Một Chuyến Ra Bắc Thăm Ba đang bị CS giam tù Cãi Tạo / Hùng Biên

Đôi Dòng về Tác Giả

  • Sinh trưởng tại Gia Định, Sài Gòn trong gia đình có 5 anh em và có ba là cựu thiếu tá phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Động Quân, QLVNCH.  – Là con trưởng và sớm phụ giúp gia đình khi còn bé khi ba bị lao tù Cộng Sản.  – Vượt qua số phận bị kỳ thị trong thi cử của chế độ CS, đã thi đậu điểm cao vào Đại Học Bách Khoa, Sài Gòn năm 1988.  Đi dạy kèm và luyện thi đại học qua các môn toán, lý và hóa tại tư gia từ 1989 tới 1995.
  • Đi tỵ nạn CS theo diện HO tới định cư tại Seattle , WA vào năm 1995. Đã tham gia các đoàn thể thanh niên, sinh viên và tôn giáo tổ chức các sự kiện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG) tại tiểu bang Washington (WA) như: Hội Chợ Tết, Tết Trung Thu, Trại Hè, lớp Việt Ngữ, Seafair Parade v… v… Cộng tác với các hội đoàn của CĐNVQG tại WA trong việc tổ chức các lễ hội và kỷ niệm hằng năm.  – Tốt nghiệp đại học ngành Computer Engineering tại University of Washington vào năm 2002 và đang là kỹ sư trong lãnh vực hàng không.

  • Lập gia đình và có 3 con nhỏ, đang sinh sống tại thành phố Atlanta , Georgia.

Trong những kỷ niệm của đời người, kỷ niệm của tuổi thơ với gia đình, người thân và bạn bè là những kỷ niệm đẹp và mãi theo chúng ta trong suốt cuộc đời. Hạnh phúc thay cho những ai có được những kỷ niệm gia đình thật trọn vẹn bên cạnh sự yêu thương của cả cha lẫn mẹ trong suốt quãng đời thơ ấu. Thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đa số đã thiếu hẳn những hạnh phúc gia đình trọn vẹn này khi có cha bị lưu đày trong các ngục tù Cộng Sản (CS). Thay vào đó, chúng tôi có thật nhiều những kỷ niệm khó quên trong những chuỗi ngày dài tự học hỏi, tự vươn lên, và tồn tại trong xã hội Cộng Sản, mà chúng tôi bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Một trong những kỷ niệm của tuổi thơ, đã mãi theo tôi tới hôm nay là cuộc hành trình gian truân cùng với mẹ đi thăm ba, bị giam tù ở Miền Bắc Việt Nam (MBVN).

Giờ đây, tôi vẫn còn nhớ nhiều kỷ niệm, hình ảnh, và ý nghĩ của tôi qua chuyến ra Bắc thăm ba. Qua bài viết này, tôi muốn đem lại cho quý độc giả, nhất là các bạn trẻ và những thế hệ nối tiếp, những sự thật về chế độ CS qua những gì tôi đã nhìn thấy ở tuổi thơ qua chuyến thăm ba này.

Tôi chào đời khi đất nước của tôi chìm trong lửa khói chiến tranh và khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) theo chủ thuyết Cộng Sản Nga và Tàu xua quân đánh chiếm Miền Nam Việt Nam (MNVN). Thế nhưng, tôi quá nhỏ để nhận biết ra một cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra trên quê hương mình. Tôi chỉ hồn nhiên vui cười quấn quýt bên ba khi thấy ông oai phong trong quân phục áo hoa rừng. Tôi nhớ có những lần theo mẹ lên các trại lính thăm ba, mẹ và tôi được di chuyển trên trực thăng chinook và tôi đã khóc vì bị đau nhức tai do áp suất không khí trên cao bị thay đổi. Tôi nhớ hình ảnh của các người lính súng trong tay di chuyển trong doanh trại và tôi có dịp ngắm nhìn những chiếc chinook câu xe và pháo bay về một hướng. Tôi thích nhất là những lần được đưa đón đi học bằng xe jeep khi ba tôi về phép. Hình ảnh tuổi thơ của tôi có ba bên cạnh là như thế đó, không nhiều, nhưng rất đẹp và mãi theo tôi đến hôm nay.

