọng, ba tôi có đủ uy tín để cứu vớt nếu tôi gặp khó khăn. Nghĩ vậy nên tôi nói:

– Vậy chắc rồi em cũng phải đi khỏi chỗ này thôi!

Không rõ được những ý nghĩ thầm kín của tôi nên chị Lâm gạt phăng:

– Chạy trời không khỏi nắng cô Ngọc ơi! Tôi thương cô là con nhà danh giá, sợ cô lầm chước quỉ mà bị đọa nên phải đem lời thành thật mà khuyên. Cô phải cố nhịn và gắng giữ mình. Thời buổi này điên đảo lắm cô Ngọc à!

Trước thái độ chí tình của chị Lâm, tôi cảm động nói:

– Thành thật cám ơn chị, em sẽ nghe lời chị!

Suốt buổi gặt sáng hôm ấy tôi luôn đi sát cánh chị Lâm và chị Hiền. Tôi vừa làm vừa nói chuyện bâng quơ với hai chị để quên nỗi bực mình và khỏi nghe những người khác buông lời đùa cợt. Hành động vô sỉ của ông Phước là một xúc phạm quá lớn đối với tôi. Sự nể trọng ông ta trong tôi giờ đã tan biến hết. Những ngày sắp tới tôi làm sao nhìn mặt ông ta đây? Tôi nhất định phải tìm cách rời khỏi tập đoàn này!

Chúng tôi xuống ruộng gặt được một lát thì mấy toán bộ đội lần lượt đến tiếp tay. Họ hăng hái làm việc, cười đùa pha trò vui nhộn quá khiến nỗi bực bội trong tôi cũng dịu dần. Không mấy chốc tập đoàn đã gặt được nhiều đám ruộng lớn. Chiều hôm trước trời chuyển mưa nhưng không ngờ sáng nay lại nắng tốt. Cồi lúa phơi trên gốc rạ vàng sẫm cả một khoảnh rộng mênh mông trông thật sướng mắt.

Bữa ăn trưa hôm đó do hợp tác xã đài thọ: cơm trắng, cá kho, thịt heo kho với trứng vịt, canh rau muống, lại có cả chè đậu xanh để tráng miệng. Quân dân vui vẻ cùng ăn với nhau. Trong khi ăn, chị Hiếu nói đùa với tôi:

– Ngày nào cũng có bộ đội đi gặt giúp thế này mình nhờ biết bao nhiêu chị há! Sáng nay tôi chỉ bới một gói muối ớt, may được gặp trời thương!

Nhớ lại câu chuyện “thóc lúa ở đâu bồ câu ở đó” chị Lâm kể trong thời gian cắt rạ tôi hơi tức cười, nhưng tôi lại nói:

– Mình cũng trông được như vậy thôi!

Mà thật thế. Từ khi làm việc với tập đoàn, đây là lần đầu tôi được ăn một bữa rất ngon miệng (tôi nghĩ là miễn phí). Vì bộ đội gặt giúp khỏi trả công nên xã cũng lo thù tiếp họ xứng đáng để lấy lòng. Nhờ có họ chúng tôi lại còn được nghỉ trưa lâu hơn.

Nhưng giữa trưa đang nắng, mọi người đang nghỉ, thình lình mây đen ùn ùn kéo đến trong chốc lát đã phủ kín trời. Rồi một cơn gió mang đầy hơi lạnh thổi qua làm nhiều người rùng mình. Ông trưởng, ông phó tập đoàn đều hoảng hốt thúc hối mọi người cấp tốc gom bó lúa lại để chuyển lên nôốc. Đội quân bác Hồ thấy mây đen kịt sà xuống thấp vội vàng hú nhau rút lui. Mọi người trong tập đoàn thấy vậy đều lắc đầu thất vọng. Ông Phước nói:

– Họ đâu có chuẩn bị áo mưa! Mặc kệ họ, việc của mình mình phải lo! Nếu không gom bó kịp lúa ướt hết sẽ mất công gấp bội!

Thế là mọi người túa ra làm việc cực lực. Nhưng mới gom bó được hơn một nửa thì trời đã đổ mưa sầm sập. Trận mưa kéo dài ngót một giờ làm ai nấy tối mặt tối mũi. Một số người phải thay phiên nhau múc nước trong các thuyền đổ ra ngoài. Mưa lớn đến nỗi mọi người, dù mặc áo mưa hay không đều ướt như chuột lột. Ai nấy đều run lúi úi. Tôi không mang áo mưa theo nên che ké áo mưa của chị Hiền. Chúng tôi ngồi co ro trông cơn mưa sớm dứt. Phần lúa chưa gom kịp đều ướt nhèm nhẹp. Tôi nghĩ chắc sau cơn mưa chỉ có nước về nghỉ chứ làm gì được nữa!

Nào ngờ thấy mưa vừa nhẹ hạt hai ông trưởng, phó tập đoàn lại thúc giục mọi người gom bó tiếp. Chị Vàng lạnh run cầm cập đề nghị:

– Bây giờ ai nấy lạnh cóng hết làm sao mà làm! Xin cho về nghỉ ngày mai làm tiếp được không?

Ông Phước nói:

– Không được! Lúa gặt rồi nếu không gom bó kịp lỡ nước dâng lên cá nó rỉa hết.

Thế là chúng tôi phải cắn răng chịu lạnh để tiếp tục làm việc. Mà quả nước dâng thật, nhiều chỗ cồi lúa bị gió nước đưa đẩy làm rối beng, nặng chình chịch khiến việc gom bó và di chuyển càng thêm vất vả. Gom bó chưa xong trời lại chuyển mưa trận khác mới ngán chứ! Chúng tôi vừa làm vừa hồi hộp vì mưa có thể đổ xuống lúc nào. Nhưng cũng may là trời chưa mưa liền. Mãi tới khi chúng tôi chuyển hết số lúa mới gặt xong về sân phơi xong trời mới mưa trở lại…

Hơn nửa ngày dầm nước đã làm cho người tôi vốn đã uể oải lại càng nhừ nhuyễn thêm. Đêm đó tôi ngủ như chết. Gần sáng bà nội phải vừa kêu vừa lay người mấy lần tôi mới dậy được. Nghe ngoài trời vẫn còn mưa rả rích, tôi ngạc nhiên hỏi bà nội:

– Mưa như vậy đâu có thể đi gặt, mẹ gọi con dậy làm gì?

Bà nội nói:

– Kẻng đánh báo thức mấy lần rồi tao mới kêu mi dậy chứ! Năm ni mưa gió cũng lạ đời thật, giữa mùa hạ lại có mấy trận mưa kéo dài chưa từng có. Không hiểu vì răng đang mưa người ta vẫn cứ đánh kẻng như rứa nữa. Thôi thì con cứ lo cơm nước cho sẵn, người ta gọi thì đi, không gọi thì thôi!

Người tôi giống như đang chuyển sốt, tôi cất mình dậy không muốn nổi. Tôi vẫn còn chút hi vọng được nghỉ một ngày hoặc ít nhất cũng ra đồng trễ vài tiếng. Nhưng dùng dằng một chút rồi tôi vẫn phải lục đục thắp đèn nhúm lửa. Ngặt nỗi trận mưa hôm qua làm nước tràn vào nhà làm ướt củi ướt bếp nên việc nhen nhúm mất khá nhiều thì giờ. Chuẩn bị chưa tới đâu tôi đã nghe tiếng anh Sự kêu trước cửa:

– Chị Ngọc cơm nước xong chưa, hôm nay vẫn đi làm như thường đó nghe!

Tôi hỏi lại:

– Mưa thế này làm sao mà gặt anh Sự?

