THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn II)

Tiếng máy nổ quen thuộc của chiếc vespa ba tôi cỡi ngừng lại trước sân làm tôi tỉnh hẳn người. Mẹ tôi gọi:

– Con Ngọc đâu ra xách đồ vào giùm mẹ!

Tôi uể oải bước ra. Nhìn giỏ thức ăn đầy ắp nhiều thứ như đậu xanh, nếp, trứng vịt, thịt heo…, lại có cả một con cá trầu lớn gần bằng cổ tay đang vùng vẫy ở đáy giỏ, tôi đâm ra ngao ngán, tội nghiệp cho mẹ tôi. Mẹ tôi ưu ái với Thành đến thế sao? Nếu tôi tỏ rõ thái độ bất bình với Thành cho mẹ tôi biết chắc hẳn mẹ tôi buồn lắm! Biết làm thế nào đây? Thấy tôi không có vẻ sốt sắng gì, mẹ tôi hỏi:

– Con Ngọc sao vậy? Con mời thằng Thành chưa?

Tôi xịu mặt, cúi xuống xách giỏ đồ vào nhà – không nói gì.

– Nhốt con cá trầu lại cho kỹ để hôm đó nấu ít tô canh chua nghe!

Tôi lặng lẽ làm theo ý mẹ. Có lẽ mẹ tôi đã đoán ra tôi có điều không vừa ý. Mẹ chỉ cười nói giả lả chứ không hỏi gắt. Lâu nay mỗi lần tôi có chuyện bất bình bà vẫn có thái độ như thế. Đợi lúc thấy tinh thần tôi bớt căng mẹ mới hỏi phăng rồi từ tốn nói chuyện phải trái. Với tôi lâu nay mọi chuyện xảy ra đều chỉ giới hạn ở tầm mức vớ vẩn, trẻ con, chứ chưa lần nào làm tôi xốn xang quá đỗi thế này! Kể với mẹ chuyện đã xảy ra ư? Tôi đã mời Thành rồi, nhưng sau cái hành động không đẹp đó liệu Thành có dám vác mặt đến nhà tôi nữa không? Nếu Thành đến, tôi nên có thái độ ra sao?

Tối đó tôi chỉ ăn qua quít vài miếng rồi lên giường nằm sớm. Nhưng tôi không thể nào ngủ được. Có lúc tôi muốn phơi bày cái chuyện quấy quá của Thành cho mẹ tôi biết, nhưng tôi lại không muốn làm mẹ tôi buồn. Tôi đã thức gần trắng đêm…

Hôm sau, khi sửa soạn đi học tôi bỗng nghe ba tôi nói với mẹ tôi:

– Hôm nay anh mời ông Lành, ông Thảo chủ nhật này đến chơi luôn nhé!

Tôi đâm hoảng. Tất nhiên ba tôi phải cho khách biết lý do mời cơm. Nếu Thành không đến biết ăn nói làm sao? Tôi lập tức nói dối với mẹ tôi nhưng mục đích để ba tôi cùng nghe:

– Mẹ ạ, con quên nói với mẹ, anh Thành nói anh còn bận đi thăm giã từ mấy người bà con ở xa, có thể bữa đó anh ấy không đến kịp. Theo con nghĩ mình chỉ nên làm một bữa cơm gia đình thôi, anh ấy đến cũng tốt, không đến cũng không sao. Mình có lòng mời như thế đủ rồi!

Ba tôi nói với tôi:

– Cái con này nữa! Thế sao không nói sớm? Cũng may là ba chưa mời ai.

*

Cũng may thật, quả đúng chủ nhật đó anh Thành không đến nhà tôi. Tôi không vui mà cũng không buồn. Mấy ngày sau ba mẹ tôi cũng như tôi đều biết được anh Thành đã lên đường. Mẹ tôi có vẻ áy náy hỏi tôi:

– Sao thằng Thành lại đi thẳng luôn con biết không? Chuyện gì đã xảy ra?

Tôi chỉ lắc đầu. Vài ngày mẹ tôi lại hỏi nữa. Bà còn thêm:

– Thằng đàn ông con trai như vậy mà con không vừa ý, mẹ cũng không biết con sẽ chọn hạng nào nữa?

Quả tình mẹ tôi đã đi guốc trong bụng tôi! Tôi chỉ cười buồn. Không rõ mẹ tôi đã lập lại câu đó đến lần thứ mấy.

Hơn một tháng sau đó tôi nhận được thư của anh Thành từ quân trường gởi về. Chỉ toàn những lời xin lỗi. Tôi không trả lời. Sau đó lại liên tiếp có nhiều lá thư khác, cũng đều là những thư hối lỗi. Tôi vẫn không trả lời. Hơn hai tháng sau tôi nhận được thư của anh Hảo. Tôi tức cười khi thấy rõ được sự thật thà của anh Thành: chuyện của tôi đã đến tai anh Hảo! Đây cũng là cớ chính để tôi chịu làm hòa với anh Thành. Tuy vậy, tôi vẫn giữ cái ranh giới vừa phải – cứ tới đâu hay tới đó.

Nhưng rồi với những lá thư lời lẽ nồng nàn, với sự hỗ trợ từ xa của hai ông anh tôi, và nhất là với sự nội ứng mạnh mẽ của mẹ tôi, anh Thành đã phá vỡ được bức thành lòng của tôi lúc nào không hay…

Ra trường xong, anh Thành may mắn được đưa về phục vụ ở một đơn vị thuộc tỉnh nhà. Chẳng bao lâu sau đó, anh đã đàng hoàng trở thành chàng rể tương lai của gia đình tôi.