Đến một ngày, tiếng súng nổ rền vang vọng về thành phố Sài Gòn và mẹ tôi đã lùa anh em tôi xuống trốn ở bộ ván trong nhà. Không lâu sau ngày ấy, tôi đã không còn những kỷ niệm tuổi thơ nào với ba và mãi không nhìn thấy ba bên cạnh. Năm tháng dần trôi, tôi sớm nhận ra rằng ngày ấy là ngày 30-4-1975, là ngày đen tối của dân tộc Việt Nam (VN), khi CSBV đã cưỡng chiếm Miền Nam (MN). Từ ngày ấy, đất nước tôi bị cai trị bởi chế độ CS vô thần, dân tộc tôi bị đàn áp đọa đày và gia đình tôi đã bị ly tán và phân biệt đối xử. Là anh cả trong gia đình có 5 anh em, ba bị tù CS khi tôi mới vừa 5 tuổi, tôi đã sớm nhận ra những mất mát thiệt thòi trong tuổi thơ của anh em tôi và trong tuổi thanh xuân của mẹ tôi. Khác hẳn với những đứa trẻ cùng xóm, anh em tôi sớm biết tự lo cho mình từng miếng ăn, cái mặc, đến việc học hành khi mẹ tôi thường xuyên vắng nhà, để tần tảo buôn bán lo kế sinh nhai.  Khác hẳn với những đứa trẻ cùng trang lứa, tôi đã sớm giúp mẹ từ việc nhà đến buôn bán, trông nom và bảo vệ các em tôi.

Đối với tôi, hình ảnh của mẹ giống như con cò lặn lội đồng gần, đồng xa kiếm mồi về nuôi đàn con nhỏ. Có những chiều, anh em tôi ra đứng ở thềm nhà trông chờ mẹ đi bán về. Còn vui nào hơn khi nhìn thấy mẹ, vì mẹ là tình thương và là chỗ dựa duy nhất của anh em tôi khi ấy. Nhớ những ngày tựu trường, mẹ tôi phải lo tiền mua sắm quần áo và tập vở cho 5 anh em tôi. Một mình mẹ chạy tới chạy lui để kịp buổi họp phụ huynh cho chúng tôi. Tôi thương mẹ nhiều hơn và cảm thấy sự thiếu vắng của ba tôi với gia đình.

Có những lần rong chơi cùng lũ trẻ trong xóm, tôi thường được cô bác láng giềng hỏi thăm về ba tôi, như: “Mẹ con có tin tức gì về ba không?”, “Ba con bị giam tù ở đâu?”, “Khi nào ba con về?”… v..v… và v…v… Những câu hỏi ấy luôn gợi cho tôi lòng thương nhớ ba mình và mong ngày được gặp lại. Tôi đã tìm hiểu nguyên do tại sao ba tôi bị giam cầm và tôi sớm nhận ra rằng ba tôi, cũng như các bác tôi, các anh họ tôi, và cậu tôi là những người lính VNCH, đã cầm súng chiến đấu bảo vệ nền tự do dân chủ cho MNVN, chống lại sự xâm lăng của CSBV. Thương nhớ ba, tôi thường hỏi mẹ, “Khi nào ba về?” hay “Khi nào mình gặp lại ba?”.  Hỏi như thế, chứ tôi biết mẹ tôi còn nôn nóng ngày gặp lại ba nhiều hơn anh em tôi. Mẹ luôn trông ngóng những tin tức về ba. Khi được phép viết thư thăm chồng, mẹ luôn cho tôi viết vài hàng thăm ba. Những lá thư đầu tiên trong đời, tôi đã viết thăm ba trong ngục tù CS.

Mùa hè năm 1979, mẹ nhận tin là được phép ra thăm ba tôi, đang bị giam tù tại trại K3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Mẹ sẽ dẫn tôi đi cùng. Tôi quá đỗi vui mừng và đã chạy đi khoe với các bạn cùng sớm và cô bác láng giềng. Mẹ tôi phải làm nhiều hơn và phải bán đi chiếc xe Honda Dame, là phương tiện di chuyển duy nhất của mẹ, hầu có đủ tiền mua vé xe lửa, mua thực phẩm, thuốc men, và quần áo làm quà cho ba. Mẹ báo tin đến bà con xa gần về chuyến đi thăm này. Mẹ và tôi nhận được những tình cảm thân thiết qua nhiều lời nhắn gởi thăm hỏi đến ba tôi từ bà con xa gần và ngay cả các cô chú bác láng giềng.

