Categories
Sưu Tầm

Tài liệu giải mã chấn động FBI : Nhà phát minh thiên tài Tesla là người ngoài hành tinh từ sao Kim


Gần đây, FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ) đã công bố nhiều tài liệu được giải mã trên trang web chính thức của mình, trong đó một tài liệu đã gây chấn động trên toàn thế giới: Nhà phát minh thiên tài Nikola Tesla (1856 – 1943) đến từ sao Kim (Venus), ông chính là người ngoài hành tinh!Mục đích của Tesla từ sao Kim đến Trái đất là gì? Mục đích của người ngoài hành tinh liên lạc với Tesla nhiều lần là gì? Tại sao người ngoài hành tinh nói với FBI danh tính thực sự của Tesla?

https://youtu.be/CkQyo_8wPfc

Categories
Thế Giới

DTV Thuyết Minh: Diễn văn của Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump rung động hàng triệu trái tim nước Mỹ


Categories
Uncategorized

Trump Boat Parade – Biểu tình bằng thuyền ủng hộ TT Trump !


Biggest Trump Boat Parade of All Time! Biểu tình bằng thuyền ủng hộ TT Trump, lớn nhất từ trước tời giờ !

Vào Chủ Nhật 16/8/2020, thêm một lần nữa, hàng ngàn chiếc thuyền lướt trên sông Clearwater với cờ Mỹ và những khẩu hiệu ủng hộ TT Trump. Lần này, có thêm xe trên đường, máy bay trên trời cùng phối hợp để biểu lộ lòng dân dành cho vị TT mà họ tin tưởng và kính yêu.
Theo lời những người tham dự, điều này chưa từng xảy ra đối với bất cứ TT nào…

The silent majority is silent no longer, as thousands of patriots rallied in Clearwater for the largest Trump boat parade of all time.

Thousands of Trump Supporters Rally in Saint Augustine

August o1, 2020

Thousands of Trump supporters rallied in Saint Augustine, Florida for a Trump boat parade this weekend. Kaitlin asked them what they love so much about their President.

Categories
Sưu Tầm

Mời đọc TÂM SỰ CỦA 1 CẢNH SÁT MỸ


Bài dịch từ FB Andrew D Dang
(Bài English đã có hơn 1 triệu người shared).

“Tôi đã kéo người chết, cùng những mãnh thi thể của họ ra khỏi những chiếc xe.
Tôi đã nói dối với người gặp tai nạn và đang sắp chết rằng: anh / chị sẽ không sao trong khi nắm tay và nhìn cuộc sống của họ đang mờ phai.
Tôi đã ôm thi thể của những em bé. Mua đồ ăn cho người tâm thần đã không ăn trong vài ngày.
Đã có người muốn đâm tôi. Và tôi cũng đã chiến đấu với người muốn bắn mình.
Tôi đã bị những người phụ nữ tấn công khi đang còng tay các ông chồng vừa mới bạo hành họ.
Tôi đã dùng khăn đè lên những vết thương để cầm máu vì bị đạn bắn.
Đã thực hiện sơ cứu CPR cho nạn nhân mặc dầu biễt rõ nó đã không còn giúp ích gì, nhưng việc đó sẽ làm cho thân nhân của họ cảm thấy có hy vọng.
Tôi đã phá tung những cánh cửa, và chiến đấu ở những nơi bọn tội phạp giao dịch hàng quốc cấm.
Tôi đã rượt đuổi bọn tội phạm bằng xe với tốc độ cao, cũng như chạy bộ đuổi theo chúng băng qua xa lộ trong giờ cao điểm.
Tôi đã nhiều lần bị đụng xe. Đã móc ngón tay chuẩn bị xiết cò để giết một gã đàn ông, may thay hắn đã kịp thời dừng gây án. Tôi đã một mình lội ngược dòng làn sóng người phẫn nộ.
Tôi đã lái xe như điên để mong có thể kịp thời cứu lấy đồng đội của mình. Tôi cũng lái những chú nhóc trên xe của mình, và một mặt cũng giả đò xem chúng là cảnh sát vì hôm đó con người ta sinh nhật.
Tôi đã bắt nhiều người vào tù, và cũng tha rất là nhiều. Đã nhiều lần cầu nguyện cho những người tôi không hề quen biết. Vâng, có những lúc tình thế bắt buộc tôi phải dữ dội, và tôi cũng rất tử tế khi có thể.
Tôi thú nhận đã có lúc tôi phải chạy đến nơi tối tâm để khóc một mình khi mọi việc vược quá sức chịu đựng.
Tôi đã không thể đón nhiều cái Giáng Sinh và những ngày lễ quan trọng với gia đình như mình mong muốn.

Tất cả những nhân viên công lực mà tôi biết đều phải chịu đựng những điều tương tự hoặc hơn thế nữa trong khi nhận mức lượng không tương xứng với nhiều giờ làm việc đến đuối cả người, và cuộc sống được biết sẽ ngắn ngủi.

Chúng tôi không cần sự thương hại, và cũng không đòi hỏi ai phải tôn trọng mình cả. Chỉ cần để chúng tôi thực thi công lý và đừng giết chúng tôi.”

FB Andrew D Dang

44594498_10213594809766751_40793955859693568_n

Neil DonnellyFollow

“I have pulled dead, mangled bodies from cars.
I have lied to people as they were dying.
I said you are going to be fine as I held their hand and watched the life fade out.
I have held dying babies. Bought lunch for people who were mentally ill and haven’t eaten in a while.
I have had people try to stab me. Fought with men trying to shoot me.

I’ve been attacked by women while I was arresting their husband who had just severely beat them.
I have held towels on bullet wounds.
Done CPR when I knew it wouldn’t help just to make family members feel better.
I have torn down doors, fought in drug houses. Chased fugitives through the woods.
I have been in high-speed car chases.
Foot chases across an interstate during rush hour traffic.
I have been in crashes. Been squeezing the trigger about to kill a man when they came to their senses and stopped. Waded through large angry crowds by myself.
Drove like a madman to help a fellow officer. Let little kids who don’t have much sit in my patrol car and pretend they are a cop for their birthday.

I have taken a lot of people to jail. Given many breaks. Prayed for people I don’t even know. Yes, and at times I have been “violent” when I had to be. I have been kind when I could.
I admit I have driven to some dark place and cried by myself when I was overwhelmed.
I have missed Christmas and other holidays more than I wanted to.

Every cop I know has done all these things and more for lousy pay, exhausting hours, and a short life expectancy.