Khi đã kết thân rồi tôi mới biết thêm chàng có nhiều đức tính hiếm thấy. Hơn ba năm trong thời gian chưa cưới, chúng tôi có nhiều cơ hội để gần gũi nhau, thế mà chàng vẫn một mực chịu phép, không hề dám manh động. Biết chuyện này, một người bạn tôi đã nói đùa: “Đúng là cù lần biển! Lúc người ta chưa chịu thì làm ẩu, khi người ta trông chết mệt lại làm ngơ!”.

Một lần chàng về phép ghé thăm gia đình tôi, gặp lúc có một cô bạn tôi cũng đến chơi. Thấy cô bạn này bận bộ đồ bộ vải xoa màu tím nhạt vừa vặn xinh xắn quá tôi buột miệng khen:

– Bộ đồ này ai may khéo quá, mày mặc trông đẹp hết sẩy!

Thành cũng trầm trồ khen rồi quay sang tôi:

– Anh sẽ tặng Diệu Ngọc một bộ đồ như thế!

– Khi nào anh tặng?

– Hôm nay là thứ tư, chiều thứ sáu đi! Vì sáng thứ bảy anh phải trở về đơn vị rồi!

Nghe chàng hứa tôi thích lắm. Ngờ đâu hôm sau trời đổ mưa suốt ngày. Hôm thứ sáu mưa càng lớn, gió lại thổi mạnh. Lúc đó tôi không nghĩ đến món quà Thành hứa tặng nữa mà chỉ ngại anh ấy phải vất vả khi trở về đơn vị. Thế mà đúng chiều thứ sáu anh vẫn có mặt tại nhà tôi với món quà đã hứa. Tôi cảm kích hết sức. Thành nói:

– Trời mưa bão dữ quá sợ thợ may nghỉ việc, anh phải đến tiệm ngồi thúc hối từ buổi trưa tới giờ mới xong! Anh không muốn thất hứa với em!

Nhìn người Thành ướt át, mẹ tôi cười bảo:

– Quả thật một cục vắt một hòn! Không tặng khi này thì khi khác cũng được chứ làm gì mà gấp vậy? Con Ngọc lấy đồ của thằng Hảo cho nó thay đi không lại cảm!

Tôi đưa đồ của anh Hảo cho Thành thay. Sau đó tôi lấy bộ đồ Thành mới tặng mặc thử. Ai nấy đều ngạc nhiên thấy nó vừa vặn đẹp quá. Tự ngắm mình trong gương tôi thấy hài lòng hết sức.

Cảm động vì thịnh tình của Thành, tôi nói với chàng:

– Cám ơn anh đã tặng em một bảo vật. Em sẽ giữ bộ đồ này làm kỷ niệm.

Hôm sau tôi nắn nót thêu vào hai chéo chiếc áo quí ấy hai chữ Hán: một bên chữ Ngọc một bên chữ Thành. Xong, tôi xếp lại cẩn thận cất vào rương chờ khi Thành về thăm sẽ đem khoe.

Đến khi tôi đã trở thành cô giáo thì hai gia đình chúng tôi chính thức tổ chức lễ cưới. Không lâu sau đó ba mẹ tôi đổi về sống ở Sài Gòn. Nhờ đơn vị anh Thành đóng không xa, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn được gặp nhau, ít khi xa cách lâu. Chàng rất hãnh diện với mọi người về tôi. Chàng vẫn luôn nhắc tới câu chuyện làm ẩu ngày xưa của chàng như một chứng minh hùng hồn về đức hạnh của tôi. Chàng hay khoe chuyện đó với người quen đến nỗi nhiều khi tôi phát ngượng…  Vợ chồng tôi tâm đầu ý hợp, biết kính trọng nhau, tin tưởng nhau, lúc nào cũng nghĩ đến nhau. Mấy đứa con của chúng tôi cũng lần lượt ra đời…

*

Nhưng rồi chiến tranh càng ngày càng nổ lớn. Đùng một cái, người anh cả của tôi – anh Hữu – bị tử trận. Phải chăng là do số mệnh? Trước đó tôi đã nghe anh sắp lên đường đi tham dự một khóa tu nghiệp ở nước ngoài. Chỉ vì vụ bàn giao công việc chậm trễ, anh ở lại đơn vị thêm một đêm! Nào ngờ đêm đó lại là đêm định mệnh: một trái đạn pháo đã kết thúc đời anh! Ngoài nỗi đau đớn mất một người thân, cái chết ấy còn tạo một dấu ấn sâu đậm trong đầu óc tôi về lẽ vô thường. Tôi tự dưng cảm thấy thương cảm và ái ngại cho những người lính thời chiến quá. Tôi càng đâm ra lo sợ cho chồng tôi, cho chính mình: “… Lấy chồng đời chiến binh, Mấy người đi trở lại, Lỡ khi mình không về, Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…” (thơ Hữu Loan).

Rồi bất ngờ anh Thành lại nhận được lệnh thuyên chuyển về vùng 3. Lúc đó tôi đã có ba con: thằng Tí, thằng Sửu và con Hoa. Con thơ đùm đề như thế muốn đi theo chồng cũng khó lắm! Nhất là con Hoa còn quá nhỏ: chưa tròn một tuổi. Đi theo chỉ làm bận bịu cho chồng tôi thôi! Tôi đành ở lại để vừa nương tựa cha mẹ chồng vừa tiếp tục đi dạy học. Nhưng sống xa cách nhau tôi càng thấy thương và ái ngại cho chồng tôi vạn bội. Từ đó đầu óc tôi luôn bị ám ảnh bởi những nỗi bất hạnh mơ hồ…

CHƯƠNG    2

Khi nhận được lệnh thuyên chuyển về Sở Học Chánh Tuyên Đức Đà Lạt, tôi vui mừng khôn xiết. Không ngờ một lời nói giúp của ba tôi ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục lại có hiệu quả nhanh chóng đến thế. Cầm tấm giấy trên tay mà tôi cứ ngỡ như mình đang ở trong mơ!