Sau những ngày chuẩn bị, ngày đi thăm ba tôi đã đến. Chiều hôm đó, sau khi gia đình tôi dùng cơm chiều sớm hơn mọi ngày, mẹ tôi căn dặn các em ở nhà thật ngoan và nghe lời dạy bảo của ông bà ngoại và các dì. Khi tiễn mẹ và tôi ra đến hiên nhà, bà ngoại nói với tôi:  –    Con nhớ nói với ba là ngoại thương nhớ ba con nhiều lắm.  Tôi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy gò của ngoại. Tôi thương ngoại và hiểu rõ tình cảm của ngoại dành rất nhiều cho ba, cho người con, người lính VNCH. Ngoại tôi đã mất một người con, cũng là người lính VNCH, vào những ngày cuối của cuộc chiến VN. Bà tôi đã khóc thật nhiều và có những lúc bà vẫn tin rằng cậu tôi đang lẩn tránh trong rừng cầm súng chống lại chế độ CS đương quyền. Tôi may mắn hơn các anh em bà con, đã sống gần bên ngoại. Bà đã kể cho tôi nhiều về những gian nan của gia đình hay những dã man của Việt Minh (tiền thân của Cộng Sản), khi ông bà còn sống trong vùng Việt Minh kiểm soát mà hằng đêm dân lành bị quấy phá, cướp bóc, cắt cổ, hay đập đầu.

Khi những tia nắng chiều vừa khuất dạng bên những tàu lá dừa xanh ở căn nhà đối diện, cũng là lúc mẹ và tôi phải chia tay gia đình ra ga xe lửa Bình Triệu. Cùng đi thăm nuôi với gia đình tôi còn có dì Năm, người hàng xóm thân thiết. Dì Năm đi cùng với mẹ chồng ra thăm chú Nguyễn văn Năm, một cán bộ xây dựng nông thôn của VNCH, cũng bị giam giữ tại trại K1 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.

Lần theo số toa ghi trên tấm vé, mẹ và tôi đến chỗ ngồi trên toa xe lửa. Đây là toa ngồi cho hành khách, với từng cặp băng ghế gỗ đối diện nhau, chen giữa là một cái bàn nhỏ, đặt bên cạnh cửa sổ. Mỗi băng ghế chỉ đủ cho 2 người ngồi. Giữa toa xe có treo một ngọn đèn bóng vàng với ánh sáng yếu ớt chỉ đủ cho người ta nhìn thấy mặt nhau. Ở cuối mỗi toa tàu là nhà vệ sinh mà tiêu tiện không có thùng đựng để rơi rớt tự do qua cái lỗ xuống mặt đường rây.

Xe lửa từ từ chuyển bánh. Ngồi bên cạnh cửa sổ, tôi có dịp ngắm nhìn thành phố vào đêm và tôi có dịp cảm giác những làn gió mát thổi vào mặt. Trong đầu tôi miên man với nhiều suy nghĩ, đó là sẽ được gặp lại ba tôi và sẽ được nhìn thấy những điều mới lạ trong đời. Đêm đã khuya, mẹ tôi phủ lên sàn tàu bên dưới băng ghế một lớp nylon và bảo tôi nằm ngủ trên đó. Nằm sát sàn tàu, tôi nghe văng vẳng tiếng kêu nhịp xình xịch, tiếng ma sát của bánh xe với đường rây kêu ken két, hòa lẫn tiếng còi hụ như hòa nhịp đưa tôi vào giấc ngủ từ lúc nào.

“Trà xanh đây, trà xanh đây” – Tiếng rao của nhân viên trên tàu đã làm tôi thức giấc. Những tia sáng ban mai xuyên qua cửa sổ làm cả toa tàu sáng lên. Một phụ nữ, trạc tuổi mẹ tôi, và người con cũng trạc tuổi tôi đang ngồi cách chỗ chúng tôi vài dẫy ghế.  Sau khi trao đổi đôi lời, dì ấy và mẹ tôi mới biết là giống nhau, cùng dẫn con đi thăm chồng ở cùng trại K3, ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Vậy là có ba gia đình cùng trên một chuyến xe lửa đi thăm chồng, thăm con, và thăm cha bị lưu đày trên đất Bắc xa xôi. Cả dì ấy và mẹ tôi rất vui vì đã có người đồng hành, có thể nương vào nhau cho chuyến đi này. Tôi có hỏi thăm tên của người bạn trẻ ấy, nhưng thời gian từ ngày đó tới hôm nay đã hơn 35 năm, tôi đã quên mất tên bạn. Xin cho phép tôi gọi bạn ấy là Tuấn trong bài viết này.