– Dù mưa cũng phải gặt! Nhưng chắc mưa không lâu nữa đâu. Chẳng qua là do ảnh hưởng bởi trận bão đâu từ bên Ấn Độ hay Phi Luật Tân chi đó chứ mùa này mấy khi có mưa. Nếu không gặt kịp để nước ngập lúa phần cá ăn phần mọc mộng hoặc ung thối hết còn gì?

Thế là cái hi vọng được nghỉ một ngày hoàn toàn tan biến. Tôi lại uể oải bước ra khỏi nhà. Đường sá chỗ nào cũng trơn trợt đến phát ớn. Lúc tôi tới bến đậu thuyền thì mưa đã thưa hạt, bầu trời đã hơi sáng. Nước lên cao nhiều so với hôm trước. Tôi thấy có một số người lạ cùng lên nôốc, đó là người của tập đoàn 7 và tập đoàn 8 tăng cường. Ngoài những chiếc nôốc còn có một số tròng cũng được chèo ra đồng. Tôi lên nôốc ngồi giữa chị Hiếu và chị Vàng. Chị Vàng là một người khắc khổ rất ít khi có được một nụ cười. Tôi vẫn gặp chị hằng ngày nhưng chưa có dịp nói chuyện với chị. Thấy không khí hơi buồn tẻ, tôi quay sang chị gợi chuyện:

– Hôm nay chắc còn lạnh lắm chị há?

Chị nói mà không quay sang tôi:

– Có lạnh cũng phải cắn răng mà chịu chứ biết kêu với ai?

Chị Hiếu cũng xen vào:

– Hôm nay có người mấy tập đoàn khác gặt giúp chắc khỏi nhờ mấy ông bộ đội!

Chị Vàng ra vẻ bực mình:

– Mấy tập đoàn khác gặt giúp đỡ tốn công làm cỗ. Bộ đội gặt giúp thì xã phải làm cỗ. Nói là hợp tác xã đài thọ chứ thiệt ra khấu trừ vào xương sống mình chứ đâu! Ngày hôm qua đó, gặt đâu đã được bao nhiêu, ăn xong cỗ thấy mưa đến là dông sạch!

Tôi lại tức cười nhớ tới câu “thóc lúa ở đâu bồ câu ở đó”. Nhưng nhìn lại thấy chị Vàng không muốn bắt chuyện tôi im luôn.

Nôốc đã tới đích mà tôi vẫn không hay. Khi thấy ông Phước và anh Sự lội xuống cắm sào buộc nốôc tôi mới đâm hoảng: trời gió lạnh mà nước đã lên tới háng chịu sao nổi! Ruộng sâu quá nên nhìn qua chỉ thấy những bông lúa xập xõa trên mặt nước. Mọi người phải vịn nhau, đỡ nhau để bước xuống. Có chỗ nước ngập thấu lưng quần. Ai nấy đều phải dò dẫm từng bước, trợt ngã là có thể bị thương bởi chính lưỡi vằng của mình. Việc vơ lúa, cắt lúa trong nước ngập rất lấn cấn, khó khăn. Những con cá lên theo nước thấy người lội tưởng mồi cứ cắn vào chân những phát đau điếng làm nhiều người phải kêu trời. Chỉ có một điều thuận lợi, ai mắc tiểu tiện cứ tiểu ngầm thoải mái. Trong cơn lạnh lẽo chốc chốc được ấm ấm hai bắp vế một chút cũng hay hay…

Người ta chia ra cứ một hàng bốn năm người thợ gặt lại có một người đẩy một chiếc tròng theo sát lưng để chứa lúa vì nước ngập không thể để lúa trên gốc rạ như thường lệ. Thợ gặt được một nắm lúa lại quay ra đằng sau bỏ lên tròng. Cứ chiếc này vừa đủ nặng lại có người đẩy chiếc khác đến thay. Lúa gặt xong được tập trung lại một chỗ để bó rồi chất lên nôốt.

Khi nghe lệnh nghỉ để ăn trưa, tôi mừng hết lớn. Thật tình ai cũng đói bụng từ lâu nhưng tập đoàn cứ bắt phải làm gắng vì công việc quá gấp rút. Tôi với bốn năm phụ nữ khác cùng lên ngồi ăn cơm trên một chiếc nôốc. Cơm xong, tôi vừa đứng dậy toan vói lấy bình nước thì cảm thấy một vật gì lăn nhột nhột từ háng xuống theo ống quần rồi lọt ra ngoài. Nhìn cái vật vừa rớt xuống tôi giật mình: một con đỉa mình căng tròn to hơn ngón chân cái! Tôi kinh hãi hét lên khiến nhiều người phải nhìn lại. Ai nấy đều xuýt xoa vì con đỉa quá lớn. Chị Vàng bỗng chỉ vào chân tôi:

– Máu ra quá nhiều đấy kìa!

Bấy giờ tôi mới để ý – cả một vũng máu ở ngay dưới chân mình. Thế nhưng tôi chẳng biết đỉa đã cắn nơi nào trong người. Chẳng thấy đau đớn chỗ nào cả. Tôi vén ống quần lên thật cao nhưng vẫn chỉ thấy một đường máu đang tiếp tục chảy xuống. Tôi hết sức lúng túng trong việc tìm kiếm vết thương vì lúc ấy mọi người đều chú ý đến tôi. Chị Vàng thấy vậy kêu to lên:

– Các ông tránh đi chỗ khác giùm để chị em phụ nữ người ta làm việc. Cô Ngọc bị đỉa cắn máu ra dầm dề chưa biết chỗ nào đây này! Không chừng phải đưa đi cấp cứu đấy!

Mấy người đàn ông hiểu ý bèn tránh ra hết. Các bà xúm quanh tôi thành một vòng. Chị Lâm vừa cười vừa nói như hét:

– Cởi tuột xuống chứ chần chờ chi nữa! Tới nước này mà còn e lệ nữa trời!

Vừa nói chị vừa lôi tuột quần tôi xuống. Tôi càng kinh hãi biết bao khi nhận ra cái quần lót mình đỏ lòm cả máu. Mất hết cả tính tự chủ, tôi run người nhìn quanh:

– Biết làm sao bây giờ mấy chị? Ai cứu tôi với!

Chị Vàng lập tức chạy đến xin anh Sự mấy dúm thuốc rê, chị bảo tôi nhém vào chỗ máu ra. Nhưng nhém dúm nào máu lại đẩy trôi dúm ấy. Chị Lâm sợ quá kêu lớn:

– Ông trưởng ơi, mau cho ai đưa cô Ngọc về gấp! Máu ra không cách nào cầm được đây này! Mau lên không cô ấy xỉu mất!

Ông Phước nói lớn:

– Đỉa cắn làm gì mà quan trọng dữ vậy? Đang lúc thời vụ gây cấn làm mất công mất việc quá!

Chị Vàng nói:

– Mạng người không thể coi thường được đâu! Đỉa nó cắn chỗ hiểm chắc phải đi nhà thương thôi! Phải có một phụ nữ để dìu cô ta, một đàn ông chèo tròng đưa về gấp mới được!

– Thôi được rồi, có bà nào tình nguyện đưa cô Ngọc về nhà không?

Chị Vàng nói lớn:

– Ông trưởng phải cho thêm người mới được! Một bà làm sao vừa chèo tròng vừa dìu đỡ cô Ngọc?

Một số người ở các tập đoàn tăng cường cũng nói giúp vào. Rốt cục ông Phước cũng chịu cắt hai người đưa tôi về: chị Vàng và ông Tuất. Nhưng ông Phước dặn hai người phải trở ra đồng ngay sau khi đưa tôi về tới nhà.