Nguyên giữa tháng 7/74, tôi nhận được thư của Thành, anh cho biết khoảng cuối 74 hoặc đầu 75 anh sẽ được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia. Anh cũng nói lên ước vọng: “Nếu em xin được thuyên chuyển về dạy ở Đà Lạt nữa thì hay biết mấy! Vợ chồng con cái mình sẽ sum họp một nhà, thật không mong gì hơn!”. Đà Lạt vốn nổi tiếng khí hậu mát mẻ, cuộc sống hiền hòa, lại có nhiều danh lam thắng cảnh, là một nơi di dưỡng tinh thần rất tốt. Anh Thành lại có bà cô ruột – cô Hậu – ở ngay thị xã. Gia đình cô sinh sống ở nơi này đã hơn mười lăm năm nay. Nếu được thuyên chuyển về đó, chúng tôi sẽ không đến nỗi lẻ loi! Vì thế, tôi cũng mơ ước được sinh sống ở xứ này.

Khi tôi báo tin này cho ông bà nội tức cha mẹ chồng tôi – từ khi có con tôi vẫn quen xưng gọi cha mẹ chồng là ông bà nội, gọi cha mẹ ruột tôi là ông bà ngoại – theo đúng như con cái chúng tôi xưng gọi – ông bà nội mừng lắm:

– Nó nói sắp được đổi về Đà Lạt thật không con? Lạy ơn trên! Quả là phước đức ông bà để lại!

Tôi đọc lại lá thư cho ông bà nội cùng nghe. Suốt mấy ngày liền trên nét mặt hai ông bà lúc nào cũng lộ vẻ hân hoan làm tôi rất cảm động. Tôi biết ông bà nội mừng vì được ở Đà Lạt chữ thọ của anh Thành sẽ được bảo đảm hơn nhiều. Nhân một bữa ăn tối, trong lúc ông bà đang hí hửng nhắc đến anh Thành, tôi hỏi:

– Anh Thành muốn con và mấy cháu vào sống với anh ở Đà Lạt, ông bà nội có chịu cho tụi con đi không?

– Sao lại không? Ba mẹ cũng mong vợ chồng con được sum họp lắm chứ!

Tôi nghe thế mừng lắm:

– Vậy thì con làm đơn xin thuyên chuyển nhé!

Ông nội vui vẻ nói:

– Ừ, con cứ làm đơn đi! Ông bà nội tuy già nhưng còn mạnh, vẫn có thể nương tựa nhau được. Chừng năm bảy năm nữa yên yên tụi con cũng trở về đây chứ lo gì!

Mấy ngày sau tôi lại nhận được một lá thư nữa. Anh Thành cũng lập lại cái tin đáng mừng nói trên. Anh cũng nhắc tôi nên tìm cách xin thuyên chuyển về Đà Lạt. Thế là cả gia đình tôi đều vui vẻ chờ đợi tin mới.

Chừng nửa tháng sau ông bà ngoại ở Sài Gòn lại đột ngột về thăm chúng tôi. Tôi kể lại việc anh Thành sắp đổi về Đà Lạt cho ông bà nghe và cũng nói lên nguyện vọng của gia đình. Ông ngoại nghe xong vui vẻ nói:

– Ừ, Đà Lạt là nơi khí hậu tốt nhất Việt Nam, về học đường từ tiểu học đến đại học đều có đủ, việc giáo dục con cái rất thuận lợi. Dân Đà Lạt lại sống hiền hòa, các nghề trồng trọt, buôn bán… đều khá. Con muốn lên đó sống với thằng Thành để ba lo cho, không khó khăn chi cả!

Lúc bấy giờ ông ngoại về hưu đã khá lâu, tôi nghĩ ông ngoại chỉ nói cho có nói vậy thôi chứ không tin tưởng lắm. Tôi mỉm cười hỏi:

– Bộ ba giúp con việc đó được thật sao?

Ông ngoại cười:

– Sao lại không được? Ba còn nhiều bạn bè đang làm việc ở Bộ, một việc nhỏ đó chẳng lẽ ba lo không xong?

– Thế thì ông ngoại lo cho con đi! Ông ngoại cần những giấy tờ gì?

– Khỏi cần!

Đơn giản đến vậy sao? Tôi cho rằng ông ngoại đã chủ quan như bao nhiêu người cao tuổi khác mà tôi vẫn gặp. Suy nghĩ như thế nên khi ông bà ngoại trở về Sài Gòn, tôi gần như quên ngay chuyện đã nhờ cậy ông ngoại. Tôi đã kiếm sẵn mấy tờ đơn nhưng còn dật dờ chưa điền vì chưa có chứng từ về việc anh Thành được đổi về phục vụ ở Đà Lạt. Nào ngờ chỉ hai tháng sau lần ông bà ngoại về thăm, tôi nhận được tấm lệnh thuyên chuyển như trên trời rơi xuống này!

Khi về nhà tôi liền đem lệnh thuyên chuyển ra khoe. Ông nội vui vẻ nói:

– Ôi, đúng là phước đức ông bà để lại! Vợ chồng con cùng được đổi về Đà Lạt ba mẹ phải làm cỗ mà ăn mừng mới đúng! Lâu nay thấy thằng Thành cứ lăn lộn ở chiến trường ba mẹ lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Nó chịu cực khổ cũng nhiều rồi, thôi thì con cũng mau thu xếp để về sống với nhau cho nó mừng! Đời loạn lạc này không có gì quí bằng chuyện gia đình được đoàn tụ!

