HÀ NỘI KÝ ỨC ẤU THƠ

 

Tôi xa Hà Nội không phải năm lên mười tám như trong bài hát “Nỗi Lòng Người Đi” của nhạc sĩ Anh Bằng. Năm tôi rời xa Hà Nội (1954) theo gia đình di cư vào Nam tôi chỉ mới là một cậu bé mới mười một tuổi. Ngày đó, tôi còn qúa nhỏ nên cũng không nhớ gì nhiều về Hà Nội ngoài cái chu vi không xa lắm chung quanh khu nhà tôi ở.

1

Tháp Rùa và Hồ Gươm/Hà Nội

Nhà tôi nằm trên phố Châu Long, gần hồ Trúc Bạch, một trong những hồ nổi tiếng của Hà Nội. Hồ Trúc Bạch bao quanh làng Ngũ Xã. Làng Ngũ Xã nằm giữa hồ Trúc Bạch giống như một cái cù lao lớn nối với bờ hồ bằng một con đường ngắn có trải nhựa. Người ta gọi là Ngũ Xã không phải vì nó có năm xã mà là để tưởng nhớ đến năm xã của những người đã từ Kinh Bắc (Bắc Ninh) rủ nhau đến đây lập nghiệp từ lâu lắm rồi. Năm xã có xuất xứ từ Kinh Bắc đó là: Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Đào Viên, và Điện Tiến. Nhà tôi trước khi dọn ra phố Châu Long cũng đã từng ở trong làng Ngũ Xã. Ngũ Xã nổi tiếng với nghề đúc đồng, từng đúc pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng cao gần 4 mét cho  chùa Thần Quang hay còn gọi là chùa Ngũ Xã vì chùa này nằm trong làng Ngũ Xã. Hồi nhỏ tôi có nghe nói, khi an vị pho tượng này vào đầu thập niên 1950 đã có một công nhân bị thiệt mạng vì tai nạn (?).

Ngũ Xã còn nổi tiếng với ngôi đền Ngũ Xã cổ kính được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ 18 . Thuở nhỏ, tôi thường hay cùng lũ bạn nhóc tì vào đây nô đùa và thỉnh thoảng còn được theo người lớn vào sân đền xem hát cải lương, hình như là đoàn Kim Chung, vào buổi tối. Cả hai ngôi đền và chùa Ngũ Xã nằm cách nhau không bao xa.

Ngũ Xã nhỏ bé chỉ có một vài khu phố mà nếu đi loanh quanh thì chắc chắn chỉ “dăm phút đã về chốn cũ”. Từ nhà tôi ở phố Châu Long đi qua Ngũ Xã không xa lắm. Tôi có một người bác ở Ngũ Xã. Bác đã gìa, có một cửa hiệu nhỏ cho thuê truyện nên thỉnh thoảng tôi hay đi qua nhà bác để xin bác cho mượn một vài cuốn truyện mang về đọc. Bác tôi rất hiền, tuy rất thương cháu nhưng bác cũng hạn chế chỉ cho tôi mượn những cuốn sách truyện chọn lọc mà bác cho là có ý nghĩa. Ngoài những sách truyện thiếu nhi, cũng có khi bác cho tôi mượn đọc Tam Quốc Chí, Đông Châu Liệt Quốc, và những truyện trinh thám của Thế Lữ, Phạm Cao Củng,… Mặc dù được bác thương, ưu ái cho mượn sách, nhưng tuyệt đối bác không cho tôi đọc những sách viết về những chuyện tình ái diễm lệ như Tắt Lửa Lòng, Nửa Chừng Xuân, Đồi Thông Hai Mộ,…. Bác chỉ nói: “Cháu còn qúa nhỏ để đọc những truyện đó”, và tôi cũng chẳng hề thắc mắc về lý do tại sao miễn là mình có sách để đọc. Nhưng điều đặc biệt đáng nói nữa là, lần nào bác cũng căn dặn tôi không được mê đọc truyện mà sao nhãng việc học, nếu không bác sẽ không cho mượn sách đọc nữa.