Máu từ người tôi vẫn cứ tiếp tục rỉ ra. Lúc ấy tôi sợ chết lắm. Chồng tôi còn biệt tăm tích, bà nội, ông bà ngoại đều đã già nua, nếu tôi có mệnh hệ nào số phận ba đứa nhỏ của tôi sẽ ra sao? Nghĩ đến chúng, tôi không cầm được nước mắt. Tôi cứ rên rỉ: “Trời ơi, chồng tôi, con tôi…”. Chị Vàng thấy thế an ủi:

– Như cô Ngọc mà phải đi làm ruộng thật là chuyện nghịch đời! Nhưng sông có khúc người có lúc, cô cứ gắng vượt nghịch cảnh rồi trời sẽ ngó lại cô ạ!

Tôi lo sợ hỏi chị:

– Xưa nay chị thấy ai bị gặp trường hợp như em chưa? Tình trạng em có nguy lắm không chị?

Chị Vàng ngập ngừng:

– Thật tình tôi chưa thấy trường hợp nào như thế. Nhưng cô Ngọc yên chí đi! Con người ta có số cả!

Nghe chị Vàng nói kiểu đó tôi càng bi quan thêm. Lên tới bến làng, tôi liền thất thểu bước về nhà. Chị Vàng kêu lại:

– Cô phải bước chậm chậm kẻo máu chảy nhiều thêm đó!

Chị Vàng vội chạy theo dìu tôi đi trong khi ông Tuất ở lại cột tròng. Mới đi được một đoạn thì may gặp thằng Tí con tôi đang chơi với lũ trẻ giữa đường. Tôi bảo nó:

– Mẹ bị bệnh. Con chạy đi kêu cô Mỹ Hạnh đến chích thuốc cho mẹ ngay lập tức!

Chị Vàng giục thêm:

– Cháu phải chạy thật mau mới được! Má cháu đang bị bệnh nặng!

Thằng nhỏ nghe xong hoảng hốt co dò chạy biến.

Cô Mỹ Hạnh là người quen biết với gia đình tôi từ trước. Cô làm việc ở trạm xá cũng không xa nhà tôi mấy. Vừa đến gần ngõ nhà tôi chị Vàng đã kêu toáng lên:

– Bác Thắng ơi, bác có ở nhà không?

Bà nội nghe tiếng hấp tấp bước ra. Chị Vàng vừa dìu tôi vào nhà vừa kể sự việc xảy ra. Bà nội thảng thốt kêu lên:

– Răng mà xui xẻo ri trời! Chừ biết mần răng đây?

Chị Vàng nói:

– Có kêu y tá rồi. Bác lo giúp cô Ngọc rửa ráy đi đã!

Bà nội vừa dẫn tôi ra nhà sau vừa niệm lia lịa: “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát! Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát!…”. Chị Vàng sốt sắng múc một thau nước bưng theo chân tôi. Trong khi bà nội đang giúp tôi rửa ráy thì nghe tiếng ông Tuất và mấy người hàng xóm nói chuyện bên ngoài. Chị Vàng liền nói với bà nội:

– Bác ra nói chuyện với họ đi, để đây tôi giúp cô Ngọc cũng được!

Thấy bà nội bước ra, ông Tuất liền hỏi:

– Bác có cách gì chữa cho cô Ngọc hay phải đưa đi nhà thương?

Bà nội bối rối:

– Tôi cũng chưa biết tính cách chi đây! Nghe nó nói có kêu y tá rồi!

Vừa lúc ấy thì cô Mỹ Hạnh tới. Cô đi thẳng đến chỗ tôi rồi cùng chị Vàng dìu tôi lên giường ngủ. Sau khi xem sơ chỗ bị đỉa cắn, cô Mỹ Hạnh chích liền cho tôi hai mũi thuốc cầm máu. Chích xong cô dặn:

– Chốc nữa nếu máu không cầm thì phải đưa đi nhà thương.

Thế rồi cô Mỹ Hạnh trở về trạm xá. Ông Tuất và chị Vàng cũng ai về nhà nấy. Họ nói với nhau:

– Ông Phước này cũng kỳ thật. Con người ta bị nạn thế này mà không lo, lại cứ sợ mất công bỏ việc.

Mấy bà già hàng xóm ở lại ăn trầu nói chuyện với bà nội. Ba đứa con tôi nghe tôi bị bệnh cũng bỏ chơi về quanh quẩn trong nhà. Tội nghiệp bé Hoa cứ chạy ra chạy vào hỏi mẹ lành chưa. Thấy lũ con tôi vừa thương vừa lo. Đã chích hai ống thuốc cầm máu mà máu vẫn không cầm, tôi hết sức thất vọng. Gần nửa giờ sau chị Vàng trở lại hỏi:

– Thế nào rồi, máu cầm chưa?

Tôi buồn bã trả lời:

– Máu vẫn tiếp tục ra chị ơi! Chắc phải đi nhà thương thôi!

Bà Tám hàng xóm hỏi bà nội:

– Nhà chị có đũa mun không?

Bà nội chợt nhớ ra:

– À, có, có, có!

Rồi bà nội lật đật chạy vào bàn thờ lấy ra cả nắm đũa đen bóng. Bà Tám nói:

– Chị lấy ra chín chiếc, cứ van vái cầu ơn trên giúp đỡ rồi lấy dao cạo một ít bột mun của chín chiếc đũa ấy hòa trong nước lạnh đem cho cô Ngọc uống thử xem!

Bà nội lại vừa niệm Phật vừa vội làm theo lời bà Tám. Khi bà nội đưa ly nước hòa chất gỗ mun đến tôi liền cầm lấy uống một hơi. Lúc cùng đường ai bảo chi nghe nấy chứ thật sự tôi chẳng hi vọng chi lắm. Nào ngờ, chỉ vài phút sau tôi thấy máu đã giảm chảy. Bà nội thấy thế mừng quá loay hoay van vái tạ ơn tứ tung. Tôi cẩn thận xem xét lại vết thương và biết mình đã thật sự thoát nạn. Mầu nhiệm đến thế sao? Thú thật, không phải nói phụ ơn, tới giờ này tôi cũng không biết mình được cứu bởi hai mũi thuốc cầm máu hay nhờ uống chất gỗ mun cạo từ mấy chiếc đũa?

Tối hôm đó ông Phước, ông Nhiêu và nhiều người trong tập đoàn có ghé hỏi thăm sức khỏe tôi. Tôi nại lý do người mất máu quá nhiều, bị xâm xoàng nên xin ở nhà vài ngày nữa. Ông Phước cũng đồng ý:

– Được, cô Ngọc cứ nghỉ vài ngày khi khỏe hẳn rồi đi làm!

Ông Nhiêu cũng tỏ vẻ quan tâm tới gia đình tôi:

– Cô Ngọc, tôi thấy cô làm ruộng ở đây cũng cực nhọc lắm. Hiện nay nhà nước đang khuyến khích chương trình di dân, tức chương trình xây dựng vùng kinh tế mới. Những ai tình nguyện tham gia chương trình này sẽ được nhà nước ưu đãi nhiều mặt. Tôi nghĩ cô Ngọc cũng nên theo dõi, nghiên cứu để tình nguyện tham gia cho các cháu có tương lai…

Tôi trả lời:

– Chú thương gia đình cháu mà nói vậy chứ bà nội mấy cháu còn đó, chồng cháu lại không có mặt ở nhà, cháu đâu dám quyết định!

