Bệnh Cao Máu

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

(714) 531-7930

drnguyentranhoang@gmail.com

Hỏi:

  • Mấy hôm trước, khi ghé thăm mẹ tôi, thấy mẹ đang đo huyết áp, tôi đo thử cho mình và thấy kết quả là 152, 96 và 78. Mẹ tôi nói như vậy là tôi bị cao máu và phải đi bác sĩ để uống thuốc. Tôi không thấy mình bị nhức đầu hoặc chóng mặt gì cả, nói chung vẫn khỏe khoắn. Như vậy tôi có cần uống thuốc gì không, hay chỉ cần tập thể dục và ăn uống cẩn thận hơn? Huyết áp tới bao nhiêu mới gọi là cao và cần uống thuốc?
  • Tôi thử máu, nghe nói là hơi bị thiếu máu, như vậy mà lại bị chẩn đoán là cao máu, có đúng không?
  • Tôi hiện không có bảo hiểm. Trị bệnh cao máu có tốn nhiều tiền không? Nếu không trị thì có gì nguy hiểm lắm không?

Ðáp:

Các bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và ở Mỹ. Trong số các bệnh tim mạch, cao huyết áp là bệnh thường gặp nhất.

Cao huyết áp là một trong những nguy cơ chính dẫn đến đột quỵ (do tai biến mạch não), các cơn kích tim (do cơ tim bị thiếu máu), suy tim, và suy thận. Ðây đều là các vấn đề rất thường gặp dẫn đến tàn tật suốt đời hoặc tử vong.

Một bệnh nguy hiểm và thường gặp như vậy lại thường không được điều trị đúng mức. Bởi vì cho đến khi bị các biến chứng kể trên, các bệnh nhân cao huyết áp thường không có triệu chứng gì cả, do đó mà họ hoặc là không biết mình bị bệnh, hoặc biết mà ỷ y, không chịu điều trị đúng mức.

Vì vậy mà cao huyết áp được gọi là tên giết người thầm lặng, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, dù cho là hiện nay đã có rất nhiều thuốc và phương cách điều trị rất rẻ tiền, thường rất an toàn (nếu được bác sĩ theo dõi), nhưng rất hiệu quả.

Bệnh thường không được điều trị đúng mức cũng vì:

– Bệnh thường cần được điều trị suốt đời.

– Bệnh nhân thường không có các triệu chứng khó chịu (ví dụ như bệnh cảm thường không làm chết người nhưng làm người ta khó chịu và muốn chữa cho khỏi ngay).

– Thường cần phải kết hợp với việc thay đổi lối sống, không phải là chuyện ai cũng làm được nếu không hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh, sự cần thiết phải thay đổi lối sống để chữa bệnh, cũng như cần phải có ý chí.

– Ngay cả một số bác sĩ cũng không ý thức rõ sự nguy hiểm của bệnh và việc cần thiết phải chữa bệnh đúng mức ngay từ khi bệnh còn nhẹ và chưa gây ra biến chứng.

– Việc chữa bệnh cần có sự phối hợp và quan hệ mật thiết giữa bác sĩ với bệnh nhân, và điều này cho đến nay vẫn không phải là điều thường gặp.

Huyết áp là gì?

Huyết là máu, áp là sức ép; huyết áp là sức ép của máu trên thành mạch máu.

Nói một cách rất đơn giản, huyết áp thường bị ảnh hưởng do các yếu tố chính là: Thể tích của máu trong cơ thể, độ đậm đặc của máu, sự co giãn của thành các mạch máu.

Vì huyết áp là sức ép của máu trên thành mạch máu, chứ không phải là bản thân của máu, và có thể của ảnh hưởng do nhiều yếu tố khác nhau, nên người bị thiếu máu vẫn có thể bị cao huyết áp.

Huyết áp được ghi nhận do hai chỉ số, ví dụ như 120/80.

– Số trên (120), được gọi là huyết áp tâm thu, tức là sức ép của máu trên thành mạch máu lúc tim bóp để tống máu ra các động mạch.

– Số dưới (80) được gọi là huyết áp tâm trương, tức là sức ép của máu trên thành mạch máu lúc tìm giãn ra để nhận máu về từ các tĩnh mạch.

– Ðơn vị được dùng để đo sức ép của máu lên thành mạch máu là milimét thủy ngân (mmHg).

Ở những người lớn hơn 50 tuổi, huyết áp tâm thu nếu cao hơn 140 có ảnh hưởng quan trọng hơn nhiều đến nguy cơ bị các biến chứng tim mạch, so với chỉ số huyết áp tâm trương.

Huyết áp như thế nào là cao?

Ở người từ 18 tuổi trở lên, huyết áp được định nghĩa là cao khi sau khi được đo trong hai lần khám khác nhau, mỗi lần khám huyết áp được đo đúng cách ít nhất hai lần, và số trung bình của mỗi lần khám cho thấy: Chỉ số tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 milimét thủy ngân, hoặc chỉ số tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 milimét thủy ngân.

Ví dụ, cả ba trường hợp sau, đều được coi là cao huyết áp: 140/65, hoặc 132/90, hoặc 147/90. Chỉ cần một trong hai số bằng hoặc cao hơn 140 hay 90 là được coi là cao huyết áp.

Gần đây, có quan niệm cập nhật cho rằng ở người từ 60 tuổi trở lên, thì huyết áp số trên nếu dưới 150 vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng sau đó, có nhiều nghiên cứu khác lại nhận thấy rằng dù ở tuổi nào, huyết áp số trên (tâm thu) từ 140 trở lên, vẫn dẫn đến nhiều biến chứng tim mạch hơn.

Do đó, theo quan điểm được sự đồng thuận nhiều hơn, huyết áp được coi là bình thường khi chỉ số tâm thu từ 90-120 hoặc chỉ số tâm trương từ 60-80.

Khoảng giữa bình thường và cao huyết áp được gọi là tiền cao huyết áp. Tức là chỉ số tâm thu từ 120-139 và chỉ số tâm trương từ 80-89.

Những người bị cao huyết áp cần phải điều trị bằng kết hợp việc dùng thuốc với thay đổi lối sống.

Những người bị tiền cao huyết áp cần phải thay đổi lối sống để làm chậm lại việc bị cao huyết áp.

Nguyên nhân của bệnh cao huyết áp

Tùy theo nghiên cứu, từ 90% đến 95% các trường hợp cao huyết áp được gọi là nguyên phát (essential, primary), tức là không có nguyên nhân rõ ràng, và do đó thường cần phải điều trị suốt đời.

Còn lại 5% đến 10% cao huyết áp có thể có nguyên nhân, và điều trị nguyên nhân có thể chữa khỏi cao huyết áp. Các nguyên nhân này có thể là: Bị bệnh thận; dùng thuốc ngừa thai; một số rối loạn về các chất nội tiết, như của tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến cận giáp; hội chứng ngưng thở trong lúc ngủ.

Các biến chứng của bệnh cao huyết áp

Nhiều nghiên cứu cho thấy cao huyết áp liên quan rất mật thiết với các biến chứng sau:

– Ðột quỵ do tai biến mạch não (strokes): Nếu trị cao huyết áp đúng mức, nguy cơ bị biến chứng này có thể giảm từ 35% đến 40%.

– Bị các cơn kích tim do tim bị thiếu máu (heart attacks): Nếu trị cao huyết áp đúng mức, nguy cơ bị biến chứng này có thể giảm từ 20% đến 25%.

– Bị suy tim: Nếu trị cao huyết áp đúng mức, nguy cơ bị biến chứng này có thể giảm từ 20% đến hơn 50%.

– Bị các bệnh thận: Nếu trị cao huyết áp đúng mức, nguy cơ bị biến chứng này có thể giảm đi rất nhiều.

– Huyết áp nếu quá cao, có thể ảnh hưởng đến não, mắt… gây chết người tức khắc hoặc tàn tật suốt đời.

Cần chú ý, không cần huyết áp phải thật cao mới bị các biến chứng như kể trên. Dù là huyết áp hơi cao trên mức bình thường nhưng kéo dài thì cũng có thể gây ra biến chứng.

Ví dụ, bệnh thận do cao huyết áp thường xảy ra vì huyết áp cao “vừa vừa” (và không có triệu chứng) kéo dài. Ðây lại là biến chứng thường gặp nhất của bệnh cao huyết áp, khiến bệnh nhân phải đi lọc thận suốt đời hoặc phải thay thận mới.

Cũng cần chú ý, các biến chứng nguy hiểm xảy ở người bị cao huyết áp đều do huyết áp không được điều trị thích hợp chứ không phải do tác dụng phụ của các thuốc trị cao huyết áp.

Như bất cứ các bệnh nào khác cần điều trị kéo dài, khi cần thuốc theo toa, bệnh nhân cần đi thăm bác sĩ định kỳ một cách đều đặn để theo dõi hiệu quả của thuốc cũng như phát hiện sớm và đối phó với các tác dụng phụ của thuốc và các biến chứng của bệnh nếu có. Khi cho thuốc, bác sĩ cũng cần phải dựa trên tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân, cũng như các bệnh khác để có biện pháp điều trị tối ưu. Vì có những thuốc có thể giúp cùng lúc cho nhiều bệnh khác nhau.

Nếu làm đúng như vậy, thì việc sử dụng thuốc có ích hơn rất nhiều so với việc không dùng thuốc.

Cần nói thêm, cho đến nay, trong việc điều trị cao huyết áp, nếu cần dùng thuốc, thì thuốc tây là cách hiệu quả nhất, rẻ tiền nhất. Các tác dụng phụ, nếu có, được biết rõ và dễ kiểm soát nhất, được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất, và được bảo hiểm, Medical, Medicare trả tiền (vì biết rõ sự hiệu quả của thuốc).

Dĩ nhiên, như đã trình bày, để điều trị hiệu quả nhất và tránh biến chứng, nên và cần phải kết hợp cả ăn uống lành mạnh, thể dục đúng mức với thuốc.

Làm sao để phòng ngừa bệnh cao huyết áp?

Khi nói về phòng ngừa, người ta thường nghĩ đến việc phòng sao cho khỏi bị bệnh. Thật ra, trong chuyên môn, có nhiều mức độ phòng ngừa khác nhau.

  • Phòng ngừa cấp một (primary prevention) là phòng để khỏi bị bệnh, trong trường hợp này, là để khỏi bị bệnh cao huyết áp.
  • Phòng ngừa cấp hai (secondary prevention) là rủi đã bị bệnh rồi thì cần phòng sao cho khỏi bị biến chứng.
  • Phòng ngừa cấp ba (tertiary prevention) khi rủi đã bị biến chứng rồi thì phòng ngừa để biến chứng đừng trở nặng.

Dĩ nhiên, nên phòng ngừa càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, đôi khi dù cố hết sức, mà bệnh cũng xảy ra, thì ta cần “lập phòng tuyến cố thủ” mới.

Nói ngắn gọn, trong các mức độ phòng ngừa kể trên, các phương thức chính cần áp dụng và phối hợp chặt chẽ với nhau, là thay đổi lối sống lành mạnh hơn, theo dõi thường xuyên với bác sĩ để dùng thuốc đúng và đều đặn.

Thay đổi lối sống để phòng các biến chứng của cao huyết áp bao gồm các điều chính yếu sau đây: Giữ cân nặng ở mức vừa phải, ăn uống lành mạnh, vận động thể lực đúng mức và đều đặn, không hút thuốc lá (lào, xì gà, ống píp…).

Cân nặng vừa phải thường được tính bằng chỉ số cân nặng. Chỉ số cân nặng (tiếng Anh gọi là Body Mass Index – BMI) được tính bằng cách chia cân nặng tính bằng kilôgam cho bình phương của chiều cao tính bằng mét.

Ví dụ, nặng 100 kg, cao 2 m, chỉ số cân nặng = 100/(2×2) = 25 kg/m2 .

Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu giảm khoảng 5-20 mmHg cho mỗi 10 kg giảm cân.

– Trong việc ăn uống, nói chung, cần chú ý các điểm sau đây:

  • Ăn nhiều trái cây, rau, sữa ít béo, ăn ít chất béo và chất béo bão hòa.
  • Giảm muối, ít hơn 2.4 g sodium hoặc 6 g sodium chloride (khoảng một muỗng cà phê muối mỗi ngày). Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu sẽ có thể giảm khoảng 2-8 mmHg.
  • Uống rượu vừa phải: Dưới 2 drinks (1 oz hoặc 30 mL ethanol; ví dụ 24 oz beer, 10 oz wine, hoặc 3 oz 80-proof whiskey) mỗi ngày ở hầu hết các ông và dưới 1 drink mỗi ngày ở phụ nữ hay người nhẹ cân, hoặc không uống thì càng tốt. Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu sẽ có thể giảm khoảng 2-4 mmHg.

– Vận động thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày. Theo một số nghiên cứu, điều này có thể giúp huyết áp tâm thu giảm khoảng 4-9 mmHg.

– Bỏ hút thuốc sẽ giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung.

Ảnh hưởng của các thay đổi này phụ thuộc vào liều lượng và thời gian, có thể mạnh hay yếu hơn ở những người khác nhau.

Hỏi:

  • Huyết áp của ba tôi thường khoảng hơn 170/100, có khi tới 190, 200, nhưng ông không chịu uống thuốc cao huyết áp vì nói không thấy bị nhức đầu, chóng mặt hay triệu chứng gì cả. Như vậy đúng không?
  • Tôi năm nay 49 tuổi, huyết áp số trên cỡ 140 đến 155, số dưới khoảng 85 đến 95, không thấy triệu chứng gì cả thì có cần uống thuốc không? Huyết áp số dưới phải bao nhiêu mới cần uống thuốc? Nếu một số trên hay số dưới bình thường, thì có cần uống thuốc không? Huyết áp số trên hay số dưới quan trọng hơn? Nếu uống thuốc mà huyết áp xuống dưới 140 thì có thể ngưng được không?
  • Có người nói lớn tuổi thì huyết áp sẽ cao hơn, giống như già thì tóc bạc là điều tự nhiên, không cần phải uống thuốc?
  • Bị tiền cao huyết áp có cần uống thuốc không? Uống thuốc rồi thì có cần tập thể dục và chú ý cách ăn uống không?

Ðáp:

Hiện nay, tiêu chuẩn được dùng để điều trị cao huyết áp được dựa chủ yếu vào các khuyến cáo của Hội Ðồng Phối Hợp Quốc Gia (Hoa Kỳ – về cao huyết áp) lần thứ tám (eight Joint National Committee – JNC 8), được đưa ra hồi Tháng Hai, 2014. Hội đồng này bao gồm nhiều hiệp hội y khoa chuyên môn và có uy tín nhất về y học nói chung và (có liên quan đến) lĩnh vực điều trị cao huyết áp nói riêng.

Sau khi khảo sát rất nhiều nghiên cứu, JNC8 đã đưa ra các tiêu chuẩn như sau:

– Huyết áp được coi là bình thường khi huyết áp tâm thu (systolic) dưới 120 và huyết áp tâm trương (diastolic) dưới 80.

– Ðược gọi là tiền cao huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 120 đến 139 hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89.

– Chẩn đoán là cao huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 trở lên.

Ghi chú: Huyết áp tâm thu (systolic blood pressure) là áp lực trên thành mạch máu khi tim co bóp lại để đẩy máu ra các động mạch. Huyết áp tâm trương (diastolic blood pressure) là áp lực trên thành mạch máu khi tim giãn ra để nhận máu từ các tĩnh mạch đưa về.

Ví dụ, cả ba trường hợp sau, đều được coi là cao huyết áp 140/65 (số trên từ 140 trở lên), hoặc 132/90 (số dưới từ 90 trở lên), hoặc 147/90 (cả hai số đều cao, từ 140 và từ 90 trở lên). Chỉ cần một trong hai số cao hơn 140 hay 90 thì được coi là cao huyết áp. Và cần uống thuốc.

Theo khuyến cáo năm 2014, những người từ 60 tuổi trở lên, chỉ cần giữ mức huyết áp tâm thu (số trên) dưới 150 là được (chứ không phải dưới 140 như các khuyến cáo trước đây). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu công bố sau đó lại cho thấy, dù trên 60 tuổi nhưng huyết áp tâm thu dưới 140 (và huyết áp tâm trương dưới 90) vẫn giúp giảm các biến chứng nhiều hơn.

Một số nghiên cứu gần đây lại cho thấy, nếu giữ được huyết áp số trên dưới 120 (mà không bị chóng mặt, kiệt sức) lại là cách tốt nhất để giảm nhiều nhất các biến chứng.

Ở những người bị tiền cao huyết áp (huyết áp tâm thu từ 120 đến 139 hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89), cần áp dụng các phương pháp hạ huyết áp không dùng thuốc như là cai thuốc lá, giảm cân đến mức vừa phải (nếu bị quá cân), giảm muối, tránh uống rượu quá một phần một ngày (tương đương với khoảng một lon bia) nếu là phụ nữ hoặc đàn ông nhẹ cân, hoặc dưới hai phần một ngày nếu là đàn ông to con (đã trình bày chi tiết hơn trong kỳ vừa rồi).

Nếu bị tiền cao huyết áp mà cũng bị tiểu đường, bệnh thận mạn tính, bị tổn thương các cơ quan nội tạng, hoặc bị bệnh tim mạch, có thể cũng cần hạ huyết áp bằng thuốc bên cạnh các phương pháp không dùng thuốc.

Cần nhớ là các con số huyết áp nói trên cần phải dựa trên việc đo huyết áp một cách chính xác từ hai lần trở lên trong ít nhất là hai lần khám bác sĩ.

Ðo huyết áp nên được thực hiện khi ta ngồi nghỉ ít nhất là năm phút, trên ghế (chứ không phải trên giường khám bệnh), chân đặt trên sàn nhà, cánh tay ở ngang mức trái tim.

Bị bệnh các bệnh cấp tính, như đang sưng đau khớp, sốt… thường có khuynh hướng làm huyết áp tăng lên, nên đo lại khi đã qua khỏi các cơn cấp tính đó, có thể kết quả sẽ chính xác hơn. Tuy nhiên, nếu đang bị bệnh cấp tính mà huyết áp cao quá, thì bác sĩ có thể (bên cạnh việc chữa các bệnh cấp tính đó) cũng sẽ cần cho thuốc để hạ huyết áp xuống đến mức an toàn, và sẽ kiểm soát lại huyết áp và điều chỉnh lại thuốc sau khi bệnh nhân đã qua cơn cấp tính.

Cần dùng vòng bao xung quanh tay khi đo (cuff) đúng kích thước, vì nếu người to con mà dùng vòng bao nhỏ quá, huyết áp sẽ có khuynh hướng cao hơn thực tế, và ngược lại.

Như đã trình bày trong một kỳ trước, cao huyết áp được đặt tên là “tên giết người thầm lặng,” vì thường không có triệu chứng.

Theo CDC (Các Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Hoa Kỳ), thì mỗi ngày (mỗi 24 tiếng đồng hồ) có khoảng một ngàn tử vong ở Mỹ (tức là mỗi năm có khoảng hơn một phần ba triệu người ở Mỹ bị chết) có liên quan đến bệnh cao huyết áp.

Một khi có triệu chứng, thì thường đó là triệu chứng của các biến chứng của bệnh cao huyết áp, như là bị:

– Ðột quỵ (strokes) gây ra bại, liệt, tiêu tiểu không kiểm soát được, mù mắt, không nói được… Theo số liệu của CDC, có nguy cơ xảy ra cao gấp bốn lần ở người bị cao huyết áp, so với những người không bị cao huyết áp. 77% trong số các bệnh nhân bị stroke lần đầu, là những bệnh nhân đã bị cao huyết áp.

– Các cơn kích tim (heart attacks) gây ra đau ngực, suy tim, chết. Theo số liệu của CDC, có nguy cơ xảy ra cao gấp ba lần ở người bị cao huyết áp, so với những người không bị cao huyết áp. 69% trong số các bệnh nhân bị heart attack lần đầu, là những bệnh nhân đã bị cao huyết áp.

– 74% trong số các bệnh nhân bị suy tim, là những bệnh nhân đã bị cao huyết áp.

– Suy thận, gây phù nề, đi tiểu nhiều lần, hoặc không còn có nước tiểu, suy kiệt, ngứa toàn thân, cần phải đi lọc thận suốt đời,…

Do đó, không nên đợi đến lúc có triệu chứng rồi mới dùng thuốc, vì thường sẽ không giúp gì nhiều trong việc làm cho các biến chứng “biến mất.”

Ở những người lớn hơn 50 tuổi, huyết áp tâm thu nếu cao hơn 140 có ảnh hưởng quan trọng hơn nhiều đến nguy cơ bị các biến chứng tim mạch, so với chỉ số huyết áp tâm trương.

Ðúng là già thì tóc bạc, và huyết áp thường cao hơn. Tuy nhiên, tóc bạc không gây ra biến chứng nguy hiểm gì cả, trong khi huyết áp cao lại dẫn đến các biến chứng nguy hiểm. Và biến chứng này lại dễ xảy ra ở người lớn tuổi hơn.

Do đó, tuổi càng cao mà huyết áp cao thì càng cần uống thuốc, nếu không muốn bị bại liệt nằm một chỗ tiêu tiểu không kiểm soát được, người suy kiệt, ngứa ngáy, phải đi lọc thận suốt đời, cũng như nhiều biến chứng khác, như đã kể.

Như đã nói ở trên, và xin nhắc lại: Theo khuyến cáo năm 2014 thì những người từ 60 tuổi trở lên, chỉ cần giữ mức huyết áp tâm thu (số trên) dưới 150 là được rồi (chứ không phải dưới 140 như các khuyến cáo trước đây).

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu công bố sau đó lại cho thấy, có vẻ như là dù trên 60 tuổi, giữ huyết áp tâm thu dưới 140, và huyết áp tâm trương (số dưới) dưới 90, vẫn giúp giảm các biến chứng nhiều hơn.

Một số nghiên cứu mới gần đây lại cho thấy, nếu giữ được huyết áp số trên dưới 120, mà không bị chóng mặt, lại là tốt nhất để giảm nhiều nhất các biến chứng (đã kể kỳ vừa rồi).

Khi uống thuốc trị cao huyết áp mà huyết áp trở lại bình thường, thì đó là nhờ thuốc, nếu ngưng thuốc, huyết áp sẽ bật cao trở lại rất nguy hiểm.

Chỉ trong các trường hợp hiếm gặp, khi bệnh nhân đã uống liều thuốc trị cao huyết áp thấp nhất, mà huyết áp vẫn rất thấp, bác sĩ sẽ có thể khuyên bệnh nhân thử ngưng thuốc, và theo dõi cẩn thận. Việc ngưng thuốc trong các trường hợp rất ít gặp này, cần được theo dõi cẩn thận và khuyến cáo của bác sĩ.

Cần nhắc lại, bên cạnh việc uống thuốc, nên thực hiện thường xuyên các phương pháp không dùng thuốc, như đã trình bày kỳ trước, để đạt được kết quả tốt nhất.