We don’t want your pity, I don’t even ask for your respect. Just let us do our jobs without killing us”

Thank You Police Officers of#America

FB Neil DonnellyFollow

October 22, 2018

Categories
Chuyện ngắn

ĐIỀU KỲ DIỆU TỪ BÁT MÌ ẤM ÁP ĐÊM GIAO THỪA CỦA ÔNG CHỦ QUÁN


Mai Trà – Hữu Bằng | ĐKN 24/01/2020
Đây là câu chuyện có thật, xảy ra vào ngày 31/12 cách đây rất nhiều năm tại quán mì Bắc Hải Đình trên đường phố Trát Hoảng, Nhật Bản. Đêm ấy cũng chính là đêm giao thừa. Đêm giao thừa cùng gia đình ăn một tô mỳ là phong tục truyền thống của người Nhật Bản. Vì vậy, đến ngày này, hầu như quán mỳ nào cũng rất đông khách, đắt hàng. Bắc Hải Đình cũng không ngoại lệ.
.
Hôm ấy, Bắc Hải Đình gần như cả ngày đều đông khách, mãi đến hơn 10 giờ đêm khách mới thưa thớt dần. Những ngày bình thường, giờ này vẫn còn rất đông người qua lại trên đường nhưng hôm nay ai ai cũng mau chóng trở về nhà sớm một chút để kịp đón giờ phút giao thừa. Vì vậy, trên đường phố phút chốc trở nên vắng vẻ yên tĩnh.Đêm giao thừa, khi người khách cuối cùng rời khỏi quán, bà chủ đang định kéo cánh cửa tiệm lại thì cánh cửa lại một lần nữa được mở ra nhè nhẹ. Một người phụ nữ trung niên dẫn theo hai cậu con trai bước vào. Đứa lớn ước chừng khoảng 10 tuổi và đứa nhỏ 6 tuổi. Cả hai đều mặc bộ quần áo thể thao giống nhau còn người phụ nữ kia mặc một chiếc áo khoác cũ kỹ đã lỗi thời.

Bà chủ lên tiếng: “Xin mời ngồi!”.

Người phụ nữ rụt rè nói: “Có thể … cho chúng tôi… một bát mỳ được không ạ?”. Hai đứa bé đứng yên lặng đằng sau mẹ và đưa mắt nhìn chăm chú.

“Đương nhiên…đương nhiên là có thể, mời ngồi qua bên này!”.

Bà chủ quán dẫn họ tới bàn số 2 rồi hướng vào trong bếp hô to: “Cho một bát mỳ!”.

Ông chủ liếc mắt nhìn ba mẹ con rồi lặng lẽ nấu một bát mỳ lớn đầy tràn, cả bà chủ và khách đều không biết. Ba mẹ con người phụ nữ ăn chung một bát mỳ rất ngon lành. Họ vừa ăn vừa khe khẽ nói chuyện.

“Ngon quá!”, đứa lớn nói. “Mẹ! mẹ cũng ăn thử đi!”, đứa nhỏ vừa nói vừa gắp một miếng đưa vào miệng mẹ.

Chỉ trong chốc lát họ đã ăn hết bát mỳ, người mẹ thanh toán cho chủ quán 150 đồng. Ba mẹ con họ cùng đồng thanh khen: “Thật là ngon! Cảm ơn ông bà!”, rồi họ cúi chào và bước ra khỏi quán. Ông chủ bà chủ cũng đồng thanh đáp trả: “Cảm ơn quý khách! Chúc quý khách năm mới vui vẻ!”.

Một năm trôi qua, ai cũng đều bận rộn với công việc của mình chẳng mấy chốc đã đến giao thừa năm sau. Bắc Hải Đình vẫn làm ăn rất phát đạt. So với năm ngoái, đêm giao thừa năm nay họ có vẻ còn bận rộn hơn. Hơn 10 giờ, bà chủ đang định đóng cửa thì cánh cửa lại bị kéo ra nhè nhẹ. Bước vào tiệm mỳ là một người phụ nữ trung niên và hai đứa trẻ.

Bà chủ quán nhìn thấy cái áo khoác kẻ ca-rô cũ kỹ lỗi thời liền lập tức nhớ lại vị khách hàng cuối cùng đêm giao thừa năm ngoái.

“Có thể… nấu cho chúng tôi một bát mỳ được không ạ?”.

“Đương nhiên! Đương nhiên! Mời vào trong ngồi!”.

Bà chủ quán vừa dẫn họ đến chỗ ngồi bàn số 2 và cất tiếng: “Cho một bát mỳ!”.

Ông chủ quán một tay châm lửa lên bếp vừa mới tắt và lên tiếng: “Được! Được! Một bát mỳ!”.

Bà chủ đi vào bếp nói nhỏ với ông chủ: “Này ông! Nấu cho họ ba bát mì có được không?”.

“Không được đâu, nếu mình làm như thế chắc họ sẽ thấy ngại đấy!”.

Ông chủ trả lời như thế nhưng lại lấy thêm mỳ đủ ba người ăn cho vào nước, bà chủ đứng bên cạnh mỉm cười và nói: “Nhìn ông có vẻ khô khan nhưng xem ra tấm lòng không đến nỗi nhỉ!”. Ông chủ yên lặng làm một bát mì lớn thơm ngào ngạt rồi đưa cho bà chủ mang ra.

Ba mẹ con người phụ nữ lại ngồi quanh bát mỳ, vừa ăn vừa nói chuyện. Những câu chuyện của họ cũng lọt vào tai hai vợ chồng  ông chủ quán.

“Thơm quá…thơm quá…ngon thật!”.

“Năm nay chúng ta còn có thể được ăn mỳ Bắc Hải Đình, quả là may mắn!”.

“Sang năm lại được đến đây ăn thì tốt quá!”.

Sau khi ăn xong, người mẹ lại thanh toán 150 đồng và chào ra về.

“Cảm ơn quý khách! Chúc cả nhà năm mới vui vẻ!”. Nhìn bóng lưng ba mẹ con người phụ nữ, hai vợ chồng ông chủ đàm luận một hồi lâu.

(Ảnh minh hoạ: Maksinwee)

Đêm giao thừa năm thứ ba, Bắc Hải Đình vẫn rất đông khách, ông bà chủ bận đến mức không có thời gian để trò chuyện. Nhưng đã đến 9 rưỡi tối, hai vợ chồng họ bắt đầu có chút bất an. Đến 10 giờ, nhân viên trong quán đều đã nhận được bao lì xì và ra về. Ông chủ vội vã tháo các tấm bảng trên tường ghi giá tiền của năm nay là “200 đồng/bát mỳ” và thay vào đó giá của năm ngoái “150 đồng/bát mỳ”. Trên bàn số 2, bà chủ đã đặt lên đó bảng “Đã đặt chỗ” vào ba mươi phút trước.

Dường như ba mẹ con người phụ nữ ấy đợi cho khách rời hết mới bước vào. Đến 10h30 cả ba mẹ con họ cuối cùng cũng đã xuất hiện. Đứa lớn mặc bộ quần áo đồng phục còn đứa em mặc bộ quần áo của anh nên nhìn hơi rộng một chút. Cả hai anh em đều đã lớn hơn rất nhiều. Người mẹ vẫn mặc chiếc áo khoác kẻ ca-rô cũ kỹ và lỗi thời như hai năm trước.

“Mời ngồi! Mời ngồi!”, bà chủ nhiệt tình mời họ vào tiệm ngồi. Nhìn vẻ tươi cười của bà chủ, người phụ nữ dè dặt nói: “Phiền bà… phiền bà… nấu cho chúng tôi hai bát mỳ được không?”.