Nhìn qua khung cửa sổ xe lửa, một bức ảnh quê hương tuyệt đẹp hiện ra trong mắt tôi. Những dãy núi đồi trùng điệp nối tiếp nhau, cùng những cây xanh mọc trên sườn và với những đám mây trắng lững lờ bay bay trên cao đã tạo thành một bức tranh sinh động của giang sơn Việt Nam, gấm vóc và hùng vĩ. Những hình ảnh xinh đẹp đó tiếp tục hiện ra trước mắt tôi, khi xe lửa uốn lượn theo sườn núi, chui qua hang, hay chạy sát dãy bờ biển xanh thẳm. Nhưng, có những đoạn đường, xe lửa băng qua những cánh rừng và chạy sát những khu dân cư với những căn nhà tranh vách đất thô sơ. Một số người dân đứng trước những căn nhà đó, trong quần áo rất đơn sơ, dõi mắt nhìn theo chiếc xe lửa chạy qua. Tôi đã nhìn ra được những hình ảnh nghèo nàn của các làng quê tương phản với hình ảnh thiên nhiên thật đẹp.

Nhìn vào danh sách các toa tàu in trên tờ lịch túi mà mẹ tôi mang theo, chúng tôi có thể biết trước những ga mà xe lửa sắp đến. Xe lửa vượt qua những ga nhỏ và dừng lại các ga lớn như: Nha Trang, Diêu Trì, và Đà Nẵng, thật lâu để đưa đón khách. Những lần vào ga lớn như thế, tôi có dịp nhìn thấy cảnh náo nhiệt của người đi, người đến, của người mua, người bán. Những người buôn hàng nhảy bổ lên và xuống các toa xe với các bao hàng. Những người bán hàng rong, trong tay với những bịch cơm, thúng bánh, trái cây, hay nước uống chạy dọc các cửa sổ rao bán. Và một lần, tôi đã nghe tiếng “Sim đây, sim đây”. Một thứ trái cây lạ, tôi chưa bao giờ biết. Mẹ tôi kêu người bán sim lại và mua một bịch. Thì ra, đó là trái sim tím có hình tròn, to cỡ đầu ngón tay cái, và có vị ngọt. Cậu thanh niên, ngồi ở băng ghế gỗ đối diện chúng tôi, cho biết rằng hoa của trái sim đã đi vào nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”, một bài hát mà tôi rất thích và CS đã cho là nhạc vàng cấm hát ở VN vào lúc đó. Khi xe lửa rời ga, đi ngang qua những đồi hoa tím, cậu thanh niên cho chúng biết đó là những đồi hoa sim. Được ngắm nhìn quê hương và được mẹ cho ăn trái cây lạ hay món ăn lạ không có ở Miền Nam , tôi cảm thấy thật là thú vị. Những cái thú vị đó đã không còn nhiều khi xe lửa tiến dần ra Miền Trung.

Tôi nhớ rất rõ, sau khi rời ga Nha Trang, xe lửa đổi đầu máy chạy ngược hướng lại. Xế trưa, xe lửa chầm chậm chạy qua cầu Đà Rằng, một cầu thật dài trên một cây số. Cây cầu thì dài mà xe lửa chạy thì quá chậm làm cho tôi có cảm giác là xe lửa sẽ không bao giờ rời cây cầu này. Bất thình lình, tôi nghe nhiều tiếng kêu la từ các toa tàu phía trước, “cướp, cướp, cướp”.  Đang bàng hoàng, không biết cướp ở đâu thì tôi nghe tiếng va cạch cạch cạch của thanh gỗ vào các khung cửa sổ và đi ngang qua cửa sổ chỗ tôi ngồi. Khi tiếng kêu vừa xa dần, ngó ra ngoài tôi thấy nhiều người thanh niên đứng trên những thanh chéo zích zắc của thành cầu, tay cầm thanh cây quét đồ vật trên bàn hay chòm vào giật đồ tư trang của của các hành khách. Vô số đồ vật rơi xuống bên dưới dòng sông, vốn chỉ là dòng nước cạn chảy nhẹ qua các mỏm đá. Mùa hè là mùa khô hạn ở Miền Trung, các dòng sông như sông Đà Rằng rất cạn nước, nên những người cướp cạn trên cầu sẽ rất dễ lội xuống lòng sông vớt lên những đồ quơ rớt được.