Từ nhà bác tôi ở Ngũ Xã tôi cũng có thể nhìn thấy ngôi trường tiểu học Mạc Đĩnh Chi của tôi nằm sát bên kia bờ hồ Trúc Bạch, quay lưng về phía Ngũ Xã, nhưng mặt tiền lại hướng về phía đê Yên Phụ, ở gần đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên). Con đường Cổ Ngư là con đường mà đám học sinh chúng tôi vẫn thường xuyên được huấn luyện viên thể dục của trường hướng dẫn ra đó tập đi diễn hành đều bước và thỉnh thoảng được cho nghỉ chân ở trước chùa Trấn Võ bên bờ Hồ Tây, đối diện với hồ Trúc Bạch. Chúng tôi chỉ được phép dừng lại bên ngoài chùa chứ không được vào bên trong sân. Chùa Trấn Võ (hay Vũ) còn gọi là chùa Trấn Quốc nằm trên một doi đất sát bên Hồ Tây, là một ngôi chùa cổ kính đã có từ rất lâu đời trên 1500 năm, từ đời Nhà Tiền Lý (Lý Nam Đế 541-547).

Con đường Cổ Ngư là con đường ở giữa ngăn một bên là Hồ Tây và một bên là Hồ Trúc Bạch, chạy dài từ dốc đê Yên Phụ đến đường Quán Thánh (nhưng mọi người hay nói là Quan Thánh). Nếu tôi không phải là học sinh trường Mạc Đĩnh Chi thì có lẽ tôi đã chẳng được thường xuyên đi trên con đường Cổ Ngư này. Bởi vì đáng lẽ tôi đã là học sinh của trường tiểu học Nguyễn Công Trứ (còn được gọi là trường Hàng Than vì ở gần đường Hàng Than, mặc dù mặt tiền của nó nằm trên một con đường khác); ngôi trường này được xây cất từ thời Pháp thuộc nên khang trang rộng lớn hơn, nhưng tôi lại không được học ở đó. Khi trường Mạc Đĩnh Chi mới được mở ra, để cho trường có thể hoạt động được ngay, một số học sinh trong đó có tôi đã được chuyển về học ở trường này. Ngôi trường của tôi vì là trường mới nên còn nhỏ bé, chỉ có năm phòng học, từ lớp Năm đến lớp Nhất (tương đương lớp 1 đến lớp 5 ngày nay). Tôi chỉ được học ở đó có hai năm thì phải gĩa từ nó theo gia đình vào Nam.

Nhắc đến trường Hàng Than tôi lại nhớ đến gánh hàng phở ở bên hông trường này. Thỉnh thoảng vào buổi sáng, tôi được bố tôi chở bằng xe đạp đến đây để ăn phở. Lần nào đến nơi tôi cũng thấy khách xếp hàng chờ ăn phở thật là đông. Mùi phở bốc ra thơm lừng một góc phố, chưa ăn mà đã thấy hấp dẫn thèm rồi. Ông chủ gánh phở là một người cao gầy trông lờ đờ trên đầu hay cột một cái khăn tay trắng đã ngả sang màu cháo lòng, nhưng hai bàn tay thì nhanh thoăn thoắt liên tục thái thịt, bốc bánh phở cho vào bát. Mọi người đứng vây quanh gánh phở của ông kiên nhẫn chờ đợi để có được một bát phở rồi cứ thế bưng ra đứng ngay trên vỉa hè ở đó mà sì sụp ăn thật ngon lành. Đây là một gánh phở nổi tiếng ở Hà Nội hầu như ai cũng biết nhưng riêng tôi thì mãi sau này mới biết. Đối với tôi ngày ấy, lâu lâu mới được ăn một tô phở có thịt đàng hoàng như thế dĩ nhiên là ngon nhất trên đời rồi, chứ có được thường xuyên ăn phở ở những nơi nào khác đâu mà khen với chê. Thỉnh thoảng nếu có thèm phở, tôi chỉ có thể ăn một tô phở không thịt, hay nói theo cách nói bây giờ là phở “không người lái”, với gía chỉ một đồng ở một gánh phở rong trong làng Ngũ Xã. Cho nên, nói phở Hàng Than nổi tiếng ở Hà Nội ngày đó thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi. Nhưng có lẽ nó nổi tiếng thật nên hiện nay ở Little Saigon, Quận Cam, mới có tiệm phở N.H. khá quen thuộc ở vùng này, đã quảng cáo rằng, nó là hiệu phở gia truyền chính hiệu của phở Hàng Than, Hà Nội, nhưng nó có thực như thế hay không thì có mấy ai biết đâu mà so sánh.

Ngoài những ký ức về Ngũ Xã và hồ Trúc Bạch, tôi chẳng biết gì nhiều về Hà Nội. Tôi nhớ mơ hồ về đền Ngọc Sơn với cầu Thê Húc nằm bên một góc Hồ Gươm, nơi có tòa Tháp Rùa ở giữa. Tục truyền rằng Lê Lợi được trời ban cho thanh bảo kiếm có khắc hai chữ “Thuận Thiên”, nhờ vậy, sau 10 năm đứng lên khởi nghĩa nằm gai nếm mật mới dẹp được giặc Minh. Dẹp giặc xong, Lê Lợi lên làm vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ. Một hôm, vua Lê Thái Tổ dạo thuyền trên hồ Lục Thủy thì có một con Rùa Vàng (Thần Kim Quy) nổi lên đòi lại thanh kiếm. Từ đó hồ có tên là Hồ Hoàn Kiếm hay còn gọi là Hồ Gươm. Ngày nay ở gần Hồ Gươm có tượng vua Lê Thái Tổ, tượng được đúc bằng đồng từ cuối thế kỷ thứ 19, cũng do các người thợ đồng làng Ngũ Xã đúc, được đặt trên một trụ đá rất cao, tay cầm kiếm chỉ xuống mặt hồ như nhắc lại sự tích trả kiếm cho Rùa Thần.

Cũng ở gần Hồ Gươm còn có Quán Mụ Béo cũng khá nổi tiếng mà ngày ấy thỉnh thoảng bố tôi hay dẫn tôi vào đó cho ăn kem mỗi khi đi dạo chơi bờ hồ. Và cũng ở gần đâu đó quanh Hồ Gươm còn có rạp chiếu bóng Lạc Hồng hay Lửa Hồng chuyên chiếu phim dành cho thiếu nhi học sinh với một gía rất bình dân.

2

Hai toa tàu điện Hà Nội đang chạy ngang qua Hồ Gươm

Hà Nội ngày ấy ít xe cộ và đối với tôi nó có vẻ nhỏ bé nên tôi có thể đi bộ một mình từ nhà đến nhiều nơi trong thành phố mà không sợ bị lạc. Từ Hồ Gươm, ngược lên phố Hàng Đào, Hàng Ngang, tôi có thể đi bộ ngang qua chợ Đồng Xuân, vườn hoa Hàng Đậu, rồi phố Hàng Than để về nhà. Cả một quãng đường dài như thế mà tôi đi bộ dễ dàng như không; khác hẳn ngày nay, các bậc làm cha mẹ thật khó có thể chấp nhận cho một chú bé con mới chín, mười tuổi một mình đi bộ xa nhà như thế bao giờ.

Ngoài những nơi đó, có lẽ một trong những nơi tôi nhớ nhất về Hà Nội là gò Đống Đa ở ngoại ô Hà Nội, nơi Thái Hà Ấp (Hà Đông), quê mẹ của tôi. Tôi mồ côi mẹ rất sớm năm tôi mới hai tuổi, hàng năm, cứ vào dịp Tết, bố tôi lại dẫn mấy chị em tôi về quê ngoại ăn Tết. Thương mấy đứa cháu ngoại sớm côi cút, nhất là đứa cháu trai là tôi, ông ngoại tôi lần nào cũng mừng tuổi (lì xì) cho tôi nhiều hơn mấy đứa cháu khác.

Mỗi lần về quê ngoại ăn tết như vậy, chúng tôi đều phải đi qua gò Đống Đa ở ngay đầu ấp. Đó là một cái gò đất thấp như một qủa đồi nhỏ ở phía trên có một ngôi đền mà bố tôi nói có thờ cả tên Sầm Nghi Đống, một tướng nhà Mãn Thanh đã treo cổ tự tử trước sự truy đuổi của quan quân vua Quang Trung trong trận đánh lịch sử Ngọc Hồi-Đống Đa vào năm Kỷ Dậu 1789. Gò Đống Đa đã là mồ chôn xác quân Thanh cùng với Sầm Nghi Đống sau trận chiến thắng lịch sử này. Là một đứa con nít chưa đầy mười tuổi nghe kể như thế nên cứ mỗi lần đi qua gò Đống Đa tôi lại thấy rờn rợn như bước qua một bãi tha ma, tưởng tượng như đang có lắm hồn ma vất vưởng theo dõi bước chân mình. Tôi tò mò ngó lên những tàng cây xanh trên cao tự hỏi thầm trong đầu, không biết tên tướng nhà Mãn Thanh đã treo cổ trên nhánh cây nào nơi cái gò đất này, hồn của nó có còn phảng phất quanh đây. Tuy nhiên, mặc dù sợ nhưng tôi vẫn hãnh diện vì đây là chứng tích cha ông mình đã chiến thắng lũ giặc ngoại xâm.

Ngày đó, phía trước gò Đống Đa là một bãi đất rộng, chưa có tượng đài vua Quang Trung như ngày nay tôi thấy trên internet. Chúng tôi thường đứng đợi xe (tàu) điện ở đó để đi trở về nhà ở nơi bãi đất này. Những toa xe điện chỉ dài bằng khoảng một nửa toa xe lửa, nhưng dài và lớn hơn chiếc xe buýt ngày nay một chút. Nó chạy chậm rì trên những đường ray, liên tục rung chuông leng keng như nhắc nhở mọi người hãy tránh đường cho tàu chạy. Ngày ấy chưa có xe buýt nên xe điện là phương tiện chuyên chở công cộng tân tiến nhất của Hà Nội và có lẽ của cả nước thời bấy giờ. Tuy nhiên, sau này nó đã trở nên lỗi thời vì nó vừa chậm chạp lại vừa làm cản trở lưu thông trong một thành phố đang trên đà phát triển như Hà Nội. Tuy vậy, sau năm 1975, nó vẫn còn được sử dụng một thời gian khá dài, mãi đến khoảng đầu thập niên 1990 mới chấm dứt.

Khác với Hà Nội, tôi có nhiều kỷ niệm với Sài Gòn hơn. Nó là thành phố đã cho tôi lớn lên, học hành, rồi ra đời làm việc. Trong suốt những năm tháng ở miền Nam, tôi hầu như dành hết thời gian sống ở Sài Gòn. Cũng giống như nhiều người sinh ra ở miền Bắc nhưng đã di cư vào Nam từ năm 1954, chúng tôi vẫn tự coi mình là những người dân miền Nam. Giọng nói của chúng tôi cũng đã có ít nhiều pha tạp không còn như những bậc cha anh thế hệ trước. Nó lại càng khác biệt với giọng của những người Hà Nội từ Bắc vào Nam sau 1975 khiến cho những bạn bè người miền Nam của tôi đã phải ngạc nhiên hỏi, sao giọng Bắc-Hà Nội của tôi không giống những người Hà Nội mới. Qủa thật, sau hơn hai mươi năm rời xa Hà Nội giọng nói của những người Hà Nội nay đã khác. Nó khác hẳn cái giọng của người Hà Nội thế hệ cha anh của tôi. Nó nghe sao lạ lẫm những âm sắc chát chua, thô cứng, và the thé. Không những vậy, có nhiều chữ thuần Bắc hay thuần Hà Nội nhưng đối với tôi và nhiều người Hà Nội 54 bây giờ nghe sao xa lạ. Những chữ như “cái cốc” (ly), “cái thìa” (muỗng), “cái phanh” (thắng), “con lợn – thịt lợn”, v.v… đã lâu tôi không nghe nay nghe như ngôn ngữ đến từ “nước lạ”. Một anh bạn Bắc kỳ cũ của tôi có lần nói: “Mình nghe và nói chữ “thịt heo, con heo” đã quen, nay nghe lại chữ “thịt lợn, con lợn”, mặc dù nó mang cùng một ý nghĩa, nhưng sao nghe nó có vẻ thô tục, kỳ cục làm sao”. Cái cảm nghĩ này không chỉ ở ông bạn Bắc kỳ có vẻ qúa khích trên của tôi mà hình như còn ở nhiều người khác.

Thực ra, tiếng nói hay ngôn ngữ ở mỗi địa phương, mỗi miền đều có những nét đặc thù, âm hưởng duyên dáng riêng của nó, không thể nói yêu hay ghét. Nhưng cũng chỉ vì người ta vốn ghét cộng sản và không ưa Việt cộng, nhất là sau khi chúng chiếm được Miền Nam nên “yêu ai thì yêu cả đường đi, mà ghét ai thì ghét cả tông chi họ hàng” cho nên mới có cái cảm nghĩ đầy kỳ thị như thế. Người ta đã đồng hóa những chữ, những tiếng, giọng nói của những người Bắc 75 hay Hà Nội mới thành những chữ, những tiếng, giọng nói của VC và đâm ra có ác cảm với chúng. Nghĩ thì cũng tội nghiệp và oan cho chúng, nhưng cũng không hẳn là sai. Tôi là người Hà Nội mà còn dị ứng với chúng huống gì người khác.

Một kỷ niệm mà tôi nhớ mãi là, những ngày sắp rời xa Hà Nội (vì hiệp định Genève 1954), khu phố Châu Long nhà tôi và nhiều nơi khác trong thành phố bỗng chốc trở thành một cái chợ trời thật bát nháo. Người ta mang đủ thứ vật dụng trong nhà như đồ đạc, chén bát, quần áo, giầy dép, sách vở, … đem ra bầy bán đầy trên vỉa hè với một gía rất rẻ gần như cho. Tôi vốn thích đọc sách nên có lần đã tò mò dừng lại trước một đống hàng chợ trời trong đó có nhiều sách báo. Thấy tôi tần ngần cầm lên cuốn sách “Luyện Thi Đệ Thất”, ông chủ đống hàng, một bác trung niên khoảng ngoài bốn mươi tuổi, nhìn tôi mỉm cười nói: “Nếu cháu thích cuốn đó hay cuốn nào khác, cháu cứ giữ lấy mang về mà đọc. Chú tặng cháu đó, không lấy tiền đâu”. Tôi mừng qúa cám ơn ông rối rít, bèn lấy thêm mấy cuốn sách về Toán và Giảng Văn nữa ôm về nhà. Những cuốn sách đó sau đã theo tôi vào Nam và đã giúp tôi khá nhiều trong việc học sau này.

Những kỷ niệm về thành phố Hà Nội thuở ấu thơ của tôi như thế thật là ít ỏi hình như đang nhạt phai dần trong ký ức. Tôi vẫn mơ một ngày nào đó trở về trên miền đất quê hương ấy mà vẫn chưa có dịp.

TOÀN NHƯ

(Santa Ana, 12/2013)