“Được! Tất nhiên là được! Mời ngồi qua bên này!”, bà chủ dẫn họ đến bàn số 2 rồi nhanh nhẹn giấu tấm biển đặt chỗ trước đi rồi hướng vào bếp gọi: “Cho hai bát mỳ!”.

“Được! Hai bát mỳ! Xong ngay đây!”, ông chủ vừa nói, tay vừa cho thêm ba vắt mỳ vào nồi nước nấu.

Ba mẹ con họ vừa ăn mỳ vừa nói chuyện rất vui vẻ.

Hai vợ chồng ông bà chủ đứng ở chỗ nấu ăn nhìn họ vui vẻ, trong lòng cũng vui theo.

“Tiểu Thuần và con trai cả này! Hôm nay mẹ muốn cảm ơn hai con! Cảm ơn hai con rất nhiều!”.

“Tại sao lại cảm ơn chúng con ạ?”.

“Là như thế này, vụ tai nạn của cha các con đã khiến cho tám người bị thương. Công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một phần số tiền này, số còn lại chúng ta phải trả. Mấy năm qua, mỗi tháng chúng ta đều phải nộp 50.000 đồng”.

“À, chuyện này thì chúng con biết rõ rồi mẹ ạ!”, đứa lớn trả lời.

Bà chủ cũng lẳng lặng lắng nghe.

“Lẽ ra là phải trả đến tháng ba sang năm mới trả hết, nhưng mà năm nay mẹ đã nộp xong rồi!”.

“Mẹ! Thật vậy sao?”.

“Ừ! Mẹ nói thật! Bởi vì anh cả rất chăm chỉ đi đưa báo còn Tiểu Thuần thì giúp mẹ đi chợ nấu cơm, khiến cho mẹ có thể an tâm công tác. Công ty mẹ đã phát cho mẹ một phần thưởng đặc biệt, vì vậy hôm nay mẹ đã đem số tiền đó trả hết phần nợ còn lại rồi!”.

“Mẹ! Anh trai! Thật sự là quá tốt rồi, nhưng mà sau này mẹ hãy cứ để cho Tiểu Thuần nấu cơm nhé!”.

“Con cũng muốn tiếp tục đi đưa báo. Tiểu Thuần, cố gắng lên nhé!”.

“Mẹ cám ơn hai con, thật sự cám ơn hai anh em!”.

“Tiểu Thuần và con còn có một bí mật mà chưa nói cho mẹ biết. Đó là vào một ngày Chủ nhật của tháng Mười một, trường của Tiểu Thuần gửi thư mời phụ huynh đến tham dự một tiết học. Thầy giáo của Tiểu Thuần còn viết một bức thư đặc biệt nói là bài văn của Tiểu Thuần đã được chọn làm đại diện cho Bắc Hải đi dự thi văn toàn quốc. Con nghe bạn của Tiểu Thuần nói mới biết được, vì vậy hôm đó con đã thay mặt mẹ đến tham dự ạ!”.

“Chuyện này là thật sao? Sau đó thì thế nào?”.

“Thầy giáo ra đề bài là: ‘Nguyện vọng của em là gì?’, Tiểu Thuần đã viết về bát mỳ và đã được đọc trước cả lớp ạ! Tiểu Thuần viết là: ‘Cha của em bị tai nạn xe, cha mất đi để lại nhiều nợ nần. Vì để trả nợ, mẹ em đã làm việc quên mình từ sáng đến đêm’. Ngay cả việc con hàng ngày đi đưa báo, em cũng viết ra hết. Em còn viết cả: ‘Vào đêm giao thừa, ba mẹ con cùng ăn chung một bát mỳ vô cùng ngon. Mặc dù ba người chỉ ăn một bát mỳ, nhưng hai vợ chồng bác chủ tiệm vẫn nói lời cám ơn lại còn chúc chúng tôi năm mới vui vẻ nữa! Lời chúc đó đã giúp chúng tôi có dũng khí để sống, nhanh chóng trả hết phần nợ nần còn lại”.

“Vì vậy, Tiểu Thuần viết rằng sau này lớn lên muốn mở một tiệm mỳ, trở thành ông chủ tiệm mỳ lớn nhất Nhật Bản và cũng sẽ nói với khách hàng của mình những câu như: “Cố gắng lên! Chúc quý khách hạnh phúc! Cám ơn quý khách!”.

Đứng sau bếp, hai vợ chồng ông chủ nghe những lời này liền ngồi sụp xuống lấy khăn lau những giọt nước mắt đang trào ra trên khuôn mặt…

Ba mẹ con họ lặng lẽ nắm chặt tay nhau, vỗ vai động viên nhau và cùng ăn hết hai bát mỳ rồi trả 300 đồng, nói lời cảm, cúi chào ra về! Nhìn bóng dáng của ba mẹ con họ, ông chủ quán nói theo: “Cám ơn quý khách! Năm mới vui vẻ!”.

2

Lại một năm nữa trôi qua, đêm giao thừa, 9h30 tối, bà chủ lại đặt biển “đã đặt chỗ” lên bàn số hai nhưng ba mẹ con người phụ nữ kia đã không đến. Năm sau, năm sau nữa… vẫn không thấy ba mẹ con họ xuất hiện. Tiệm mỳ Bắc Hải Đình làm ăn ngày một phát đạt, toàn bộ đồ đạc và bàn ghế đã được thay mới duy chỉ có bàn số 2 là vẫn được để nguyên như cũ.

Rất nhiều ngày 31/12 qua đi, nhưng chiếc bàn hai vợ chồng chủ quán dành tặng ba vị khách năm nào vẫn luôn còn trống…

Và vào một ngày 31/12 của rất nhiều năm sau đó, khi khách khứa tấp nập vào quán mỳ Bắc Hải Đình vừa ăn, vừa chờ tiếng chuông giao thừa như thường lệ, thì có hai thanh niên mặc vest, tay cầm áo khoác ngoài đẩy cửa bước vào. Bà chủ đang định nói: “Thật xin lỗi, quán đã hết chỗ rồi!”, thì đúng lúc đó một người phụ nữ ăn mặc bộ ki-mô-nô đi đến, đứng giữa hai người thanh niên trẻ, cất lời: “Phiền bà… phiền bà… cho chúng tôi ba bát mì được không?”.

Bà chủ chợt biến sắc. Đã mười mấy năm rồi, hình ảnh người phụ nữ trẻ cùng hai đứa con trai chợt hiện về khiến bà choáng váng. Đứng sau bếp nấu, ông chủ cũng choáng váng, đưa ngón tay chỉ vào ba người khách rồi lắp lắp nói không lên lời: “Các vị… các vị là…”.