Bà nội cũng hớn hở nói:

– Còn chi vui hơn nữa! Như vậy là con được thuyên chuyển lên Đà Lạt trước cả thằng Thành? Nhưng không hiểu ba con xin với ai mà chóng dữ vậy?

– Có lẽ ông ngoại xin thẳng tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục mẹ ạ!

– Rứa con định khi mô đi?

– Chắc phải chờ anh Thành về trên ấy đã!

Ông nội có vẻ lo, hỏi:

– Như vậy là có thể đến đầu năm 1975? Bây giờ mới tháng 9, chờ tới lúc ấy mất khoảng bốn tháng, có lâu lắm không? Sợ người ta không chịu thì sao?

Tôi thưa:

– Chắc không trở ngại đâu ba! Con có thể nhờ ông hiệu trưởng viện lý do vì công vụ lưu giữ lại một thời gian ngắn.

Bà nội gạt đi:

– Thôi con, đã biết chắc thằng Thành sẽ đổi về trong ấy còn lo ngại chi nữa! Cứ sắp xếp mà đi chứ nhờ cậy lưu giữ làm chi cho phiền người ta? Trong đó tụi con còn có bà cô, nếu chưa tìm được nhà cứ ở tạm nhà cô Hậu vài ba tháng chẳng lẽ không được?

Nghe bà nội nói có lý tôi đồng ý ngay:

– Vậy xin ba mẹ cho phép con và mấy cháu lên Đà Lạt sống với ba chúng một thời gian. Con hi vọng có anh Thành trong nhà việc giáo dục mấy cháu sẽ bảo đảm hơn. Khí hậu tốt lành của Đà Lạt sẽ giúp mấy cháu khỏe mạnh, chóng lớn. Chúng con nhất định sẽ làm cho cả ông bà nội lẫn ông bà ngoại hài lòng!

Hai ông bà đồng loạt nói:

– Được, được, con cứ việc dắt mấy cháu vô Đà Lạt sống với chồng con!

Thế là tôi viết thư ngay cho anh Thành một bức thư ngắn gọn:

“Thiện Trường, ngày…

      Anh Thành yêu quí,

      Trước hết em xin báo cho anh một tin mừng: Em đã được Bộ QGGD ký  lệnh thuyên chuyển về Đà Lạt. Ba mẹ rất vui vẻ khi biết tin này. Em sẽ gắng thu xếp để lên đường sớm. Nếu em về Đà Lạt trước, em sẽ ở tạm tại nhà cô Hậu để chờ anh. Ngày đoàn tụ của gia đình mình sắp đến. Hi vọng em và các con sẽ không phải đợi anh  lâu!

                                                                                     Vợ anh: Diệu Ngọc”

Tôi nghĩ lá thư này sẽ gây một sự ngạc nhiên lý thú cho Thành. Tôi tin khi đọc xong, anh sẽ vui mừng lắm và lập tức tìm ngay phần vụ hữu quyền để thúc đẩy tiến hành việc thuyên chuyển của mình. Trước mắt tôi đã thấp thoáng một con đường tương lai sán lạn…

*

Cô Hậu là em út của ông nội, cô chỉ lớn hơn anh Thành mười tuổi. Chồng cô Hậu – dượng Tánh – cũng là quân nhân, đơn vị đóng ở Lâm Đồng. Cô Hậu buôn bán rau cải ở chợ Hòa Bình đã hơn mười lăm năm nay. Công việc làm ăn của cô khá thạnh lợi nhưng vì đông con nên cuộc sống gia đình cũng chỉ bình bình. Cô dượng có đến bốn con trai nhưng không có con gái. Các em đều ở tuổi đi học, em lớn nhất là Lâm đã mười tám, kế đó là Sơn, Hải, em nhỏ nhất tên Hiếu mới mười hai. Vì vậy, hễ hết công việc ngoài chợ cô Hậu lại phải bận rộn với công việc trong nhà. Tuy không dư dả lắm, lại ở xa, nhưng không năm nào cô Hậu quên gởi tiền phụ ông bà nội để lo việc chạp giỗ. Ngoài ra, vài ba tháng cô lại gởi thư hỏi thăm sức khỏe ông bà nội. Dĩ nhiên cô cũng ít khi quên hỏi thăm sức khỏe vợ chồng tôi, có khi kèm thêm chút quà cho các cháu nhỏ. Vì thế, tôi vẫn thỉnh thoảng viết thư cám ơn và bày tỏ tâm tình với cô. Nhà cô Hậu lại ở ngay thị xã Đà Lạt, tôi định thời gian đầu sẽ xin ở tạm nhà cô.

Cuối tháng 1/75 thì mẹ con tôi đặt chân lên xứ hoa đào thơ mộng với bao nỗi rộn rã trong lòng. Cô Hậu nghỉ buôn bán trọn hôm đó để lo việc đón chúng tôi về nhà. Đà Lạt là xứ lạnh nên nhà nào dù giàu hay nghèo cũng luôn chuẩn bị giường, nệm, mùng mền thừa sẵn trong nhà để phòng khi có khách đến bất ngờ. Nhà cô Hậu giường mền không thiếu nhưng trong dịp này cô lại sắm cho chúng tôi một bộ giường nệm mới toanh rộng đủ chỗ cho cả bốn mẹ con nằm.