Ông Nhiêu lại nói:

– Tôi đề nghị với cô như thế là vì muốn giúp đỡ chú Thành và các cháu thôi. Nếu cô Ngọc tham gia chương trình ấy nhà nước sẽ đặc biệt cứu xét miễn giảm cho những người thân như chồng, con của cô trong trường hợp những người này đang học tập cải tạo hay đang thụ án. Tình nguyện đi kinh tế mới cũng là cách xóa bỏ mặc cảm cho con cái mình về tội lỗi trong quá khứ của cha anh chúng…

Ông Phước ngắt ngang:

– Thôi, cô Ngọc chưa khỏe, chuyện đó sẽ nói sau. Giờ chúng ta về để cô ấy nghỉ.

Thật tình tôi đã ớn tới cổ cái công việc của một tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Tôi muốn thoát ra khỏi nó lắm chứ! Nhưng thoát ra khỏi bằng cách nào? Tôi cũng biết những gợi ý của ông Nhiêu hoàn toàn không phải do thiện cảm mà do ý đồ riêng. Lời nói của ông ta hình như có hàm ý đe dọa. Nhưng có thể tôi phải đi theo con đường đó lắm! Bây giờ tôi đi đâu được nữa ngoài việc đi vùng kinh tế mới? Nếu trước kia tôi cứ ở lì tại Đà Lạt để bà nội ở lại đây một mình thì còn có lý. Bây giờ tôi như đã sa xuống vũng lầy, biết vịn vào điểm tựa nào để leo lên? Bà nội có chịu nghe theo tôi không? Việc nhà cửa tính sao? Việc thờ tự tiên tổ của gia đình chồng tôi tính sao? Những trách nhiệm đó đương nhiên tôi phải gánh chịu hết.

Chỉ còn ông bà ngoại mới có thể giúp tôi xoay xở được một hướng đi mới. Nếu có một số vốn trong tay, tôi sẽ đi buôn bán, đó là cách tôi có thể vừa giữ được nhà cửa vừa thoát ra khỏi tập đoàn. Liệu tôi có thực hiện được ước mơ đó không? Tới bao giờ tôi mới thực hiện được?

      CHƯƠNG    11

Sau hôm bị tai nạn do con đỉa gây ra, tôi nghỉ ở nhà hai ngày liền. Từ khi làm việc với tập đoàn tới giờ tôi mới có lại được vài giấc ngủ thoải mái. Nhưng rồi tôi cũng không dám hưởng thụ cái khoái cảm ngủ no con mắt ấy bao lâu! Trong nhà ngoài vườn đâu cũng thấy công việc cần làm, ngủ thế nào được? Tôi lại lao mình vào việc quét tước dọn dẹp… Thời gian này tôi cũng viết được một lá thư cho ông bà ngoại nói rõ hoàn cảnh khó khăn hiện tại của mình. Tối hôm thứ  ba ông Phước lại ghé nhà tôi. Lần này ông chỉ đi một mình. Vừa thấy tôi ông ta hỏi ngay:

– Cô Ngọc khỏe rồi chứ! Ngày mai cô đi làm được chưa?

– Dạ được, tôi đã chuẩn bị ngày mai đi làm rồi!

– Vậy thì tốt lắm! Nhưng cô khỏi ra đồng. Tôi biết cô còn nhợn những chú đỉa trâu lớn như cái cán liềm ấy. Cô ở nhà phụ với cô Thanh lo việc phơi lúa giúp tôi!

Phơi lúa với cô Thanh ư? Ông ta nói như ra ơn cho tôi vậy! Tôi đã từng nghe các bà to nhỏ với nhau về cái toán phơi lúa do cô Thanh chỉ huy. Cô Thanh là con gái ông Nhiêu, có chồng đi nghĩa quân đã bị tử trận, để lại cho cô hai đứa con nhỏ. Cô mới khoảng hai mươi lăm, dáng người loắt choắt, mắt hơi lé. Có lẽ trong cái gia đình “cách mạng” đó, cô là người làm việc năng nỗ nhất và cũng cố chấp, hống hách không kém gì cha cô. Nhờ khả năng kiểm soát người dưới quyền chặt chẽ, cô được giao việc điều khiển toán phơi lúa của tập đoàn 9 trong suốt các mùa gặt. Ai làm việc lơi tay một chút là cô nhắc nhở ngay. Không một ai có thể lấy được một nắm lúa xép đem về cho gà ăn. Mọi người đều ngán cái miệng phê bình chỉ trích của cô. Ai đã làm việc ở toán này một thời gian đều phải tìm cách rút lui. Có lẽ nay lại thiếu người nên mới gọi tôi!

Riêng tôi lúc này làm việc đó cũng tốt thôi. Quả tình tôi vẫn còn nhợn những con đỉa đói thật. Thời gian phơi lúa đâu bao lâu nữa mà ngại! Tôi hỏi lấy lệ:

– Lúa gặt gần xong chưa ông trưởng?

– Còn nghênh ngang đấy, nhưng công việc phải phân chia ra nhiều bộ phận cho guồng máy chạy đều. Chuyện xảy ra vừa rồi cô cũng không nên ghi khắc trong lòng làm chi. Tôi vô ý mà cô cũng vô tình, thôi bỏ qua đi. Thật tình thấy cô neo đơn tôi cũng muốn giúp cô đỡ khổ được phần nào. Cô có ưng làm thư ký thống kê hợp tác xã không?

Ông ta muốn giở trò gì đây? Tôi nói:

– Cám ơn ông trưởng! Thôi, để tôi làm việc ở tập đoàn được rồi!

Ông Phước vừa cười vừa hỏi lại:

– Cô chưa ngán cái tai nạn đỉa cắn vừa rồi à?

Đây là lần thứ hai ông Phước nhắc lại chuyện con đỉa. Rõ ràng không phải là một sự vô tình. Thấy câu hỏi của ông ta có vẻ tinh quái nên tôi cũng đáp lập lờ:

– Không, vấp một lần thôi chứ! Gặp lại nữa thì nó chết với tôi!

– Cô Ngọc không tin tôi có thể đưa cô về làm việc ở hợp tác xã à? Tôi nói thật đấy! Làm việc ở đó dù sao cũng đỡ sương đỡ nắng, công việc lại nhẹ nhàng hơn! Cô sẽ được trắng da dài tóc hơn!

– Nhưng bằng cách nào ông trưởng có thể giúp tôi lên làm thư ký thống kê cho hợp tác xã được?

Ông Phước gật gật hãnh diện khoe:

– Có gì đâu, cô là một cô giáo, cô có đủ khả năng làm việc đó. Cô suy nghĩ lại đi rồi cho tôi hay. Nói thật với cô, tôi sắp về công tác ở hợp tác xã!

Tôi cười nửa miệng:

– Sướng quá nhỉ! Thôi, cứ tới đâu hay đó! Thế ngày mai tôi đi phơi lúa nhé!

– Phải, tôi đã báo cho cô Thanh rồi, ngày mai cô cứ theo cô ấy.

*

Toán phơi lúa chính thức lúc bấy giờ gồm năm người: cô Thanh trưởng toán, chị Lương, chị Huấn, chị Mẫu và tôi. Làm việc với một trưởng toán có tinh thần cách mạng quá cao như cô Thanh, dĩ nhiên không ai thấy thoải mái lắm. Nhưng chúng tôi người nào cũng muốn yên thân nên chẳng ai muốn lý lẽ chi cả, cứ bảo nhau gắng thêm một chút cũng chẳng chết ai. Nhờ tinh thần an phận ấy toán phơi lúa của chúng tôi làm khá được việc.