Untitled-1-2

Một trong hai người thanh niên nhìn bà chủ và đáp: “Vâng! Vào một ngày cuối năm cách đây 14 năm, ba mẹ con cháu đã tới đây gọi một bát mỳ, nhận được sự khích lệ của bát mỳ đó mà ba mẹ con cháu có thêm nghị lực để sống tiếp. Sau đó, ba mẹ con cháu chuyển đến nhà bà ngoại cháu ở huyện Tư Hạ sinh sống. Cháu đã thi đỗ vào trường y, hiện đang thực tập ở khoa nhi đồng của bệnh viện Kinh Đô. Tháng Tư sang năm cháu sẽ đến làm việc tại bệnh viện Tổng hợp Trát Hoảng ạ! Hôm nay chúng cháu đến chào hỏi bệnh viện, thuận tiện viếng thăm mộ của cha cháu. Em cháu không trở thành ông chủ tiệm mỳ lớn nhất Nhật Bản như hồi nhỏ mơ ước, bây giờ đang làm việc ở ngân hàng Kinh Đô. Ước nguyện bấy lâu nay của ba mẹ con cháu là được đến hỏi thăm hai bác và ăn mỳ Bắc Hải Đình ạ!”.

Hai vợ chồng ông chủ quán mỳ vừa nghe, vừa gật đầu mà nước mắt chảy ra ướt cả khuôn mặt. Ông chủ tiệm rau ngồi ngay gần cửa ra vào đang ăn liền nuốt vội và nói: “Này ông bà chủ! Hai người làm sao thế? Chuẩn bị hơn 10 năm nay giờ mới được gặp mặt, còn không mau tiếp khách rồi chiêu đãi họ đi à? Nhanh lên đi!” .

Bà chủ cuối cùng bừng tỉnh rồi vỗ vào vai ông chủ hàng rau, cười nói: “Phải rồi!… Xin mời! Xin mời! Mời ngồi bàn số 2, cho ba bát mỳ nhé!”.

Ông chủ đang ngây người, vội vàng lau nước mắt trả lời: “Được, được. Ba bát mỳ! Có ngay đây!”.

Đây có lẽ là đêm giao thừa đẹp nhất trong cuộc đời ông bà…

Suy ngẫm:

Đôi khi, chỉ một câu nói, một hành động nhỏ cũng giúp thay đổi số phận một con người mãi mãi. Vợ chồng người chủ quán mỳ, bằng nghĩa cử thầm lặng của mình (bỏ thêm mỳ vào bát), bằng sự quan tâm, sẻ chia của mình (gửi lời chúc năm mới) đã gieo một hạt mầm của hy vọng vào cuộc sống khốn khó của ba mẹ con. Họ đã phải sống một cuộc đời chẳng mấy dễ dàng. Ba người phải ăn một bát mỳ chung, chỉ dám vào quán lúc khuya khoắt, vắng vẻ. Nhưng họ vẫn rất đàng hoàng, lịch sự, trả đủ tiền (dù hoàn toàn không biết suất của mình là suất đặc biệt). Ba mẹ con không xin ăn và vợ chồng chủ quán cũng không có ý định lấy bát mỳ ra làm của bố thí. Cả hai bên đều giữ được một phong thái rất cao cho dù nỗi đời cơ cực ngoài kia vẫn luôn vây bủa.

Cái kết của câu chuyện thật ấm áp, ấm áp như những bát mỳ đong đầy yêu thương của vợ chồng chủ quán tốt bụng. Có lẽ hai vợ chồng ông cũng không thể ngờ rằng một câu nói của mình có thể tạo ra động lực sống to lớn như vậy cho ba mẹ con. Người Bungari có một câu ngạn ngữ thế này: “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”. Khi bạn trao gửi đi yêu thương, nó không tan vào hư vô. Nó sẽ trở thành dòng suối mát lành, ngọt ngào chảy ngược lại xoa dịu chính tâm hồn bạn. Chẳng phải thế sao?

Mai Trà – Hữu Bằng 

Theo NTDTV

Video xem thêm: Cuốc xích lô ngắn giá gần 3 triệu: Người Nhật xin lỗi, người Việt tỉnh ngộ?

Categories
Sưu Tầm

TÌNH BẠN VONG NIÊN CỦA LÝ BẠCH – ĐỖ PHỦ : Tri kỷ trong đời, gặp nhau đã khó, chia lìa càng khó hơn !


“Trăm năm tri kỷ khó tìm, tri âm khó gặp, bạn hiền khó quen”. Phải, một trong những ẩn ức lớn nhất của con người chính là tìm ra được “kẻ hiểu mình”. Nhân sinh như mộng, tìm được tri kỷ tương giao, có thể trút cạn nỗi lòng chính là một niềm hạnh phúc lớn. Hơn nghìn năm trước, trên dải đất Trung Nguyên vạn dặm, có hai kẻ tri âm, tri kỷ bất chợt đã tìm thấy nhau. Bất chợt mà chẳng bất ngờ, tưởng là tình cờ ai ngờ lại là duyên phận…

Trong lịch sử thơ ca Trung Quốc, Lý Bạch là Thi Tiên còn Đỗ Phủ là Thi Thánh. Trong khúc trường ca đầy hạo khí của Đường thi, hai ông thực chẳng khác nào hào quang của tinh tú nhật nguyệt, cùng nhau tỏa sáng trên bầu không như chòm sao Song Tử. Có một điều kỳ lạ là hai tài năng rực rỡ của văn chương, nghệ thuật thế giới ấy lại cùng sinh sống dưới một gầm Trời, trong một thời đại, lại còn là bạn vong niên, kết giao thâm tình. Câu chuyện của “chòm sao Song Tử” Lý – Đỗ đã để lại cho hậu thế một trường đoạn cảm xúc vui buồn lẫn lộn, xứng đáng là tình bằng hữu nghìn năm có một.

Mối duyên tiền định

Tranh vẽ Lý Bạch. (Ảnh: Public Domain)

Năm ấy, khi gặp Đỗ Phủ, Lý Bạch đã 44 tuổi. Lý Bạch lúc này tuổi đã trung niên, nhiệt huyết, hào hoa tuổi trẻ chẳng còn nhiều, cũng không còn ở nơi quyền quý cao sang, vừa rời kinh thành, bị nhiều người xa lánh. Lý Bạch rơi vào cảnh lẻ loi, một mình phiêu linh bốn biển. Nhưng chừng như ông không buồn vì thiếu bạc, thiếu ăn mà buồn nhiều hơn vì thiếu người tri kỷ.

Năm 744, Lý Bạch vì làm phật ý Cao Lực Sĩ, Dương Quý Phi, bị gièm pha nhiều, sinh ra chán nản. Lại cũng vì đôi chân của kẻ giang hồ không còn chịu ngồi im được nữa, Lý bèn quyết ý rời cung. Ba năm sống cảnh “chim lồng cá chậu” trong cung khiến cái con người ưa xê dịch, thích lãng du ấy cảm thấy vô cùng tù túng. Rời hoàng cung trong sự tiếc nuối của Đường Minh Hoàng (vốn cũng là một ông vua tài tử trứ danh), Lý Bạch thấy trong lòng nhẹ nhõm nhiều. Tiết tháng ba, cỏ cây mơn mởn, oanh hót ríu ran, Lý từ biệt Trường An, cầm theo một chút bạc làm lộ phí, bái biệt Đường Minh Hoàng đi thẳng. Vua tiếc tài ông, mấy bận níu giữ, Lý coi như bỏ ngoài tai. Vua lại tặng vàng, Lý cũng không cầm. Cuối cùng, vua thở dài, ban cho ông một trong những đặc ân kỳ lạ nhất lịch sử: được phép uống rượu miễn phí thoải mái ở bất kỳ tửu quán nào, tiền sẽ do ngân khố triều đình chi trả.