Màn đêm dần buông, xe lửa vẫn tiếp tục lăn dài trên đường rây. Sau một ngày dài ngồi trên xe, mẹ và tôi ngả lưng sớm. Bất chợt, tôi nghe mẹ tôi hét lên thật lớn “ao…ao…”.  Ngồi dậy, tôi thấy mẹ tôi ôm lấy bàn chân. Thì ra, khi xe lửa vào ga ban đêm, một số người bán hàng rong đánh thức hành khách dậy mua hàng, đã cầm thanh cây dài quét qua các khung cửa sổ, đập vào chân mẹ tôi đang gác chân lên thành cửa sổ trong khi ngủ. Sau đêm đó, để ngủ yên, mẹ tôi cũng như các hành khách khác đều đóng kín cửa sổ nơi mình ngồi. Ở một số ga, cả buổi trưa lẫn tối, người bán hàng còn tạt nước vào cửa sổ để đánh thức hành khách. Để tránh bị tạt nước vào trong toa ban ngày, hành khách phải ngồi sát cửa sổ để cho các người bán hàng trông thấy.

Tôi còn có dịp ngắm thêm vẻ đẹp của rừng núi Việt Nam khi xe lửa vượt qua đèo Hải Vân. Một bên xe lửa là vách núi, còn bên kia là vực sâu thăm thẳm. Ở những khúc đường quanh co, tôi có thể nhìn thấy các toa đầu và các toa đuôi của xe lửa và nó uốn lượn như một con rắn dài đang trườn trên sườn núi. Khi xe lửa ra đến Quảng Trị, tôi thấy nhiều chiếc xe tăng bị cháy hư vẫn còn nằm dọc theo những con đường. Cậu thanh niên ngồi đối diện cho mẹ và tôi biết đây là vùng địa đầu giới tuyến với vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước VN. Khi xe lửa vượt cây cầu bắt qua sông Bến Hải, anh ta lại cho biết cây cầu này được xây lên sau 1975 để nối tuyến đường sắt Nam Bắc, mà CS còn gọi là tuyến đường sắt Thống Nhất.

Sau này lớn lên, tôi tự hỏi “Có thật sự là VN đã thống nhất không?” Khi mà vô số những cách biệt thành hình một cách rõ nét trong chế độ CSVN giữa những CS đỏ, giàu sụ chuyên đàn áp và cướp bóc dân lành, và người dân nghèo khó bị bóc lột, giữa nhiều từng lớp giai cấp thống trị qua hệ thống chiều dọc Đảng trị từ trên xuống và người dân thấp cổ bé miệng bị hà hiếp. CSBV đã lợi dụng chiêu bài thống nhất đất nước và giải phóng dân tộc để khích động lòng yêu nước từ già đến trẻ, cầm súng chống Mỹ, mà dã tâm của chúng là làm tay sai và vâng lệnh các đàn anh CS Nga Tàu, gieo rắc chủ thuyết CS lên cả hai mền Nam Bắc của Việt Nam. Vì thế xâm chiếm MN là điều CS Hà Nội, thái thú cho Nga Tàu, đã làm thay cho sự giả dối nói là thống nhất VN hay giải phóng MN.

Sau ba ngày ba đêm, xe lửa vào ga Vinh vào lúc xế chiều. Ga này là điểm dừng cho những gia đình đi thăm nuôi của các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Sau khi xuống xe lửa, ba gia đình chúng tôi được các thanh nhiên kéo xe mời chở hành lý và hướng dẫn về nhà trọ. Sau khi thỏa thuận giá cả, anh thanh niên bỏ các hành lý lên thùng xe, rồi ra phía trước choàng dây ngang cổ và hai tay nắm hai tay cầm dài kéo xe chạy, trong khi mẹ và tôi chạy theo sau. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì không bao giờ nghĩ là có người kéo xe như thế trên đời này.  Trong hơn một ngày lưu lại ở thành phố Vinh, tôi đã không thấy một chiếc xe mô tô, một chiếc xe xích lô, hay xe ba bánh mà tôi thường nhìn thấy ở Miền Nam .

Sau này, khi học sử nói về thời phong kiến và thời Pháp thuộc, học sinh chúng tôi được học những phương tiện thô sơ thời ấy như xe kéo, xe thồ, và xe lôi.  Tôi thầm nghĩ, có ai trong đám bạn tôi có biết là tôi đã từng nhìn thấy xe kéo vẫn còn được dùng trên thiên đường CS ở đất Bắc. Hóa ra, chế độ CSVN đã tạo “thiên đường” ở đất Bắc ngày đó ngang bằng hoặc tệ hơn với các xã hội phong kiến ngày xưa qua những phương tiện vận chuyển thật thô sơ. Người phu xe kéo hành lý đưa chúng tôi tới căn nhà trọ nằm ở góc trái trong bến xe đò Vinh, về đêm thật vắng lặng. Căn nhà trọ chỉ là một gian nhà vách cây vuông vức, kê bốn bộ ván ở bốn góc nhà. Ba gia đình chúng tôi đã thuê ba bộ ván để ngủ qua đêm.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy và không thấy mẹ tôi đâu. Hỏi qua bà cụ (mẹ của chú Nguyễn văn Năm) thì được biết là mẹ tôi và các dì đã ra ngoài mua vé xe đò đi lên Nghệ Tĩnh. Bước ra khỏi gian nhà, tôi nhìn thấy cảnh đìu hiu, khác hẳn với cảnh náo nhiệt buôn bán như những bến xe ở MN mà tôi biết, như Xa Cảng Miền Tây. Điểm chung mà tôi thấy ở bến xe này với những chỗ đông dân như bến xe và các chợ ở MN là những biểu ngữ đỏ hô hào tuyên truyền giăng khắp nơi với cái loa phát thanh thật lớn luôn ra rả ca ngợi Đảng CS vô thần suốt ngày. Gần trưa, mẹ và các dì mới mua được vé xe đò cho chuyến xe sáng hôm sau. Thế là chúng tôi phải ở lại bến xe Vinh qua một đêm nữa.

Không tìm thấy quán ăn nào hết ở bến xe, ba gia đình cùng nhau đi bộ tới chợ Vinh gần đó. Bước vào ngôi chợ, đập vào mắt tôi là một màu xanh, mọi người trong chợ đều mặc quân phục bộ đội CS. Chỉ có chúng tôi trong những tấm vải có màu khác nhau. Thoạt đầu, tôi nghĩ ai cũng là bộ đội CS vì trong họ có người còn đội nón cối bộ đội. Nhưng sau đó, tôi biết họ chỉ mặc đồ giống nhau thôi, bởi vì họ không có quần áo nào khác. Tôi chợt nhớ lại, Sài Gòn sau năm 30-4-1975, tôi đã thấy nhiều thành phần xu nịnh và đón gió trở cờ, tìm mua quần áo, dép râu và nón cối của bộ đội CS để mặc. Dân MN chúng tôi rất ghét thành phần đón gió trở cờ này. Tôi lại tự hỏi, không lẽ tất cả người dân ở Vinh đều là thành phần xu nịnh CS. Tôi đã không có câu trả lời cho câu hỏi trong đầu khi đó.

Nói là ngôi chợ, nhưng cái chợ Vinh này đã khác hẳn với những ngôi chợ ở MN mà tôi biết. Chợ Vinh chỉ là một gian nhà rộng có bốn vách, không kiểu cách, với những người bán hàng ngồi bẹp xuống đất hay trên sàn gỗ rất thấp. Họ bán những món hàng đơn sơ hay nông phẩm của họ. Đảo quanh một vòng chợ, chúng tôi không thấy một quán ăn nào hết. Mẹ tôi mua một bịch trái hồng quân để ăn cho đở khát và đói. Qua hỏi thăm, chúng tôi được biết gần đó có một “cửa hàng ăn uống”, do CSVN làm chủ.