Có người nghĩ việc phơi lúa là một công việc ưu tiên dành cho những người có thân thế. Đối với các tập đoàn khác nghĩ như vậy cũng có thể đúng. Tôi nghe phong phanh những người làm công việc ấy vẫn thường bắt chước phương cách của mấy con chim tha rác làm tổ. Đi uống nước tha một ít, đi ăn cơm tha một ít… Hai cánh tay áo xắn khéo léo một tí đã hỗ trợ đắc lực cho họ trong việc này. Có thể mỗi ngày họ kiếm thêm được một hai lon lúa.

Riêng tập đoàn 9 chỉ có tiếng mà không có miếng. Đừng ai hòng qua mặt được cặp mắt  mà người đời vẫn xếp “hạng nhất” của cô Thanh!

Công việc ở đây tuy thoát được cảnh thức khuya dậy sớm nhưng đâu phải không vất vả? Cô trưởng toán làm việc quá giỏi bắt buộc cả toán phải giỏi theo. Cứ nắng lên là cùng nhau dùng đôi chân xủi sân lúa hạt dưới ánh nắng gay gắt và hơi lúa hừng hực. Dù bận áo dài tay, đầu đội nón, quần gôn ống cẩn thận, thế mà bụi lúa lúc nào vẫn phủ kín thân, trắng đầu. Lúa khô khén xong phải lo việc dên quạt, sàng sảy. Quần quật giữa sân bưa lại lo bưng lúa đổ vào kho. Lắm khi cũng tối mịt mới về. Làm việc cực lực đến thế mà cô trưởng toán lúc nào cũng nhìn nhìn như thúc hối, như nhắc nhở, như nghi ngờ! Chúng tôi vẫn thường rủa thầm:

– Cái con nhỏ này sao nó khỏe thiệt! Sao nó lại không bệnh nằm liệt giường một thời gian cho biết lễ độ?

Một hôm, trong lúc chúng tôi đang phơi lúa, anh thư ký tập đoàn Lê Khánh cầm sổ sách đến hỏi cô Thanh việc gì đó. Khi Lê Khánh về rồi, chị Mẫu nói nhỏ với tôi:

– Mình phơi lúa ngày nào cũng mệt nhừ người chứ phải chơi đâu! Thế mà công điểm lại tính thấp hơn khi đi gặt rất nhiều. Dù được đi trưa về sớm hơn một chút nhưng tính như vậy cũng ép quá!

– Ông Khánh cho chị biết à?

– Làm gì có, tôi nhìn lén trong sổ!

– Mỗi ngày phơi lúa chị được chấm mấy công điểm?

– Sáu.

– Thế còn cô Thanh?

– Dĩ nhiên là 7 hoặc 8! Người điều khiển mà!

– Chị biết em bao nhiêu điểm không?

Chị Mẫu thản nhiên nói:

– Dưới trung bình là cái chắc!

Dưới trung bình? Vừa nghe chị Mẫu nói, cơn giận trong tôi ùn ùn nổi dậy. Người ta làm sao tôi làm vậy chứ sút kém ai đâu? Làm việc như vậy sao chấm điểm tôi dưới trung bình? Thôi, thà về nhà nhịn đói còn hơn! Có lẽ nhìn thấy vẻ giận dữ hiện trên gương mặt tôi, chị Mẫu nháy mắt:

– Tôi thấy thoáng thoáng vậy thôi, chưa hẳn đâu! Đừng làm bể việc. Để có dịp rồi nói chuyện. Hay cô chịu khó đi dự một buổi họp bình chấm xem sao!

Từ lúc đó tôi cứ thấy ấm ức trong người. Hôm sau tình cờ gặp anh Sự, tôi hỏi ngay:

– Toán người được cắt công việc phơi lúa tôi thấy ai cũng làm việc như nhau cả không hiểu sao những người khác đều được bình chấm 6 hoặc 7 công điểm mà tôi lại cứ dưới trung bình? Anh thử đòi hỏi chấm điểm công bằng giúp tôi được không?

Anh Sự lắc đầu cười:

– Khó lắm chị Ngọc ơi! Người ta cứ đánh giá chị là người mới vào tập đoàn, thời gian phơi phong người ta lại cho là chị được đi trưa về sớm. Hơn nữa, chị lại có chồng sĩ quan chế độ cũ nhiều người không ưa. Công điểm của mọi người đều do số đông quyết định chứ tôi làm gì được? Thôi chị cứ tạm bằng lòng vậy. Mai mốt đây nếu tôi làm tập đoàn trưởng tôi sẽ gắng chỉnh đốn lại cho công bằng hơn!

– Thế ông Phước đi đâu mà anh lên làm tập đoàn trưởng?

Anh Sự xua tay ra đấu hiệu dè dặt:

– Tin này chưa chắc lắm. Ông ta có thể lên làm gì đó trên hợp tác xã.

Nghe anh Sự giải thích việc tính điểm có tính cách áp đặt như thế, tôi thất vọng lắm. Người ta đối xử kỳ thị đến thế mình làm sao ngoi đầu lên được? Dù có lao động thí mạng đi nữa cũng chỉ làm cho người khác ăn thôi! Càng suy nghĩ tôi càng thấy uất hận. Thế rồi tôi nói với anh Sự bằng giọng cương quyết:

– Bây giờ tôi yêu cầu anh đề nghị với tập đoàn cho tôi trở lại gặt lúa. Nếu anh không đề nghị giúp chắc tôi sẽ tự động bỏ việc!

Anh Sự ngẫm nghĩ giây lát rồi gật đầu:

– Được, tôi nghĩ việc này không có gì trở ngại.

*

Đi gặt lại được mấy ngày thì tôi nhận được thư của ba tôi – không bằng đường bưu điện mà do người quen trao lại. Thấy thư khá dày, chắc mẩm thế nào cũng có tin lành, tôi vội bóc ra xem. Ồ, ngoài bì đề người gởi là ba tôi nhưng thư lại do mẹ tôi viết.

“Sài Gòn, ngày…

      Thăm Diệu Ngọc con và các cháu,

      Trước hết mẹ báo cho con biết ba mẹ vẫn sức khỏe, con yên tâm. Mẹ biết chắc con đang nôn nóng chờ tin của ba mẹ nên phải viết thư cho con đây. Mẹ cho con hay, việc anh Hảo bảo lãnh cho ba mẹ sang Pháp hiện vẫn chưa tới đâu cả. Còn việc dịch sách cho bộ Văn Hóa Thông Tin ba con đã rút lui rồi. Khi bắt tay vào việc tinh thần ba phấn khởi bao nhiêu thì bây giờ mẹ thấy ba có vẻ xẹp lép bấy nhiêu. Chắc con cũng biết tính ba con, khi đã làm việc gì ba cũng làm hết sức mình, đàng hoàng, chín chắn, đâu ra đấy. Khi bắt tay vào việc, ba đã quên ăn quên ngủ, chẳng quản ngày đêm, lúc nào cũng chú mục vào mấy cuốn sách, tay thì luôn ghi ghi chép chép lên cuốn sổ tay hoặc mấy tập vở. Thấy cách làm việc của ba mẹ vừa cảm động vừa lo. Cảm động vì ba  tỏ ra sung sướng được giao phó một công việc thích hợp với khả năng. Lo vì ba tuổi tác đã cao, cố gắng quá sẽ không tốt cho sức khỏe. Theo mẹ, làm việc bằng đầu óc mỗi ngày năm sáu tiếng đã là quá nhiều. Ba vốn tuổi già ít ngủ, thế mà hễ thức giấc là lao đầu vào công việc ngay. Khi ba dịch xong cuốn sách đầu tiên, nhiều người ở Sở Văn Hóa Thông Tin của thành phố đã hết sức khen ngợi. Nhân dịp phái đoàn Trung Ương Đảng vào thăm thành phố Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh đã cho mời ba đến gặp mặt để biểu dương. Ông Trường Chinh đã nói: “Tôi thành thật khen ngợi về sự hiểu biết sâu rộng về Pháp ngữ của ông. Tôi nghĩ ông là một trong số những người dịch sách Pháp ra tiếng Việt xuất sắc nhất nước ta hiện nay. Tôi rất mong được sự hợp tác lâu dài của ông trong lĩnh vực dịch thuật, để tuyển chọn, để gom góp những tinh hoa văn hóa của nước ngoài bồi đắp cho nền văn hóa nước nhà”. Ba vô cùng phấn khởi, lại bắt tay dịch tiếp cuốn khác. Với nỗ lực phi thường, không kể giờ giấc đêm ngày, ba con lại hoàn thành dịch phẩm thứ hai! Tính gần chính xác, hoàn thành được hai dịch phẩm, ba phải mất một thời gian ngót 10 tháng. Ba đang phấn khởi sắp dịch tiếp cuốn sách thứ ba thì sở Văn Hóa Thông Tin mời lên để thanh toán tiền thù lao. Đúng ra khi dịch xong cuốn thứ nhất, sở Văn Hóa Thông Tin đã mời ba lên gặp để thanh toán tiền thù lao rồi. Nhưng ba nói với họ cứ để đấy đã. Thật tình trước đây ba chưa nghĩ đến chuyện thù lao bao giờ. Ba muốn làm việc với tính cách thiện nguyện, để đóng góp với chế độ mới một chút gì mà ba nghĩ là gia đình mình còn thiếu sót. Riêng mẹ lại nghĩ thực tế hơn, có thực mới vực được đạo, gia đình mình có dư dả gì lắm đâu! Nhưng dù không đồng ý với ba, mẹ vẫn không dám nói gì, sợ ba buồn. Đến khi ba nhận được thư mời lên thanh toán thù lao lần thứ hai, mẹ vừa mừng vừa sợ ba lại từ chối. Mẹ cười nói đùa để đón đầu: “Thì ra Sở Văn Hóa Thông Tin cũng không quên nghĩ đến điều thực tế cần thiết của một dịch giả! Nhưng đáng lẽ họ nên tế nhị ấn định mức thù lao theo giá trị của dịch phẩm vẫn hay hơn là bắt dịch giả phải tự nói lên điều đó anh nhỉ!”. Nghe mẹ nói ba có vẻ không vui, ba nói: “Nói vậy là do người ta sợ mình không hài lòng thôi. Nhưng anh sẽ có ý kiến cứ tùy họ ấn định. Nếu họ ấn định cao, anh sẽ tặng lại 2/3, nếu họ ấn định vừa phải, anh sẽ tặng lại một nửa để góp phần vào việc xây dựng đất nước! Em đồng ý với anh chứ!”. Tất nhiên mẹ đồng ý vì mẹ không muốn trái ý ba. Hơn nữa, mẹ nghĩ với những dịch phẩm được khen ngợi như vậy thì làm sao người ta ấn định thù lao thấp được? Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nếu ba dịch được một tác phẩm tương tự như vậy rồi bán bản quyền, số tiền nhuận bút tệ lắm cũng nuôi sống ba được một năm. Thế rồi ba lên Sở Văn Hóa Thông Tin. Mẹ hi vọng ba sẽ có một số tiền để tặng con như mẹ đã hứa. Nào ngờ khi trở về ba chẳng nói một tiếng, lặng lẽ đi một mách vào phòng riêng đóng cửa lại. Mẹ biết thế là có chuyện phật ý ba rồi, nhưng không dám hỏi liền. Đến khi ăn cơm chiều mẹ mới nhắc nhẹ: “Hồi sáng anh lên Sở Văn Hóa Thông Tin có tin gì lạ không?”. Ba đáp cụt ngủn: “Không dịch nữa!”. Thấy ba còn có vẻ bực bội, mẹ nói lảng sang chuyện khác cho yên. Mấy ngày sau ba mới cho biết, khi ba lên Sở Văn Hóa Thông Tin, nhân viên hướng dẫn đã đưa ba đến gặp một vị nào đó, hình như là bí thư của Sở. Sau khi thăm hỏi và khen ngợi về việc làm của ba, vị này đề nghị thẳng nếu ba không muốn nêu danh tính trên những dịch phẩm của mình, sẽ có người đứng tên thế cho. Trong trường hợp đó, họ sẽ trả tiền thù lao gấp bội. Như thế cũng có nghĩa là ba bán đứt bản quyền dịch phẩm. Ba không muốn làm như vậy nhưng chỉ nói đưa đẩy: “Để tôi suy nghĩ  rồi sẽ trả lời!”. Tới khâu bàn về tiền thù lao, vị kia hỏi: “Ông dịch hai tác phẩm đó mất hết thời gian bao lâu?”. Ba đáp: “Ngót 10 tháng!”. Vị kia nói: “Được, cứ cho là 10 tháng đi! Hiện nay nhà nước ta vẫn lấy giai cấp công nhân thợ thuyền làm tiêu biểu. Nhà nước sẽ tính cho ông một công gấp đôi tiền công trung bình của một công nhân, cứ vậy mà nhân lên, ông đồng ý không?”. Nhà nước đãi ngộ người làm văn hóa như vậy sao? Tuy nói là 10 tháng nhưng ba đã thức khuya dậy sớm dồn hết sức mình vào công việc không có ngày nào dưới 12 giờ và theo mẹ nghĩ, chắc hẳn không dưới một năm! Giờ nghe được đánh giá như thế ba muốn ngã ngửa ra! Sau một phút bàng hoàng ngơ ngác, ba bình tĩnh nói: “Thưa ông, cách mạng đã thành công, tôi muốn ra sức một phen, đem hết khả năng chuyên môn của mình để cống hiến cho tổ quốc một chút gì trên phương diện văn hóa để khỏi hổ thẹn. Thế nhưng sau khi dịch xong hai tác phẩm kia, tôi cảm thấy sức mình đã quá suy nhược. Giờ đây cứ nhìn vào sách một hồi thì mắt tôi hoa lên, đầu tôi choáng váng, tôi thấy mình khó có thể tiếp tục công việc được. Vậy, tôi xin hiến tặng Bộ Văn Hóa  Thông Tin vô điều kiện hai dịch phẩm nói trên, khỏi cần đề tên tôi là dịch giả. Về số tiền thù lao, xin sung vào quỹ một công tác văn hóa nào đó cũng được.” Vị kia ngạc nhiên nói: “Ấy, ấy, ông muốn hiến tặng vô điều kiện dịch phẩm của mình cho Bộ Văn Hóa Thông Tin thì cứ hiến tặng. Nhưng công sức lao động của ông thì ông nên nhận!”. Ba trả lời: “Dạ khỏi, thưa ông, nếu tôi còn tiếp tục làm công việc tôi sẵn sàng nhận. Tôi còn muốn cống hiến nhiều hơn nữa kia chứ! Tiếc rằng sức khỏe tôi không cho phép, xin quí ngài cứ vui lòng, khi nào sức khỏe phục hồi tôi xin tiếp tục phục vụ!”. Thôi thì ba quyết định như vậy cũng tốt, mẹ cũng đỡ lo. Mẹ nghĩ việc anh Hảo lo thủ tục bảo lãnh cho ba mẹ sang Pháp tuy hơi chậm nhưng thế nào xong, Con gắng đợi ít lâu nữa nhé! Hãy cố mà lo sức khỏe cho mấy cháu!

      Thôi, mẹ xin tạm ngừng bút và gởi lời chúc sức khỏe chị sui!

      Mẹ của con.

Tái bút: Biết con đang túng thiếu, mẹ gởi con 2 chỉ vàng để phòng khi cần dùng đến, nhất là trong việc săn sóc sức khỏe mấy cháu. Cầu ơn trên ban cho con thật nhiều  nghị lực để vượt qua những khó khăn!”

Đọc xong lá thư của bà ngoại, tôi chỉ biết thở dài. Chắc mình còn nặng nợ với cái tập đoàn này! Đành ráng chờ đợi chứ biết làm sao!

*

Hai ngày sau khi nhận được thư của bà ngoại thì tôi nhận được một tấm giấy của ban công an mời lên xã làm việc, lý do cho biết sau. Sự việc này khiến tôi lo lắm. Có ai biết việc tôi nhận thư của ba tôi rồi xuyên tạc gì chăng? Những người quen biết tôi cũng tỏ ra ái ngại cho tôi. Tôi đã đến trình diện công an xã đúng giờ hẹn. Khi biết mình phải làm việc với chính trưởng công an xã Lê Đình Thiện, tinh thần tôi lại càng bất an. Tôi nghĩ chắc có vấn đề gì quan trọng!

Bước vào phòng công an xong tôi mới biết mình đã lo ngại hơi quá đáng. Ông Thiện mời tôi ngồi nói chuyện một cách lịch sự:

– Chào cô Diệu Ngọc, hôm nay tôi mời cô đến đây với mục đích minh xác một vài điều về anh Thành, chồng của cô. Tôi mong cô vui lòng cung cấp những gì mà cô biết được để việc làm của chúng tôi chóng hoàn tất!

Ông ta vừa nói vừa lôi ra một cuốn sổ để ghi chép. Công an hỏi thì công dân có bổn phận trả lời. Tôi nói:

– Thưa ông, ông cứ hỏi, tôi xin thành thật trả lời những gì tôi biết được.

– Vậy, bây giờ cô có biết anh Thành đang ở đâu không?

– Dạ thưa, từ sau ngày giải phóng tôi chưa nhận được tin tức gì về anh ấy cả.

– Lúc Tổng Thống ngụy Dương Văn Minh đầu hàng thì anh Thành chồng cô đang ở đâu cô biết không?

– Dạ, lúc ấy chồng tôi đang ở quân y viện Cộng Hòa, bị cưa chân chưa lành.

– Sau đó thì mất liên lạc? Cô Ngọc có nghĩ là chồng cô đã sang Mỹ rồi không?

– Thưa không, vì người lành lặn còn đi không được huống lúc ấy chồng tôi đã thành người què cụt.

– Thôi được, cô Ngọc đang làm ăn với tập đoàn 9 thấy có thoải mái không?

Đây là câu hỏi làm tôi lúng túng vì tôi không thể hiểu dụng ý của viên trưởng công an. Suy nghĩ một lát tôi trả lời:

– Dạ, tôi làm ruộng chưa quen nên cũng khá vất vả.

– Trong tập đoàn có ai ức hiếp, ép uổng chi cô không?

– Dạ không.

– Thế ông Nhiêu, ông Phước, các ông ấy đối xử với cô có tốt không?

Tại sao ông ta lại nêu rõ tên hai người mà chính tôi cũng đang đặt vấn đề? Có cạm bẫy gì không đây? Thôi cứ coi như không biết gì vẫn hơn. Tôi nói:

– Dạ tốt, hai ông ấy không hề có sự phân biệt đối xử nào với tôi cả.

– Vậy thì tốt! Nếu bây giờ biết được chồng cô đang ở đâu cô có đi thăm không?

Tôi lại chột dạ. Ông ta định giở ngón gì nữa đây? Sau một lát suy nghĩ, tôi đáp:

– Thưa ông, có lẽ bất cứ người vợ nào bị xa cách chồng ngoài ý muốn, khi biết được tin chồng mình ở đâu họ đều muốn đi thăm cả!

Ông Thiện cười với nụ cười cởi mở rồi lấy ra một lá thư đã bóc, bì thư trông đã cũ nhàu đưa cho tôi:

– Cô xem đi!

Bao thư đề tên người gởi lạ hoắc, không có địa chỉ. Người nhận thì đề tên và địa chỉ của ông nội mấy cháu tức địa chỉ tôi đang ở. Tôi ngạc nhiên lấy mảnh giấy bên trong ra xem. Đúng là nét chữ của anh Thành. Thư chỉ giản dị mấy dòng viết trên mặt trống của tấm giấy lót trong bao thuốc lá có nhiều dấu gấp:

“Ai lượm được giấy này xin làm ơn gởi về địa chỉ dưới đây: Ông…, thôn 3 xã Thiện Trường… Con vẫn bình an. Hiện con đang được chuyển về Xuyên Mộc. Con của ba mẹ. Thành.”

Tôi mừng đến trào nước mắt. Vậy là cầm chắc anh Thành vẫn còn sống! Đợi tôi đọc xong ông Thiện nói:

– Thư không nói rõ chuyển về trại nào, cô cũng khó tìm đấy! Nhưng nếu cô muốn đi tìm chồng, tôi sẵn sàng cấp giấy phép cho cô! Lá thư này tôi nghĩ chắc chồng cô đã thả dọc đường trong khi di chuyển. Có thể nay mai cô sẽ nhận được thư báo chỗ ở chính thức của chồng cô. Tôi lập lại, khi nào cô muốn đi thăm chồng cứ đến gặp tôi, tôi sẽ cấp giấy phép. Đừng ngại chi cả! Hôm nay tôi gặp cô chỉ để chính thức báo tin này kẻo cô bị hoang mang, dao động tinh thần, đồng thời cũng để động viên cô yên tâm lo làm ăn nuôi con. Khi nào có ai ép uổng gì cô cứ cho tôi hay tôi sẽ can thiệp giúp. Từ nay cô cứ coi tôi như một người bạn. Cám ơn cô đã giúp tôi trong công việc. Bây giờ cô có thể ra về.

Thấy tôi ngập ngừng chưa muốn đứng dậy, ông Thiện hỏi:

– Cô Ngọc còn thắc mắc điều gì phải không?

– Thưa ông, như thế chắc chồng tôi đang ở một trại cải tạo nào đó?

– Tất nhiên! Rõ ràng anh ấy đang ở trại cải tạo mới có vụ di chuyển bất đắc dĩ như trong thư đã nói. Nếu không, tại sao anh không cho biết sẽ về đâu mà lại phải thả thư rơi dọc đường?

– Thưa ông, tại sao cách mạng không thể tha thứ một người què cụt như chồng tôi trong khi các cơ quan truyền thông của chính phủ đang đề cao chính sách khoan hồng?

– Vấn đề này thuộc thẩm quyền của nhân dân. Đảng và nhà nước tuy có chính sách khoan hồng nhưng cũng không thể vượt quyền quyết định của nhân dân được! Có lẽ trước đây anh ấy đã gây tội ác nhiều nên nhân dân chưa chịu tha thứ. Tuy vậy, anh ấy đã được đảng và nhà nước che chở và giáo dục thì không đến nỗi nào đâu! Cô cứ yên chí về lao động nuôi con!

Đúng là chính quyền của nhân dân! Lúc nào, chuyện gì cũng có nhân dân can thiệp cả! Tôi đành chào ông Thiện để ra về. Bây giờ tôi phải làm cách nào để đi thăm anh ấy? Lần trước khi anh ấy mới bị thương tôi dật dờ không chịu đi thăm liền nên đã bị ray rứt hối hận ngót hai năm nay! Chẳng lẽ bây giờ để lỡ làng một lần nữa? Tôi nghĩ ngay đến hai chỉ vàng ông bà ngoại mới cho.