Tranh vẽ Đỗ Phủ. (Ảnh: Public Domain)

Rời chốn phồn hoa, ông ngao du khắp nơi, từng qua đất Triệu, Nguỵ, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ, Thương, Ư, Lạc Dương, các sông Hoài, sông Tứ… Trên đường ngao du tứ hải, Lý Bạch quen biết rất nhiều bằng hữu, lúc thì múa kiếm luận đạo với những đạo sĩ ở ẩn, khi thì uống rượu làm thơ với những mặc khách tao nhân. Nhưng người hiểu tận được lòng ông có lẽ chỉ có Đỗ Phủ mà thôi.

Tháng tư, chính vào lúc hoa hạnh bay đầy trời, Lý Bạch tới Lạc Dương. Mà lúc đó, Đỗ Phủ vừa khớp cũng đang ở Lạc Dương. Đỗ Phủ, 33 tuổi, năm ấy cùng Lý Bạch kết làm bạn vong niên. Đỗ Phủ xuất thân con nhà danh môn, ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha Đỗ Phủ là Đỗ Nhàn, bấy giờ cũng đang làm một chức quan nhỏ coi việc nấu nướng, ngự thiện cho Hoàng đế. Lý Bạch trông thấy Đỗ Phủ, năm ấy mới hơn 30 tuổi, thực là giữa độ tráng niên, một bầu nhiệt huyết tràn trề. Trước đó, Đỗ Phủ 7 tuổi học làm thơ, 15 tuổi thì tài thi phú đã vang truyền khắp xa gần. Ngoại trừ việc thi rớt cử nhân năm 25 tuổi, hầu như tuổi trẻ của Đỗ chưa nếm trải qua sóng gió đường đời, cũng chưa phải đối diện với những thời khắc suy sụp, bất lực như Lý Bạch.

Ấy vậy mà ở chàng trai kém mình tới 11 tuổi, Lý Bạch lại tìm thấy một mối giao cảm kỳ lạ. Chừng như Lý nhìn thấy cả một tuổi xuân đầy hoài bão của mình ở Đỗ. Và chừng như Lý cũng đã thấy trước được rằng, rồi mai đây chàng thanh niên lòng ôm chí lớn kia sẽ lại sớm rơi vào cảnh bất lực với thế thái nhân tình như mình mà thôi. Lý yêu mến và cũng thương cảm cho Đỗ, vậy nên tự khắc có một tình cảm đặc biệt. Hai người hơn kém nhau 11 tuổi, vì tài thơ, vì cùng chí hướng, vừa gặp tựa như đã quen nhau nghìn đời, kết bái tương giao làm bạn vong niên, một trong những tình bạn kỳ lạ nhất trong lịch sử.

Hai người gặp nhau vào mùa hạ. Đến mùa thu, Lý, Đỗ cùng nhau du ngoạn đất Lương (nay là Khai Phong), đất Tống (nay là Thương Khâu), lên chơi Xuy Đài, Cầm Đài, cùng nhau vượt qua Hoàng Hà, dạo chơi núi Vương Ốc. Họ còn tìm đến bái yết đạo sĩ Hoa Cái Quân, chỉ tiếc là không gặp được ông bởi ông đã sớm đắc Đạo rời đi, không còn ở trong nhân thế nữa. Các ghi chép trong sách cổ đều tường thuật về rất nhiều chuyến du ngoạn của Lý Bạch và Đỗ Phủ. Có thể thấy đây chính là sở thích chung của hai người. Những chuyến đi có thể mang đến cho họ nhiều cảm hứng hơn. Lý Bạch đam mê tu Đạo, cũng từng sống đời ẩn sĩ, đạo sĩ. Còn Đỗ Phủ, ta chưa thấy ông trực tiếp nói lên ý chí tu Đạo trong thơ của mình bao giờ nhưng việc ông cùng Lý Bạch đến bái yết các đạo sĩ ít nhất cũng cho thấy rằng đối với việc học Đạo tu tiên, Đỗ không có ý phản đối. Bởi thế, dẫu có không là bạn thơ thì hai người vẫn còn chia sẻ với nhau một điểm chung này: là những người ưa xê dịch, là những người bạn giang hồ.

(Ảnh: Secretchina)

Năm sau (745), Lý Đỗ hai người tiếp tục ngao du đến đất Sơn Đông. Tại đây, họ gặp Cao Thích, cũng là một thi nhân nổi tiếng khác đương thời. Cao Thích vốn là người tràn đầy khí phách, ham mê sự nghiệp, muốn vận dụng hết tài học mà giúp nước nhưng lại gặp phải cảnh bĩ, đành ngao du bốn bể, nay đây mai đó làm một kiếm khách, thi khách. Ba người họ gặp nhau, mau chóng kết thân, ngày ngày rong chơi vui vẻ. Đêm về, họ thường cùng nhau nâng chén nói cười, say sưa thi phú, say rồi thì nằm cùng một giường, đắp cùng một tấm chăn, ngủ một mạch đến khi trời sáng rõ. Ban ngày, Lý, Đỗ, Cao sóng vai đồng hành, vừa đi vừa múa hát, thưởng thức cảnh đẹp ven đường, lúc thì săn bắn chốn đồng hoang, khi lại thăm thú kỳ hoa dị thảo nơi vắng vẻ. Cuộc sống tiêu dao qua ngày tháng, thực không gì sánh bằng.

Trong hơn nửa năm ngao du ấy, tình cảm của Lý Bạch và Đỗ Phủ ngày càng thân thiết, coi nhau còn trọng hơn huynh đệ một nhà. Sau này, trong thơ của mình, Đỗ Phủ thường nhắc đến những ngày tháng rong chơi thống khoái ở đất Tề, đất Lỗ mà thầm lưu luyến, nhớ tiếc. Ngày nay, trong công viên Vũ Vương Đài ở Khai Phong vẫn còn lưu lại một bức hoạ tưởng nhớ về ba đại thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ và Cao Thích đăng đài ngâm thơ với tên gọi “Tam hiền tử” (ba người hiền).

Chia tay ở Duyện Châu, không ngờ trở thành biệt ly vĩnh viễn

Lý Đỗ trong những ngày du hí giang sơn hồ hải, thường là: “Tuý vũ Lương viên dạ/ Hành ca Tứ thuỷ xuân” (đêm say múa ở vườn Lương, lang thang ca hát ở sông Tứ). Cứ như vậy, hai người cùng ăn, cùng ngủ, cùng đi, cùng hát vang khẳng khái, chí khí xông tận trời xanh. Đỗ Phủ hết sức trân trọng quãng thời gian này. Trong bài: “Dữ Lý thập nhị Bạch đồng tầm Phạm thập ẩn cư”, ông viết:

Dư diệc Đông Mông khách
Liên quân như đệ huynh
Tuý miên thu cộng bị
Huề thủ nhật đồng hành

(Nghĩa là: Tôi cũng là khách như ông ở Đông Mông. Ta thương nhau như anh em ruột. Trời thu lạnh, say ngủ đắp chung chăn. Ban ngày nắm tay cùng đi đây đó).