Dưới cái nắng nóng tàn khốc và những cơn gió khô và hắc, chúng tôi nhễ nhãi mồi hôi đi bộ tới “cửa hàng ăn uống”. Tôi nhớ con đường có nhiều cát bụi và những hạt cát cứ đua nhau chui vào đôi dép tôi mang, tạo nên cảm giác khó chịu. Vốn là đứa bé chân đất thích chạy nhảy, tôi xách dép đi chân không. Đi chân trần không lâu tôi cảm thấy như đi trên lửa và tôi phải mang dép vào. Sau này, qua sách vở tôi biết được tôi đã đi trong

cái nóng do gió khô và nóng  thổi từ Lào sang. Hơi nước trong gió đã bị chắn lại bên mạn Tây của dãy Trường Sơn và chỉ còn cơn gió khô nóng tỏa lên trên mãnh đất miền Trung.

Bước vào trong “cửa hàng ăn uống”, chúng tôi không thấy ai phục vụ cho khách ngồi ăn tại bàn cả. Khách phải tự đến quầy mua thức ăn để chọn món ăn. Sau khi trả tiền, khách được đưa cho tem phiếu rồi tự tới quầy nhà bếp để nhận thức ăn. Ngoài món ăn chính, mẹ tôi đã mua thêm “chè xanh” để ăn cho mát. Mẹ và tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nhân viên trong bếp dùng cái giá làm bằng lon sửa bò để múc nước chè xanh cho vào cái tô. Chúng tôi cầm thức ăn tới bàn ăn, rất dơ, dính đầy đồ ăn, và có vô số ruồi. Cả mẹ và tôi điều ngạc nhiên, “chè xanh” chỉ toàn là nước, không có cái gì hết. Khi uống vào, thì chúng tôi mới biết đó là trà xanh. À ra, “chè xanh” của người MB lại là trà xanh của người MN!

Sau này, tôi suy ra rằng, CSVN theo học thuyết “chuyên chính vô sản” đã tạo ra “thiên đường” trên đất Bắc, khi chúng thi hành chính sách xóa bỏ giai cấp của người dân. Người dân trở thành vô sản, còn mọi tài sản đều nằm trong tay của người CS và đảng của chúng. Người dân được chúng ban phát mọi thứ, từ cái ăn cái mặc cho tới công ăn việc làm. Quần áo là những quân phục do Tàu Cộng cung cấp và lương thực thì được ban phát theo tiêu chuẩn. CSVN đã và đang thuần phục người dân MB qua sự ban phát, để trở thành những con người vô tri vô giác chỉ biết vâng thưa dạ bảo, chờ hưởng bổng lộc và tin tưởng tuyệt đối mù quáng vào đường lối lãnh đạo độc tài của Đảng CSVN. Sau ngày xâm chiếm MN, CS cũng đã đã thực hành những chính sách của chủ thuyết CS như vơ vét tài sản, cưởng bức và tập trung lao động và nắm quyền ban phát mọi thứ, v…v… và v…v… cho người dân MN. Người dân MN từ ấm no, tự do và dân chủ đã đi dần tới nghèo đói, lạc hậu, và mất hết mọi quyền làm người.

Khi ăn trưa xong, chúng tôi đi bộ về căn nhà trọ trong cái nắng gay gắt. Nơi đây không có phòng tắm, vì thế chúng tôi phải ra nhà tắm công cộng ở bến xe. Chúng tôi phải trả tiền cho từng thùng nước giếng, mà cũng chỉ đủ ướt người. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nhà tắm công cộng trong “thiên đường” CS khi mà người dân thì quá nghèo nàn, lạc hậu, và bần cùng trong những nhu cầu căn bản sinh hoạt hằng ngày.

Khi trời còn tờ mờ sáng, chúng tôi đã lên chuyến xe đò từ Vinh đi Thanh Hóa. Dù đã mua vé xe, chúng tôi không có chỗ ngồi mà phải đứng trên xe đông nghẹt người, chen lẫn với cả hàng hóa. Xe đò chạy ngoằn ngoèo qua những con đường đầy cát bụi trong cái nắng oi bức và xe dừng lại nhiều lần để đón khách và hàng hóa dọc đường.

Xế trưa, xe dừng lại và người lơ xe cho biết đây là trạm dừng cho các gia đình đi thăm nuôi tại các trại tù ở Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Cả ba gia đình chúng tôi xuống xe và tôi nhìn thấy một vách núi thật cao bên lề phải của xe. Bước qua bên kia đường, chúng tôi đi vào một con đường nhỏ.  Đây là con đường đất thật dài và không có một bóng râm. Mẹ tôi và các dì với các hành lý nặng trĩu đôi tay, dẫn mẹ chồng và các con lê bước mãi trên con đường trong ánh nắng hực nóng của mùa hè. Chúng tôi phải dừng lại nhiều lần để mẹ và các dì nghỉ tay. Đi mãi trên con đường, cuối cùng chúng tôi tới một ngã tư với bản chỉ dẫn trên tấm gỗ, đi thẳng tới trại K1 và quẹo phải đi tới trại K3. Dì năm và bà cụ tiếp tục đi thẳng đến K1, còn gia đình tôi và Tuấn thì rẽ phải.    Trên con đường này có những hàng cây khuynh diệp trồng dài trên bờ đê cao. Tôi đã chạy trên bờ đê này, bứt vài lá khuynh diệp vò lại và ngửi chúng. Đứng trên cao với tầm nhìn rộng, tôi thấy những cánh đồng trống không khô cạn, không một cây xanh. Những vùng đất trũng không có nước. Tôi cũng không nhìn thấy một ngôi nhà dân nào hết. Thật là vùng đất khô cằn không có sự sống, khác hẳn với miền quê MN với những ruộng lúa, ao mương có cá, cua và ốc, và có những cây xanh như bình bát và dừa mọc dại ven đê mà tôi có thể bắt hoặc hái khi về thăm quê nội hay ngoại.

Khi đi hết hàng cây khuynh diệp, chúng tôi tới căn nhà nằm bên lề phải của con đường và chơi vơi giữa vùng đất hoang vắng, xa xa là những dãy núi cao bao quanh. Căn nhà có ba gian, gian giữa dùng làm phòng thăm nuôi, hai gian còn lại dành cho các gia đình thăm nuôi ngủ lại. Mỗi gian chỉ rộng đủ để kê hai cái giường và không có một vật gì trong đó. Hai gia đình chúng tôi đã vào chung một gian nhà, vì gian nhà kia đã có một gia đình tới ở trước đó.

Ngay chiều hôm đó, qua trò chuyện, mẹ và tôi được biết là sẽ có buổi gặp thăm nuôi của gia đình ở bên gian nhà kia. Đó là người mẹ dẫn theo hai người con trai, lớn tuổi hơn tôi. Gia đình của dì ấy được gọi qua ngồi bên gian nhà giữa. Tôi đã chạy ra đứng trên con

đường trước căn nhà và nhìn thấy một hình ảnh thật cảm động. Từ xa xa, tôi thấy hai người công an cầm súng đi bên cạnh hai người tù, mà những cánh tay choàng nhau làm kiệu khiêng một người tù thật yếu. Khi đoàn người tới gần, tôi nhìn thấy bác ngồi trên kiệu thật ốm và đôi chân hình như đã quá teo nhỏ, có thể do bị biệt giam quá lâu hay do bệnh. Một không khí thật buồn, khi tôi thấy cảnh gia đình xum họp và tôi biết rằng tôi sẽ gặp ba tôi cũng tại gian nhà này ngày mai.

Xế chiều, tôi nhìn thấy từng đội người tù đi lao động về ngang qua trước gian nhà từ trái qua phải, với những ánh mắt nhìn vào bên trong gian nhà. Các đội đi thành bốn hay năm hàng dọc và có một tên công an cầm súng đi sau cùng. Tôi chạy sát tới đoàn người tù và có nhiều tiếng nói từ trong đoàn người hỏi thăm với nhiều câu hỏi như: “Con ra đây hồi nào?” và “Ba con tên gì.” Tôi đã trả lời các câu hỏi như: “Con mới ra chiều nay.” và “Ba con tên Nguyễn minh Đường.” Tôi mong mỏi tìm trong đoàn người xem có ai nhận là ba tôi không?  Nhưng không thấy ai kêu tên tôi cả.

Màn đêm phủ xuống dần trên vùng đồi núi Nghệ Tĩnh với những tiếng ễnh ương và bìm bịp kêu đêm. Quang cảnh thật buồn và ảm đạm. Mẹ và tôi nằm co ro trong đêm tối với những ngọn nến thấp sáng phất phơ trong