Hôm sau, cô Hậu bỏ thêm một ngày nữa để dắt mẹ con tôi đi mua sắm quần áo ấm, dù mũ, giày tất, nồi soong và nhiều vật dụng linh tinh khác… Trong khi đi mua sắm, gặp món ăn lạ nào cô cũng ép lũ trẻ ăn, đến nỗi khi về nhà bọn trẻ nhịn cơm luôn. Có nhiều món tôi nghĩ chưa cần nhưng cô vẫn cứ mua, vài lần tôi muốn giành trả tiền nhưng cô nhất định không chịu. Cô cười cười nói:

– Tụi bây vào đây nhằm lúc này là hên lắm đó. Cô vừa mới bốc một cái huê, huê bốc chót mới ngon chứ! Thời buổi buôn bán ế ẩm, nếu tụi bây vào gặp những lúc khác chưa chắc cô đã có tiền để sắm sửa cho tụi bây đâu!

Lần đầu tiên nghe tiếng bốc huê, tôi không hiểu nên hỏi:

– Bốc huê là làm sao cô?

Cô Hậu giải thích:

– Chơi huê con không biết à? Ngoài Trung mình người ta gọi là chơi hụi đó mà! Thế này nhé, một người đứng ra rủ chừng mười lăm hai chục người thỏa thuận với nhau chơi một cái huê. Người chủ động rủ người chơi gọi là chủ huê. Huê được ấn định kỳ hạn là một tuần, nửa tháng hay một tháng tùy sự giao ước với nhau. Lần đầu, mỗi người chơi huê phải đóng cho chủ huê một số tiền nhất định. Thí dụ mỗi chân huê đóng 1.000 đồng chẳng hạn. Chủ huê toàn quyền tùy nghi sử dụng số tiền gom được đó. Đến kỳ thứ nhì, các huê viên ai cần tiền thì bỏ thăm để bốc. Giả như con cần tiền mà cô cũng cần tiền, con bỏ thăm 100 đồng, cô bỏ thăm 150 đồng, thăm của cô cao hơn nên cô trúng. Các huê viên khác mỗi người chỉ đóng 850 đồng cho chủ huê. Chủ huê có trách nhiệm thu tất cả số tiền đó ở mọi người rồi trao lại cho cô. Cô đã bốc được rồi tức chân huê của cô đã thành chân huê chết (để phân biệt với người chưa bốc được gọi là chân huê sống), từ đó mỗi tháng cô phải đóng 1.000 đồng để chủ huê chung cho người nào trúng. Kỳ tiếp theo, giả sử có người bốc cao nhất 120 đồng, những chân khác chỉ đóng 880 đồng, ngoại trừ chân huê chết. Nói chung, người nào đã bốc được thì trở thành chân huê chết, các kỳ kế tiếp phải đóng đủ 1.000 đồng mãi cho đến phiên người cuối cùng bốc. Người bốc chót, như cô vừa mới bốc trước khi tụi con vào, sẽ nhận đủ trọn vẹn từ mỗi huê viên khác 1.000 đồng.

– Như vậy ai bốc càng sớm càng thiệt thòi cô hả?

– Ừ, ai cần mới bốc chứ bốc sớm làm gì! Khi cần lại phải bốc thật cao mới chắc ăn. Thí dụ đầu huê mỗi chân đóng 1.000 đồng, nếu con cần tiền, con có thể bốc cao tới 300 đồng, mỗi chân huê sống chỉ đóng cho con 700 đồng thôi. Như vậy là con thành chân huê chết, mỗi kỳ phải đóng 1.000, chịu lỗ 300 đồng…

Chuyện chơi hụi tôi đã nghe từ lâu nhưng bây giờ tôi mới biết rõ. Chắc hẳn trong những ngày chúng tôi mới đến, cô Hậu đã tốn một số tiền khá lớn.

Những ngày kế tiếp, cô Hậu lại tiếp tục công việc buôn bán. Hằng ngày từ chợ về, lúc nào cô cũng có ít hàng quà cho các cháu. Tôi chưa đi làm nên ở nhà cũng phụ lo các việc nội trợ. Vài lúc tôi còn ra chợ trông hàng giúp cô nữa. Sạp hàng của cô Hậu cũng khá đông khách. Hình như là khách quen cả, tôi thấy người ta rất ít trả giá khi mua hàng. Nhìn các sạp hàng khác tôi cũng nhận thấy như thế cả, người mua kẻ bán rất hoà nhã với nhau. Quả thật dân Đà Lạt sống rất hiền hòa như người ta vẫn nói. Buổi tối về nhà được rảnh rang hơn trước, cô Hậu có vẻ hài lòng. Cô cháu lại cùng nhau chuyện trò vui vẻ.

Những ngày đầu tiên sống ở Đà Lạt tôi cảm thất dễ chịu làm sao!

Nhưng rồi một hôm, cô Hậu từ chợ trở về với vẻ mặt nghiêm trọng, cô vẫy tôi lại gần, nói thật nhỏ:

– Lại giới nghiêm 24/24 rồi. Người ta tranh nhau mua gạo, cá khô để trữ làm ồn cả chợ. Chắc kỳ này dượng Tánh con không về được. Thằng Thành nói muộn lắm là đầu năm 1975 đổi về đây mà giờ đã hết tháng 1/75 sao chẳng thấy gì cả? Con viết thư hỏi nó lại xem sao?