Đỗ Phủ rất trọng Lý Bạch, trọng cả tính cách lẫn tài năng. Ta thấy trong sự giao lưu thơ văn của hai người, Đỗ Phủ nhắn gửi cho Lý Bạch rất nhiều, làm hơn chục bài thơ tặng Lý, nhớ Lý, thương Lý. Còn Lý Bạch, vốn là cuồng khách chốn nhân gian, coi mọi thứ tình cảm trong chốn hồng trần nhẹ tựa lông hồng, chỉ hai lần làm thơ về người bạn vong niên. Một điểm đó cho ta thấy rõ tính cách hai người. Đỗ Phủ nặng tình, nhiều tâm tư, thành thật, sống nguyên tắc, kính thánh tôn hiền. Còn Lý Bạch thì ngạo khí ngất trời, giống một trích Tiên, một cuồng khách, có đôi lúc gàn dở, phiêu linh, tâm hồn phóng khoáng, ưu nhã, lại thường say bí tỉ quên đời. Đỗ sống một đời nghiêm cẩn, Lý thích thoải mái, bỗ bã. Đỗ cả đời nguyện không đổi chí, Lý tuỳ hứng, tuỳ thời. Đỗ nói năng cẩn trọng, Lý lắm lúc cuồng ngôn. Đỗ vui buồn ít lộ ra mặt, Lý yêu ghét rõ ràng phân minh…

Tranh vẽ Lý Bạch (trái) và Đỗ Phủ. (Ảnh: Wikipedia Commons)

Về văn chương, Đỗ Phủ thường nhún nhường tự nhận là bậc đàn em, dù tài năng của ông đã được thiên hạ nghìn đời công nhận. Ông không tiếc lời dành cho Lý Bạch sự ngợi ca tột bậc: “Bút lạc kinh phong vũ/ Thi thành khấp quỷ thần” (Hạ bút kinh động như mưa gió, thơ thành khiến quỷ thần phải khóc). Đó gọi là anh hùng trọng anh hùng, người thơ quý người thơ vậy!

Khi hai người gặp nhau, Lý Bạch đã nổi danh thiên hạ, đến cả Hoàng đế cũng phải nể vì ba phần còn Đỗ Phủ vẫn là chàng thanh niên chưa có tiếng tăm gì. Nhưng cái ngạo khí ngang tàng của Lý Bạch, qua bao nhiêu đoạn thời gian vẫn hoà quyện tuyệt vời với sự chân thành, mẫu mực của Đỗ Phủ. Hai người vẫn có thể hợp ý, hợp tình mà cùng du ngoạn thiên hạ, ngao du sông hồ, say sưa ca múa, tình như huynh đệ, khó có thể rời xa. Có nói quá không khi ta cho rằng đó là một mối duyên tiền định?

Nhưng rồi cuộc vui nào cũng đến lúc tàn, hai người ở bên nhau thấm thoắt cũng đến giờ ly biệt. Lý Bạch muốn đi về phương nam nối dài những chuyến đi không nghỉ, Đỗ Phủ tới Trường An tiếp tục giũa mài chí lớn. Họ từ biệt ở Duyện Châu. Ta có thể tưởng tượng ra một trong những trường đoạn ly biệt đầy tiếc nuối của lịch sử. Lý Bạch nâng chén rượu lên mà không nỡ uống, quyến luyến chẳng rời, chừng như muốn rơi lệ. Không! Lý Bạch không bao giờ khóc. Sau phút vương vấn, cảm khái ấy, Lý uống cạn chung rượu, hào sảng mà hô lên: “Phi bồng các tự viễn/ Thả tận thủ trung bôi!” (Hai ta sắp xa nhau như ngọn cỏ bồng trước gió, vậy hãy uống cạn ly rượu đang có trong tay). Nhìn ra xa xa, dòng sông Tứ nhấp nhô từng đợt sóng thu. Kẻ ở người đi, đều ăm ắp tâm trạng. Trong giờ phút khó khăn ấy, Đỗ Phủ tình sâu ý nặng, mắt không giấu nổi vẻ buồn thương, hỏi Lý Bạch: “Hà thì Thạch Môn lộ/ Trùng hữu kim tôn khai?” (Bao giờ mới được ở Thạch Môn cùng bạn hiền cạn chén đây?). Câu hỏi ấy, cả nghìn năm sau vẫn không được trả lời. Vì rốt cuộc Lý, Đỗ cũng không còn có ngày gặp lại…

Tranh vẽ Đỗ Phủ. (Ảnh: Epochtimes)

Cả một đời nhớ nhau…

Bởi lần chia tay đầy nước mắt ở Duyện Châu đó mà cả quãng đời sau này, Lý, Đỗ vẫn hoài thương nhớ nhau. Quãng thời gian cùng nhau ngao du sơn thuỷ ở đất Lương, đất Tống, đất Tề có lẽ cũng chính là thời khắc đắc ý nhất trong đời hai thi nhân. Kể từ đó về sau, mỗi người lại đơn độc bước đi trên hành trình sinh mệnh nhấp nhô, đầy sóng gió của mình. Lý Bạch phiêu linh tứ hải trong cảnh nghèo túng. Mà Đỗ Phủ, vốn chưa từng phải chịu nỗi khổ cực chốn nhân gian cũng đang bắt đầu tiến vào cuộc phiêu lưu đầy gió táp mưa sa, bấp bênh thống khổ.

Nhưng trong những giờ phút cúi xuống lòng mình, họ vẫn nhớ tới nhau bằng những cảm tình trân trọng nhất. Nhất là Đỗ Phủ, nhớ bạn da diết, nhớ bạn hầu như ở mọi cảnh huống trong đời. Ông để lại rất nhiều bài thơ nói về Lý Bạch, viết cho Lý Bạch như: “Tặng Lý Bạch”, “Xuân nhật ức Lý Bạch”, “Đông nhật hữu hoài Lý Bạch”, “Thiên mạt hoài Lý Bạch”, “Mộng Lý Bạch”… cộng lại đúng 14 bài. Đỗ Phủ, như đã nói, thực là một người giàu tình cảm. Không chỉ nhớ những lúc cùng nhau giao kết, vui chơi, ông còn lo cho Lý Bạch những chuyện cỏn con nhất như ăn, mặc, ở, đi lại, lo Lý bị biếm trích, lo Lý không quen cuộc sống nơi núi thẳm hang hoang, rừng thiêng nước độc… Cách biệt nghìn trùng, tấm lòng tưởng nhớ Lý Bạch của Đỗ Phủ chừng như vẫn chưa bao giờ gián đoạn. Đến khi về già rồi, Đỗ vẫn còn mơ một ngày: “Hà thì nhất tôn tửu/ Trùng dữ tế luận văn” (biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu mà bàn luận chuyện văn chương?). Thực đúng như hai câu thơ của Vương Bột:

Hải nội tồn tri kỷ
Thiên nhai nhược tỷ lân

(Trong trời biển còn người tri kỷ, dẫu xa cách góc bể chân trời vẫn như ở cạnh nhau).