Tối hôm đó chị Lâm, chị Hiền, chị Mẫu, chị Vàng lần lượt đến thăm tôi để hỏi thăm về vụ tôi bị công an mời lên làm việc. Nghe tôi báo tin anh Thành còn sống ai nấy đều mừng cho tôi  và vui vẻ ở lại nói chuyện. Nhưng khi nghe tôi tỏ ý định đi thăm anh Thành thì chị Lâm ngăn lại:

– Chú ấy còn sống tất nhiên trước sau cũng sẽ gởi thư báo về, đừng nôn! Chứ nghe chung chung vậy cô biết đâu mà tìm? Tiền mất tật mang vô ích thôi!

Những người khác ai cũng nói như vậy cả. Bà nội nói:

– Mấy chị nói phải đó con! Thôi, cứ đợi ít lâu nữa rồi tính!

Sau một hồi nói chuyện, chị Mẫu với vẻ mặt quan trọng, nhìn quanh mọi người rồi hỏi nhỏ:

– Mấy chị có nghe vụ bà thợ Hào bị đánh gẫy chân chưa?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Thím Hào thợ mộc bị điên đó hả chị?

– Ừ, bà đó chứ ai nữa!

– Nhưng sao người ta lại đánh thím ấy?

– Nghe nói tại bà cứ đi ngang trước ủy ban xã, tay vỗ bem bép vào cửa mình, miệng gào thét “thu mua là thua mu” mãi nên mới xảy ra chuyện. Trước đây du kích xã đã nhiều lần xua đuổi, họ đã đem nhốt bà để dọa mấy lần thế nhưng bà đâu có chừa! Vừa rồi nghe nói bà ta lại giở bản cũ, khiến bọn du kích sùng máu dùng báng súng đánh sao đó đến gẫy chân luôn!

Chị Lâm thở dài:

– Tội nghiệp chưa! Thế rồi người ta làm sao? Có ai giúp đỡ gì bà ấy không?

Chị Mẫu thấp giọng:

– Ai mà dám giúp! Bà ta nằm giữa đường vừa rên la vừa chửi bới một hồi rồi lết đi đâu mất! Tôi nghe nói vậy không biết có đúng không. Mình cũng nên dè dặt kẻo đôi khi mang họa oan!

Đã gẫy chân làm sao lết đi đâu được? Tôi hi vọng thím Hào chỉ bị thương ở một mức độ nhẹ hơn. Nhưng nghĩ lại, một người vừa mất trí nhớ, vừa bị thương, lại còn bị cô lập, thiếu ăn, thiếu thuốc men, tôi sợ thím ấy khó vượt qua được tai biến này!

Đêm đó tôi nằm trằn trọc mãi không ngủ được. Một người suốt đời sống hiền lành, biết ăn ở với mọi người, tự dưng mắc nạn đến nhà tan cửa nát! Bây giờ thím ấy đang lê thân về nơi nào? Vết thương của thím sẽ ra sao? Chú Hào đang ở trong tù có biết hoàn cảnh vợ chú đang gặp hoạn nạn như thế không hay lại trách móc thím đã bỏ rơi chú? Có ai dám giúp đỡ thím ấy trong trường hợp này không? Rồi tôi lại liên tưởng đến chồng tôi. Hiện giờ anh ấy một thân trơ trọi chịu đói rách, thiếu thốn mọi thứ trong chốn lao tù! Với đôi chân cụt, những lúc đi cầu đi tiểu anh ấy bò lết làm sao? Tương lai chồng tôi sẽ đi về đâu? Nghĩ đến đây nước mắt tôi lại trào ra ràn rụa…

*

Những ngày kế tiếp, sự mệt nhọc đã làm tôi dần quên câu chuyện thương tâm ấy. Chừng hơn một tuần sau đó, thôn 3 có vụ phân phối dầu hỏa tại nhà ông thôn trưởng. Tôi nhân buổi tối đi làm về ghé lại lãnh dầu luôn thể. Tôi nghĩ đi buổi tối sẽ khỏi phải chờ đợi lâu, nào ngờ khi đến nơi thì thấy người ta vẫn còn sắp hai hàng song song khá dài. Trong khi chờ đợi, tôi bỗng nghe tiếng cãi cọ phía trước. Tiếng cãi cọ lúc đầu còn nho nhỏ, sau lớn dần. Ngoại trừ vài đứa nhỏ, những người đứng gần tôi đều cố gắng im lặng để nghe…

– Chị bắt nạt người ta vừa vừa thôi chứ! Tôi đã làm gì, đã nói lời gì quấy mà chị bảo tôi phản động? Bà mợ tôi chết tôi không có quyền nói một lời thương tiếc à?

– Tôi đâu có nói chị phản động! Tôi nói là nói con mẹ Hào điên dại kia mà! Nó ăn nói tục tỉu xúc phạm đến bác Hồ, xúc phạm đến nhà nước như vậy không phải là phản động à? Tại sao chị còn dám bênh vực nó?

Giọng thứ nhất tôi không nhận ra ai nhưng giọng thứ hai rõ ràng là cái giọng khét rẹt của bà Lượm, một cán bộ mới tham gia cách mạng sau ngày giải phóng! Đó là một phụ nữ lúc nào cũng hăng say phát biểu, tố cáo những hành vi mà bà ta cho là tiêu cực hoặc phản động trong các buổi họp thôn xã đã khiến nhiều người chạy mặt. Nhưng có lẽ tức nước vỡ bờ, người kia vẫn không chịu nhân nhượng, mỉa mai:

– Tôi thách chị đó! Chị muốn đưa tôi vào tù cứ đưa đi!

Thấy cảnh cãi cọ gây mất trật tự, ông thôn trưởng bực mình nói lớn:

– Thôi, xin mấy bà im lặng để anh em còn đong dầu cho bà con về nghỉ chứ! Hay mấy bà muốn ngừng đong? Ai muốn cãi nhau cứ ra ngoài kia mà cãi cho thỏa mãn!

Cuộc cãi vã chấm dứt nhưng mọi người lại to nhỏ hỏi nhau về nguyên nhân của câu chuyện. Lát sau tôi mới biết thím Hào đã chết. Người ta đã gặp thi thể thím nằm trong một con lạch cạn trồng rau muống. Có thể sau khi bị đánh què chân, thím Hào đã lết đến nơi này để bẻ rau muống ăn hoặc uống nước. Cũng có thể một bàn tay nào đó đã quăng thím xuống nơi đó. Vì xác chết đã có mùi nên xã chỉ lập thủ tục qua loa rồi cho người đem chôn.

Mấy ngày sau khắp xã Thiện Trường ở đâu cũng nghe bàn tán về cái chết thương tâm ấy. Nó không còn đơn giản chỉ là chuyện một người điên bị chết mà trở thành một vấn đề to tát hơn. Nó vô tình phơi bày cho thiên hạ thấy một phần nào đó bản chất của chế độ hiện hữu. Người đàn bà này trước đây chưa bao giờ chưa bao giờ phạm một tội ác, chưa bao giờ gây một sự rắc rối nhỏ trong xóm làng. Chú Hào, chồng nạn nhân cũng chưa bao giờ làm việc trong chính quyền chế độ cũ, chưa bao giờ làm một việc gì bất chính. Vậy nguyên nhân nào đưa đến sự tan nát phân ly tận cùng của gia đình này? Đó là một điều đã làm cho bao nhiêu người phải nhức đầu suy nghĩ!