Nghe nói đến chuyện giới nghiêm là tôi đâm hoảng. Mỗi lần quân đội giới nghiêm là y như có chuyện chẳng lành. Tôi cứ sợ dại vì nhà tôi đã có một cái huông không tốt. Anh Hữu tôi trước cũng phục vụ trong quân đội. Lần đó anh đã nhận được sự vụ lệnh đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Không ngờ trong khi còn ở lại đơn vị để chờ bàn giao công việc, anh đã bị pháo kích chết. Vụ ấy cứ ám ảnh mãi trong đầu óc tôi…

Liền đêm đó tôi viết thư cho anh Thành để thúc giục. Nhưng thư chưa kịp gởi tôi đã nhận được thư anh báo tin: “Vì tình hình chiến sự, vụ thuyên chuyển của anh đã bị tạm đình”. Ông trời trêu tôi đến thế này sao? Tôi cảm thấy lúng túng và càng đâm ra lo sợ thêm. Suốt mấy ngày liền tôi cứ bần thần, hoang mang không làm gì được. Cô Hậu lại phải an ủi tôi, khuyên tôi cứ lo thu xếp cho mấy cháu vào trường học và lo đi trình diện nhiệm sở mới.

Nỗi lo sợ của tôi không ngờ đã biến thành sự thật một cách phũ phàng. Mấy ngày sau thì tôi nhận được cái tin anh Thành bị thương nặng. Anh đã được đưa về chữa trị tại quân y viện Cộng Hòa! Thật éo le hết sức! Nếu chưa đi Đà Lạt, tôi còn dễ xoay xở tiền nong và gởi mấy cháu cho bà nội để vào thăm anh. Nhưng bây giờ thì tôi kẹt cứng! Việc sắm sửa để di chuyển vào Đà Lạt vừa qua tôi đã bị hao tốn khá nhiều. Tới Đà Lạt lại làm gia đình cô Hậu hao tốn cũng không ít. Chẳng lẽ giờ lại tiếp tục làm phiền cô Hậu? Hơn nữa, tôi trình diện nhiệm sở mới đã trễ mất một thời gian, giờ lại xin phép nghỉ để đi thăm chồng càng khó nói. Dù có xin được phép, cô Hậu buôn bán đầu tắt mặt tối, tôi biết gởi lũ con cho ai? Cuối cùng, tôi chỉ còn nước đánh điện cho ba mẹ tôi ở Sài Gòn biết để nhờ ông bà lo liệu thế nào đó rồi tính tiếp.

Tối hôm đó, đợi cô Hậu ăn uống xong tôi mới đưa bức điện tín ra nói chuyện. Cô hoảng hốt kêu trời than thở một hồi rồi hỏi tôi:

– Bây giờ con tính sao?

Tôi thành thật nói ra những điều mình đã suy nghĩ. Cô Hậu nói:

– Cô cũng đang lo bấn cả ruột. Cả tháng nay dượng Tánh con không về thăm, cô không yên bụng chút nào. Giờ lại thêm cái vụ thằng Thành nữa! Cô hiện giờ cũng không được dư dả chi lắm, thôi để cô liều bốc cái huê non lấy tiền cho con đi. Mới đầu huê phải bốc hơi cao, nhưng mình có việc cần, thiệt thòi một chút cũng chẳng sao! Cô cũng muốn vào thăm nó lắm nhưng đi bỏ sạp hàng lâu ngày đâu có được! Con phải ráng vào thăm để săn sóc an ủi nó! Nếu không, lỡ xảy ra việc gì cô cháu mình sẽ ân hận cả đời! Con lo chuẩn bị đi, chừng năm bữa nữa người ta thu tiền xong cô đưa cho!

Nghe nói chuyện bốc huê, lại bốc kỳ đầu, tôi phát hoảng:

– Đừng cô ơi! Chúng con đến đây đã làm cô hao tốn quá nhiều, giờ cô lại bốc huê kỳ đầu lỗ nhiều lắm, con không dám nhận đâu!

Cô Hậu nói:

– Không, cô bắt con phải nhận! Con không được quyền thả liều! Con phải vào thăm cho nó lên tinh thần chứ!

Thật ra tôi cũng muốn chắp cánh về Sài Gòn để gặp chồng tôi ngay! Nhưng cứ bấu vào cô Hậu như vậy thì lương tâm tôi không cho phép! Vì thương cháu cô Hậu không suy tính gì nhưng tôi cũng phải biết tự trọng chứ! Đi chuyến này xong trở về bốn mẹ con tôi lại xúm vào ăn bám gia đình cô chứ biết làm sao?

Có lẽ do suy nghĩ, lo lắng quá nhiều nên tôi lại bị phát bệnh. Một trận sốt đã buộc tôi nằm liệt giường ngót nửa tháng. Tự nhiên tôi lại hành hạ cô Hậu thêm một đợt nữa! Cô Hậu đã bốc lỡ cái huê với giá khá cao cũng đành để dành đó.

Tôi vừa lành bệnh cô Hậu liền thúc giục tôi đi thăm anh Thành ngay. Cô đích thân kéo tôi cùng đi lo phương tiện. Tôi áy náy quá – mình đã làm cô tốn kém nhiều rồi, vả lại tôi đã viết thư nhờ ông bà ngoại lo chuyện đó – nên tôi không chịu đi. Tới lúc này cô Hậu mới đưa tôi xem một lá thư:

– Thư của con đây! Thư đến nhằm lúc con đang bệnh nặng, cô nóng lòng muốn biết tin nên mở ra xem trước. Không ngờ tình trạng thằng Thành bi đát quá nên cô phải giấu chưa dám cho con biết! Giờ con coi thư đi rồi muốn tính sao thì tính!

Thì ra thư của ông ngoại! Tôi hoảng hốt vội mở ra xem. Trời ơi: anh Thành đã bị cưa mất cả hai chân! Không ngờ tình trạng chồng tôi lại thê thảm đến thế! Thế là hết! Tôi bưng mặt khóc òa. Cô Hậu lặng lẽ để mặc tôi khóc lóc một hồi rồi mới nói:

– Giờ con phải giữ gìn sức khỏe, phải bình tĩnh sáng suốt để lo tính mọi việc. Trước hết, bằng mọi cách con phải vào thăm nó! Lúc này nó cần người thân an ủi hơn lúc nào hết. Đừng để nó tủi thân tội nghiệp! Chuyện tiền bạc cô sẽ gắng chạy cho!

Lúc ấy ý khí của tôi hình như đã tan biến hết. Cô tôi nói rất phải: Tôi phải tìm mọi cách để thăm nom an ủi chồng tôi kịp thời. Tôi hối hả giục cô Hậu giúp tôi lo phương tiện để đi Sài Gòn…

Nhưng khi bước ra bên ngoài chúng tôi mới biết tình hình an ninh đã trở nên hết sức bi quan. Ở đâu tôi cũng thấy thiên hạ hoảng hốt, nhốn nháo, bàn tán lung tung! Người ta nói đường bộ đã bị gián đoạn nhiều nơi, hãng hàng không thì lúc nào người cũng chật như nêm, chen không lọt. Trên đường phố cũng đã xuất hiện những người lính thất trận từ Pleiku, Ban Mê Thuột chạy về lang thang lếch thếch tìm người thân. Việc đi lại ngay tại địa phương cũng đã trở nên khó khăn. Những người quen của cô Hậu biết tôi đang cố gắng tìm cách đi Sài Gòn thăm chồng đều can ngăn:

– Tình hình này bà đi Sài Gòn chắc chi đã tới nơi được? Không chừng đã không tìm được chồng lại lạc luôn con có khổ thêm không? Lúc này phải mẹ đâu con đấy cho rồi bà ơi!

Những lời khuyên ấy thật có lý. Nếu tôi về Sài Gòn được, biết đâu lại chẳng xảy ra tình trạng mẹ một đường con một nẻo! Cô Hậu lại càng tỏ vẻ bối rối hơn vì tình hình đã quá nghiêm trọng mà dượng Tánh vẫn bặt tăm hơi. Tôi lấy tiền bạc của cô Hậu để đi thăm chồng rồi lỡ dượng Tánh gặp chuyện không hay cô Hậu lấy gì để lo? Nghĩ như vậy nên tôi lại quyết bỏ ý định đi thăm chồng!

Cuối tháng 3/75 thì hầu hết các đơn vị quân sự cũng như hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa tại Đà Lạt đã di tản hết. Mấy ngày sau thì bộ đội miền Bắc tới. Thế là xong – có thể không bao giờ tôi được gặp lại anh Thành nữa! Tôi lại khóc ngày khóc đêm, hối hận về việc mình lỡ mất cơ hội đi thăm anh khi vừa nghe tin anh lâm nạn! Cô Hậu tuy cũng lo bấn xác nhưng vẫn khuyên giải tôi:

– Thôi con ơi, số phận xếp đặt cả! Bây giờ đang đánh nhau lớn, biết đâu ngày hòa bình lại chẳng sắp tới! Con cứ gắng ngày đêm cầu nguyện Trời Phật phù hộ cho nó đi! Chứ khóc lóc, rầu rĩ  chỉ hại thân thôi chứ đâu có giải quyết được gì!

Phải, tôi đâu có thể làm gì khác được! Hằng ngày ngoài việc giúp đỡ cô Hậu trong nhà hay ở sạp hàng, tôi chỉ biết tập trung tâm trí vào việc cầu nguyện.

Giữa lúc ấy thì có hai chú bộ đội rất trẻ đến xin ở tạm trong nhà cô Hậu. Đây là lần đầu tôi gặp những con người mà trước kia tôi chỉ nghe tiếng và rất sợ hãi. Cả hai đều ăn nói từ tốn, lễ phép, họ tỏ ra rất biết cách ăn ở. Thấy trong nhà có chút rác họ tự động tìm chổi để quét. Thấy thùng phuy chứa nước cạn, họ tìm thùng đi xách nước đổ đầy. Nhiều lúc họ hồn nhiên đùa giỡn, làm đồ chơi hay dạy chữ cho các con tôi nữa. Họ cho biết, vì đồng bào ruột thịt, họ phải từ bỏ cảnh sống thanh bình ở miền Bắc, xẽ Trường Sơn để vào giải phóng miền Nam. Họ cũng giải thích chính sách khoan hồng của chính phủ cách mạng đối với kẻ thù khiến lòng tôi cũng giảm được phần nào lo lắng. Tôi nghĩ thầm hóa ra lâu nay mình chỉ sợ bóng sợ gió thôi. Dần dần tôi đâm ra mến phục họ, coi họ như những đứa em ngoan.

Trong thời gian ấy, thằng Tí con tôi đã vô tình gây nên một chuyện cười ra nước mắt. Số là chiều hôm kia giới hữu quyền ở Đà Lạt tổ chức một buổi chiếu phim về những chiến thắng của cách mạng trên chiến trường miền Nam cho dân chúng xem tại công trường Hòa Bình. Hai chú bộ đội ở nhà cô Hậu có nhiệm vụ an ninh trong buổi chiếu phim ấy. Em Lâm con cô Hậu rảnh rỗi nên cũng dắt thằng Tí đi xem. Trong khí thế buổi đầu thống nhất, thiên hạ đi xem rất đông. Vì thằng Tí bé quá đứng dưới đất không xem được nên em Lâm phải công kênh nó lên cổ cho nó xem. Khi mọi người đang mải miết theo dõi phim, thằng Tí chợt thấy trên màn ảnh một chiếc máy bay xuất hiện, lạ mắt quá, nó liền sung sướng kêu lên:

– Máy bay! Máy bay!

Nào ngờ thiên hạ nghe kêu máy bay thình lình tưởng báo động nên hoảng hốt kêu theo đồng thời xô nhau chạy tán loạn! Em Lâm sợ quá vội cõng thằng Tí chạy một mạch về nhà. Khi chạy được một đoạn em Lâm nghe tiếng loa phóng thanh vang lên:

– Yêu cầu đồng bào ổn định, yêu cầu đồng bào ổn định! Xin đồng bào trở lại vị trí cũ để xem phim tiếp. Vừa rồi kẻ xấu đã cố tình loan tin thất thiệt với mục đích phá hoại nhưng âm mưu đen tối của chúng đã bị cách mạng đập tan! Xin đồng bào trở lại vị trí cũ để tiếp tục xem phim!

Em Lâm về tới nhà liền đem chuyện ấy kể lại làm ai nấy phải cười vỡ bụng. Buổi tối, hai chú bộ đội đi an ninh trở hớn hở khoe với cô Hậu:

– Cô biết sao không? Tụi Ngụy quả thật ngoan cố! Chiều nay, trong khi chính quyền đang chiếu phim cho đồng bào xem, chúng dám đột nhập vào để phá hoại đấy! Nhưng chúng con đã phản ứng kịp thời, đánh đuổi chúng chạy có cờ! Tiếc rằng đồng bào ta đi xem quá đông nên chúng mới lợi dụng lẫn lộn trong dân mà chạy thoát!

Cả nhà chúng tôi lại một phen nhìn thằng Tí mà cố nín cười! Ai ngờ kẻ phá hoại ghê gớm ấy lại chính là một cậu bé năm sáu tuổi trong nhà mình! Hóa ra mấy chú bộ đội trông thật thà thế kia cũng nói dóc quá trời!

Nhờ cái radio của hai chú bộ đội, tôi cũng theo dõi được ít nhiều tình hình cuộc chiến. Mặc dầu phe cách mạng đang chiến thắng dồn dập nhưng Sài Gòn vẫn còn đó, tôi vẫn còn hi vọng Việt Nam Cộng Hòa sẽ có một cuộc phản công để tái chiếm những phần đất đã mất như vụ Mậu Thân. Nhưng dần dần nghe các đài ngoại quốc bình luận miết về tình thế bi quan của miền Nam, tôi cũng tuyệt vọng theo. Thế rồi trong lòng tôi bỗng nẩy sinh một sự thay đổi lớn: Tôi lại mong cho phe cách mạng sớm chiến thắng! Chỉ có cách đó tôi mới có hi vọng gặp lại anh Thành.

Khi nghe được lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh trên đài phát thanh, tôi sung sướng đến rơi nước mắt!

Thế là niềm hi vọng gia đình đoàn tụ lại chớm dậy trong tôi. Tôi đã biểu lộ nỗi hân hoan đối với cuộc chiến thắng của phe cách mạng một cách nhiệt tình. Bắt chước những người sẵn có cảm tình với cách mạng từ trước, tôi cũng sắm cho các con tôi mỗi đứa một chiếc khăn quàng đỏ. Lũ nhỏ quàng khăn đỏ trên cổ sung sướng ra mặt khi chúng được người ta gọi là cháu ngoan bác Hồ. Ngoài chuyện đó, những khi được cô Hậu giao cho việc cân bán rau cải, tôi đã cố tình cân trội khi bán cho những người phe cách mạng. Tôi nghĩ đây cũng là một cách bày tỏ cảm tình, chuộc lại phần nào những hiểu lầm của tôi đối với họ trước kia.

Ban ngày, trong khí thế tưng bừng của xã hội vào những ngày đầu cuộc đổi đời, tôi cảm thấy phấn khởi lắm. Thế nhưng nhiều đêm nằm suy nghĩ, tôi không sao khỏi lo âu cho tương lai của mình. Tôi có ba đứa con, nuôi chúng đâu dễ dàng gì? Mai mốt kia chồng tôi về nữa, với đôi chân cụt, anh ấy đâu có thể làm gì được? Tôi có thể chịu đựng sự vất vả cực nhọc để lo cho chồng con nhưng chắc chắn chồng tôi sẽ mang những mặc cảm không tốt khi anh ấy đã trở thành người vô dụng. Tôi rất hiểu cá tính anh ấy. Càng suy nghĩ tôi càng rối đầu. Cuối cùng tôi cũng tưởng tượng ra một giải pháp có thể áp dụng được khi chồng tôi trở về: Tôi phải kiếm cho được một số vốn để làm chủ một sạp hàng, chồng tôi sẽ cùng phụ trông hàng với tôi. Tôi nghĩ chắc cô Hậu sẽ giúp tôi thực hiện được mơ ước này. Lúc đó coi như hai chúng tôi đều có công việc làm ăn. Hi vọng đó là cách có thể giúp chúng tôi giữ gìn được hạnh phúc gia đình!

CHƯƠNG    3

Sau khi tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng, tình hình miền Nam dần lắng dịu. Thành phố Đà Lạt cũng trở lại sinh hoạt bình thường. Các đài phát thanh, báo chí và các nguồn thông tin khác của chính quyền đều loan báo những thông cáo về chính sách khoan hồng, nhân đạo của chính phủ cách mạng đối với những người đã phục vụ trong chế độ cũ làm tôi vô cùng cảm động. Theo đà tiến triển này, nếu chồng tôi còn sống, không bao lâu nữa anh ấy sẽ được trở về với gia đình.