Tranh vẽ Lý Bạch. (Ảnh: Secretchina)

Còn Lý Bạch thì sao?
Đương nhiên, với khí chất của một người tu Đạo, với ngạo khí của một kẻ sĩ giang hồ, với bản tính bộc trực, thẳng thắn, ông không dễ yếu lòng trước những cảnh biệt ly huynh đệ, cũng không có một trái tim đa sầu đa cảm như Đỗ Phủ. Song ở đâu đó, vào một lúc nào đó, người ta vẫn thấy Lý Bạch buồn thực sự khi nghĩ về tình bạn tri kỷ của mình. Nhiều năm sau, khi một lần nữa đến đất Tề, đất Lỗ, Lý Bạch nhớ tới cảnh cũ người xưa, trong lòng bồi hồi, hạ bút viết bài: “Sa Khâu thành hạ ký Đỗ Phủ”, cũng chính là những câu xuất ra từ gan ruột:

Ngã lai, cánh hà sự?
Cao ngoạ Sa Khâu thành
Thành biên hữu cổ thụ
Nhật tịch liên thu thanh
Lỗ tửu bất khả tuý
Tề ca không phục tình
Tư quân nhược Vấn Thuỷ
Hạo đãng kí nam chinh

(Ta tới đây, cũng không biết là vì sao đây? Mà nằm dài trong thành Sa Khâu. Ngoài thành có cây cổ thụ. Ngày đêm xào xạc tiếng thu. Rượu nước Lỗ không thể làm ta say. Ca xướng nước Tề cũng không hợp lòng ta. Nhớ anh như là sông Vấn. Dào dạt chảy về nam).

Lý thích nhất trên đời là ngao du sơn thuỷ, uống rượu, làm thơ và nghe ca xướng. Nhưng bất giác trong khoảnh khắc trở lại chốn xưa, cả mấy thứ ấy hoá ra thành vô vị cả. Đơn giản vì Lý đã không còn người tri kỷ để cùng nhau thưởng thức. Phóng khoáng như Lý Bạch, cao ngạo như Lý Bạch, vậy mà đối diện với cảnh một mình về chốn cũ, bên cạnh không còn Đỗ Phủ cũng nhịn không được sầu, tâm ý ảm đạm thê lương. Tiếng ca đất Tề, rượu đất Lỗ cũng chẳng thể gợi thi hứng được. Thay vào đó là một nỗi nhớ dài dằng dặc, dằng dặc như sông Vấn kia, dào dạt chảy về phương nam, chảy về phương nam…

Người viết bài này đồ rằng, cái dòng sông thương nhớ ấy đến bây giờ vẫn còn chảy, dù ở một cõi cao nào đó hai đại thi nhân có thể đã gặp lại nhau và cùng cạn chén tương phùng!

* Tiêu đề bài viết lấy từ bài “Vô đề” của Lý Thương Ẩn. Nguyên tác: “Tương kiến thì nan biệt diệc nan/ Đông phong vô lực bách hoa tàn”. Dịch nghĩa: Gặp gỡ nhau đã khó, chia lìa nhau lại càng khó/ Gió xuân không đủ sức, để trăm hoa tàn úa.

Bài viết:
Tiểu Lý

Ảnh bìa:
Secretchina

Thiết kế:
Tự Minh

Categories
Thế Giới

Tiến sĩ Diêm Lệ Mộng: ‘Quan chức cấp cao ĐCSTQ có thuốc đặc trị virus Vũ Hán?’


Vũ Dương | ĐKN một ngày trước
Nhà virus học Diêm Lệ Mộng (ảnh chụp màn hình youtu.be/7voTUuVT5i4).
Thế giới bên ngoài nhận thấy rằng trong đại dịch viêm phổi Vũ Hán, đến nay vẫn không có tin tức nào về các quan chức cấp cao ĐCSTQ bị lây nhiễm. Tiến sĩ Diêm Lệ Mộng (Yan Limeng), một chuyên gia về virus học Trung Quốc đã trốn sang Hoa Kỳ, gần đây trong một chương trình phát sóng trực tiếp giữa nhà bình luận Lộ Đức (Lu De) và một cựu chiến lược gia Toà Bạch Ốc đã công bố rằng thuốc Hydroxychloroquine (thuốc chống sốt rét), viết tắt là HCQ, thực sự có thể làm giảm các triệu chứng do virus viêm phổi Vũ Hán mang đến. Do đó, các quan chức cấp cao đang dùng thuốc này như một biện pháp phòng ngừa.
.
Trong tiết mục phát sóng trực tiếp vào ngày 31/7/2020, tiến sĩ Diêm Lệ Mộng tiết lộ rằng thuốc Hydroxychloroquine (HCQ) thực sự có tác dụng trị liệu rất hiệu quả đối với các tác hại do virus gây ra cho cơ thể con người và nó có thể nhắm vào các cơ chế gây bệnh của virus một cách hữu hiệu.Theo giới thiệu của cô Diêm, loại thuốc HCQ đã được sử dụng khoảng 60 năm. Năm 2005, nó đã được chứng minh rất hiệu quả trong việc điều trị SARS.

Tiến sĩ Diêm nói rằng virus viêm phổi Vũ Hán vốn được coi là phiên bản nâng cao của virus SARS, vậy tại sao bây giờ nó (thuốc HCQ) lại  không thể được sử dụng trong việc điều trị virus viêm phổi Vũ Hán? Là một bác sĩ và chuyên gia y tế, không khó để thấy tác dụng điều trị của Hydroxychloroquine. Cô Diêm Lệ Mộng nói: “Không còn nghi ngờ gì nữa, hàng chục ngàn dữ liệu lâm sàng được cung cấp bởi các công ty do những người không nắm vững chuyên môn thành lập là giả tạo”.

“HCQ là một loại thuốc an toàn có thể được sử dụng trong một thời gian dài, ngay cả phụ nữ mang thai và trẻ em cũng có thể dùng nó trong một thời gian dài”, cô Diêm nói, miễn là bạn tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về liều lượng an toàn là được. Bản thân cô hiện đang dùng HCQ mỗi ngày như một phương pháp phòng ngừa.

Cô Diêm Lệ Mộng cũng vạch trần nội tình bên trong về sự ưu đãi đặc biệt của các quan chức cấp cao của ĐCSTQ trong phòng ngừa dịch bệnh. Cô nói rằng ở Trung Quốc, các quan chức cấp cao đạt đến cấp bậc nào đó đều biết rằng thuốc HCQ có tác dụng trị liệu  đối với virus viêm phổi Vũ Hán. Những quan chức cấp cao và một vài bác sĩ trong bệnh viện quân đội có thể bản thân họ cũng đang dùng thuốc này. Nhưng không phải tất cả người dân Trung Quốc đều biết thông tin quan trọng này, ngay đến cả các nhân viên y tế tuyến đầu phải đối mặt với rủi ro cao cũng không biết điều này.

Về việc ĐCSTQ từ chối tiết lộ những thông tin này, cô Diêm Lệ Mộng nói: “Đó là vì ĐCSTQ muốn làm cho mọi người tin rằng virus Vũ Hán không có phương thuốc có thể chữa được, cũng không có thuốc đặc trị. ĐCSTQ không muốn ai biết về loại thuốc này, nó không muốn mọi người chiến thắng loại virus này, bởi virus Vũ Hán sẽ gây nên thiệt hại to lớn cho nền kinh tế toàn cầu và sức khỏe cộng đồng”.

Tiến sĩ Diêm Lệ Mộng nói rằng điều này liên quan đến chuỗi lợi ích khổng lồ đằng sau việc phát triển vắc-xin,… Do đó, ĐCSTQ làm hết sức để che giấu tất cả những điều này và đánh lừa thế giới, thậm chí phải trả giá bằng mạng sống của biết bao con người.

Cô nói rằng các bác sĩ ủng hộ việc sử dụng Hydroxychloroquine như một phương pháp điều trị, bao gồm Stella Immanuel, đều cảm thấy rất phẫn nộ. Có những người là chuyên gia, nhưng họ lại dùng quyền uy và địa vị chuyên ngành của mình để ngăn chặn mọi người sử dụng Hydroxychloroquine – loại thuốc chống lại vi-rút một cách hiệu quả vào việc tiến hành điều trị và phòng ngừa.

Được biết, chính phủ của các quốc gia như Ấn Độ và Ai Cập đã sử dụng Hydroxychloroquine như một loại thuốc điều trị. Những quốc gia này đã đạt được thành công lớn trong việc chống lại dịch bệnh. Cô chất vấn: “Vậy tại sao thuốc này không được khuyến cáo sử dụng ở các nước như Hoa Kỳ và Trung Quốc? WHO thậm chí còn kêu gọi chấm dứt ngay các thử nghiệm lâm sàng về Hydroxychloroquine.”

Một số chuyên gia y tế phản đối việc sử dụng thuốc HCQ nói rằng dùng HCQ có thể gây ra tác dụng phụ. Về vấn đề này, tiến sĩ Diêm Lệ Mộng nói rằng tất cả các loại thuốc đều có tác dụng phụ, đó không phải là lý do để phản đối việc sử dụng thuốc HCQ.

Cô Diêm Lệ Mộng nhấn mạnh: “Trong tình huống khẩn cấp như hiện nay, tôi có thể nói chắc chắn rằng HCQ là thuốc tốt nhất để điều trị và phòng ngừa viêm phổi Vũ Hán. Tại sao chúng ta không thể sử dụng nó trong khi vẫn chưa có vắc-xin và không có thuốc đặc trị?”.

Về tác dụng phụ, cô Diêm Lệ Mộng gợi ý rằng bệnh nhân có vấn đề về tim mạch nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ trong việc dùng thuốc.

Tiến sĩ Diêm Lệ Mộng cũng nói rằng ĐCSTQ không công bố thông tin thực sự về nguồn gốc của virus, thông tin về virus và mô thức hành vi thực sự của nó. Họ không muốn thế giới biết virus này rốt cuộc là chuyện gì, gây trở ngại cho giới khoa học trong ứng phó với virus, làm chậm trễ việc nghiên cứu vắc-xin và thuốc điều trị trên thế giới.

Theo Sound Of Hope
Vũ Dương biên dịch

Categories
6 - Trang lượm lặt

“Thượng Đế chỉ cho 1 chiếc giày”: Câu chuyện về Tổng thống Ronald Reagan


Ở Mỹ có một cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đến khi đi học cậu chỉ mang mỗi một đôi giày rách. Cậu bé nghe nói vào lễ Giáng Sinh, khi đến bất cứ cửa hàng nào, chỉ cần nói với Thượng Đế thứ mình muốn thì chủ cửa hàng sẽ thỏa mãn yêu cầu của mình.

Vào hôm Giáng Sinh, cậu bé nhìn thấy trong một cửa hàng giày có bày bán những đôi giày rất đẹp nên đã bước vào cửa hàng và nói với ông chủ rằng: “Hôm nay là Giáng Sinh, cháu rất thích đôi giày này, chú có thể giúp cháu nói với Thượng Đế để Ngài cho cháu đôi giày này có được không ạ?”

Ông chủ nhìn xuống chân của cậu bé và hiểu ngay vấn đề, ông ấy cầm lấy đôi giày rồi nói: “Được thôi cháu bé, bây giờ ta sẽ nói với Thượng Đế”. Sau đó ông ấy cầm đôi giày và đi vào bên trong.

Một lúc sau, ông chủ đi ra, nhưng trên tay chỉ cầm có mỗi một chiếc giày rồi đưa cho cậu bé và nói: “Cháu bé, Thượng Đế nói rằng Ngài chỉ cho cháu một chiếc giày thôi, cháu phải tự nghĩ cách kiếm tiền để mua chiếc còn lại.”

Cậu bé hỏi: “Vậy cháu phải kiếm bao nhiêu tiền thì mới mua được chiếc giày còn lại?”

Ông chủ nói: “2 đô la.”

Cậu bé lại nói: “Được rồi ạ, cháu sẽ nghĩ cách kiếm tiền, nhưng chú nhất định phải giữ cho cháu chiếc giày còn lại nhé.”

Ông chủ cười nói: “Cháu cứ yên tâm.”

Sau khi về nhà và tiết kiệm được 2 đô la bằng cách nhặt ve chai, cậu bé vui vẻ chạy đến cửa hàng để trả tiền. Ông chủ đã khen ngợi cậu bé và đưa cho cậu chiếc giày còn lại. Kể từ đó, cậu bé đã có một đôi giày mới rất đẹp.

Khi lớn lên, cậu bé đã từng làm nhiều nghề như nhân viên cứu hộ, bình luận viên, phát thanh viên rồi bước vào giới nghệ thuật và trở thành một ngôi sao nổi tiếng. Vào năm 1980, cậu bé ấy đã trở thành Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ, cũng chính là Tổng thống Ronald Reagan.

Tổng thống Ronald Reagan(Ảnh: Shutterstock)

Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, có một lần ông Ronald Reagan được phóng viên hỏi về việc có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự trưởng thành của ông là gì, ông đã kể về câu chuyện “Thượng Đế chỉ cho 1 chiếc giày” khi ông còn nhỏ.

Ông Reagan cho biết: “Sau này tôi mới biết được giá gốc của đôi giày đó là 38 đô la, một nửa giá cũng đến 19 đô la nhưng ông chủ cửa hàng chỉ lấy của tôi 2 đô la để dạy cho tôi một điều rằng: Thượng Đế sẽ không cho bạn tất cả những gì bạn muốn, Ngài chỉ cho bạn một phần mà thôi, bạn phải tự mình nỗ lực để lấy phần còn lại.”

Thượng Đế sẽ không cho bất cứ ai quá nhiều hay quá ít. Ngài cho bạn một phần và bạn phải tự mình nỗ lực để có được phần còn lại.

Xem thêm: