THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 5)

Tôi gánh đôi thùng không lên vai, bước chưa ra khỏi cửa ngõ bỗng nghe tiếng la hét khác thường của một người nào đó. Ngạc nhiên, tôi dừng lại lắng nghe. Tiếng la hét vang lên đều đều theo một nhịp điệu hẳn hòi. Đó là giọng khàn đục khó phân biệt của đàn ông hay đàn bà. Âm thanh mỗi lúc một rõ hơn chứng tỏ người la hét đang tiến về phía tôi. Dần dần tôi nghe rõ lập đi lập lại vỏn vẹn chỉ có năm tiếng: “Thu mua là thua mu! Thu mua là thua mu! Thu mua…”. Tôi bước ra đường, hướng mắt về phía có tiếng la hét. Trước mắt tôi là một người đàn bà dáng điệu ngúng nguẩy trông như người đang múa. Tôi không hiểu ất giáp gì, vội bước lùi vào cửa ngõ để tránh.

Người đàn bà đã đến gần. Thân xác bà ta gầy teo, áo quần rách rưới, đầu trần chân đất lem luốc bù xù trông rất dễ sợ. Đôi chân bà ta đi ngoằn ngoèo nhưng thoăn thoắt trong khi đôi tay bà múa men liên tục. Chốc chốc bà lại đấm ngực, vỗ đùi như ấm ức điều gì. Vài lúc bà ta lại vỗ bôm bốp cả hai tay vào háng mình như khoe khoang, thách thức. Miệng bà ta vẫn la hét đều nhịp “Thu mua là thua mu! Thu mua là thua mu!…”. Khi đi ngang trước ngõ nhà tôi, bà ta quay nhìn tôi một cái với ánh mắt giận dữ, man dại khiến tôi phải rùng mình. Nhưng rồi bà ta lại hướng về phía trước tiếp tục đi…

Hình như trong ánh mắt dữ tợn của người đàn bà này tôi thấy có chút gì quen quen. Chắc bà ta là người trong làng. Có thể tôi đã gặp bà ta ở đâu rồi! Tôi đứng lại nhìn theo bóng dáng người đàn bà đang xa dần. Khi bà ta đã khuất hẳn tôi vẫn còn thẫn thờ suy nghĩ. Tôi cố nặn óc mình một hồi để nhớ xem người đó là ai? Nhưng cuối cùng tôi đành chịu thua!

Khi tôi gánh nước đã đầy đủ thì bà Nhiêu ở cùng xóm sang thăm. Vừa bước vào nhà bà ta giở ngay cái lồng bàn đậy mấy tô cháo bí để giữa bàn ra rồi quở:

– Dân đi Sài Gòn về cũng ăn bí ngô à?

Bà nội nói đỡ:

– Tôi mua lúa điều hòa chưa kịp, tụi nó về bất ngờ quá… Mà mẹ con nó ở Đà Lạt chứ đâu có ở Sài Gòn.

Bà Nhiêu ra vẻ ân cần hỏi tôi:

– Thế bây giờ chú Thành ở đâu? Sao cô không ở Đà Lạt nữa mà lại về đây? Trong đó làm ăn không được à?

– Anh Thành hiện giờ ở đâu thiệt tình cháu cũng chẳng biết. Cháu ở Đà Lạt cũng sống được lắm, nhưng mẹ cháu cứ kêu về cháu biết làm sao?

Bà Nhiêu quay lại hỏi bà nội:

– Sao chị không để mẹ con cô Ngọc ở luôn trong ấy làm ăn có phải hay hơn không?

Bà nội chống chế:

– Thím thử nghĩ, nếu tôi ở nhà một mình mãi lỡ nửa đêm nửa hôm có chuyện chi bất thường tôi biết nhờ ai?

– Chị nói vậy chứ ở đâu chẳng có xóm có làng! Bộ người ta để chị chết sao?

Bà Nhiêu lại quay sang tôi:

– Thế cô có để dành được ít nhiều vốn liếng chi để làm ăn không? Nói vậy chứ thời trước làm quan làm quyền chắc gom bó cũng nhiều, đâu đến nỗi phải không cô Ngọc?

Bực mình trước cái giọng khích bác, tò mò của bà Nhiêu, tôi trả lời nhát gừng:

– Nếu có chút tiền cháu đã đi tìm chồng cháu rồi!

Như chẳng để ý đến lời tôi, bà Nhiêu hỏi tiếp:

– Thế bây giờ cô có định đi đâu để sống nữa không?

– Cháu đã về đây thì sống ở đây chứ còn đi đâu nữa!

Trong khi bà Nhiêu hỏi chuyện, bà nội cứ đưa mắt nhìn tôi nháy nháy. Tôi hiểu ngay bà nội dặn tôi phải dè chừng. Bà Nhiêu lại tiếp tục:

– Cũng được thôi. Tôi khuyên cô nên lo làm ăn cho thật tốt rồi chúng tôi sẽ vận động hội phụ nữ Thiện Trường làm tờ thỉnh nguyện xin chính phủ sớm tha chú Thành về nếu như chú ấy đang học tập cải tạo.

Chồng tôi đã bị cụt cả hai chân mà cách mạng vẫn bắt đi học tập cải tạo sao? Tôi hơi giật mình. Ừ, biết đâu anh ấy chẳng bị cầm giữ? Có lẽ bà Nhiêu đang giữ một chức vụ gì đó nên mới ăn nói lớn lối như thế – tôi nghĩ. Cũng được. Bà nói gì mặc bà, tôi cứ vâng vâng dạ dạ chứ không có ý kiến. Chuyện vãn một hồi, sực nhớ tới người đàn bà gặp hồi nãy, tôi hỏi:

– Hồi nãy đi gánh nước con gặp một người đàn bà điên, thấy nét mặt quen quen mà con không nhớ ra là ai. Mẹ với thím Nhiêu có biết bà đó không?

Bà Nhiêu nói với giọng thản nhiên:

– Cái con mẹ cứ la hét “thu mua là thua mu” đó phải không?

– Dạ, đúng rồi thím!

– Thế thì con mẹ Hào thợ mộc chứ ai! Cô Ngọc không nhớ à?

Tôi ngạc nhiên hết sức, kêu lên:

– Trời ơi, thím Hào thợ mộc sao đến nỗi ra thân như thế? Thế chú thợ Hào sao không lo chạy chữa cho thím ấy?

Bà Nhiêu nói tỉnh bơ:

– Thằng cha Hào chống lại lệnh cách mạng nên người ta đưa vô trại cải tạo rồi, đâu còn ở ngoài nữa mà lo cho con mẹ đó!

– Chú thợ Hào cũng phản động hả thím Nhiêu?

– Không phản động mà cũng như phản động! Chính quyền đã ra lệnh ai có vàng bạc phải khai báo, có trữ lúa chỉ được quyền trữ vừa đủ ăn, thừa ra phải để nhà nước thu mua. Vợ chồng thằng cha thợ Hào ỷ giàu sắm vàng cả hũ, mua lúa trữ cả hầm trong khi nhân dân đang thiếu thốn, ác ôn chưa? Nhưng vợ chồng thằng chả làm sao qua mặt nhân dân được? Cách mạng đã khám phá ra và tịch thu hết sạch. Thằng chả lại ỷ miệng mồm lý lẽ cãi lại cán bộ nên người ta phải bắt đi cải tạo. Con mẹ ấy tiếc của nên giả điên giả khùng như vậy thôi chứ gì. Có ngày người ta cũng đưa con mẹ đó vào trại cải tạo cho coi! Thật thà như tôi với chị Thắng đây – bà Nhiêu chỉ vào bà nội – thì ai làm gì được?

Hèn gì! Thì ra vậy! Hình ảnh chú thím thợ Hào chợt hiện về trong trí tôi. Trong xã Thiện Trường cũng có năm bảy người làm thợ mộc nhưng chú thợ Hào nổi tiếng khéo tay bậc nhất. Chú làm ăn phát đạt nên có dựng được một rạp mộc ngay bên ngôi nhà chú ở. Thiên hạ ai cũng cho là chú Hào mát tay, chỗ nào cất nhà người ta cũng muốn nhờ chú đến “phở mộc”. (Có nơi gọi là “động mộc”, một động tác tượng trưng như đẻo vài nhát gỗ đầu tiên ở đòn dông đúng vào giờ tốt đã được thầy phong thủy chọn để khởi công dựng nhà). Người ta tin rằng nếu được người thợ mát tay “phở mộc”, ngôi nhà đó ở sẽ không gặp rắc rối, gia chủ sẽ làm ăn phát đạt… Nhờ được người ta tin tưởng như vậy nên việc làm ăn của chú Hào cứ mỗi ngày một khá thêm. Bình thường thím thợ Hào chỉ biết lo công việc nội trợ. Tánh tình thím hiền lành, luôn tử tế vui vẻ với mọi người nên xóm làng ai cũng mến. Không ngờ qua cuộc đổi đời chú thím ấy lại trở thành nạn nhân của chế độ mới! Trước kia thím đẹp đẽ, thùy mị, bây giờ thím gầy ốm tong teo như vậy tôi làm sao nhìn ra được? Tôi tò mò muốn biết rõ thêm về cái tai vạ của chú thím ấy nên hỏi:

– Chú thím thợ Hào ấy gian dối ra sao thím Nhiêu?

– Vợ chồng nó hồi trước làm ra tiền như nước, mua vàng đựng cả hũ. Tới khi cách mạng vào, vợ chồng nó lại cả gan mua hàng tạ lúa đào hầm ngay dưới rạp mộc để giấu! Nhưng thiên bất dung gian, đoàn cán bộ đi xăm hầm thấy chỗ nào khả nghi người ta chú ý liền, dẫu bí mật thế nào người ta cũng phát hiện ra. Hũ vàng thì nó chôn dưới một gốc mít cạnh nhà. Nó che dấu tích bằng cách rải lên một ít mạt cưa, một ít lá khô nhưng làm sao che mắt cách mạng được? Của không đăng ký là của lậu, nhà nước tịch thu là phải rồi, oan ức nỗi gì! Thế mà thằng chả ngoan cố cãi bướng với nhà chức trách của đó là do mồ hôi nước mắt của nó làm ra! Cuối cùng nó phải đi cải tạo thôi!

Kể đến đây bà Nhiêu cười hăng hắc ra vẻ thỏa mãn lắm. Sau đó bà lại nhìn tôi một hồi rồi nói với giọng có vẻ chế nhạo:

– Sắp đến cô Ngọc định đi dạy học lại hay làm công việc gì khác? Chứ chẳng lẽ một người trí thức đẹp đẽ như cô lại đi làm hợp tác xã chân lấm tay bùn như tụi tôi?

Lối nói châm chọc ấy làm tôi bực mình thêm nhưng tôi vẫn gắng nhã nhặn trả lời:

– Cháu nghỉ đã lâu rồi ai mà cho dạy nữa. Bây giờ đã về đây hợp tác xã cho làm việc gì cháu làm việc nấy thôi!

Lúc đó mấy đứa nhỏ con tôi đã thức dậy. Có đứa kêu đói đòi ăn. Tôi chỉ mấy tô bí ngô cho chúng. Bà Nhiêu cười xen vào:

– Tụi nhỏ ăn cao lương mỹ vị quen miệng chắc nuốt cháo bí không vô?

Nghe cái giọng đâm hông đó tôi lại càng bực mình thêm:

– Có gì đâu mà cao lương mỹ vị thím?

Bà Nhiêu cười khảy:

– Thì lương hai vợ chồng bạc bó không lẽ để con cái ăn dưa ăn mắm?

Tôi đã quá chán nói chuyện với bà ta nên quay sang nói với mấy đứa con:

– Tụi con ăn tạm cháo bí đi đã! Mẹ ra chợ một lát sẽ về ngay…

Rồi tôi quay lại bà Nhiêu:

– Thím ngồi chơi với mẹ cháu một lát nhé, cháu phải ra chợ một chút vì hồi hôm về trong nhà không còn gì hết.

*

Khi tôi đi chợ về thì bà Nhiêu đã đi mất. Bà nội giúp tôi soạn đồ ra rồi hai mẹ con cùng lo chuyện cơm nước.

Khi cả nhà ngồi ăn, bà nội dặn nhỏ tôi:

– Khi con đi, có mụ Tẩn ngồi đây nên mẹ không tiện dặn. Từ nay mỗi lần đi chợ con nhớ phải mua thêm một ít thức ăn độn như khoai, sắn. Tốt nhất là sắn khô vì mình có thể để dành lâu được. Nếu con thèm thịt muốn mua ăn, mang về nhà cũng phải kín kín đáo một tí. Mụ Tẩn qua nhà mình hồi sáng đó không phải có ý tốt mô! Mụ ta muốn kiểm soát xem mình ăn cái chi đó! Ngày ngày rảnh rỗi mụ cứ chạy xợt xợt nhà ni qua nhà khác để tìm hiểu rồi tới một buổi họp mô đó lại đưa ra phê bình kiểm thảo chứ không phải đi chơi không mô!

Nghe bà nội gọi “mụ Tẩn” tôi hơi lạ tai bèn hỏi:

– Mụ Tẩn là thím Nhiêu đó hả mẹ? Cái tên này sao con chưa nghe tới bao giờ?

Bà nội hạ giọng:

– Từ ngày cách mạng vô, cặp vợ chồng nớ lên mặt lắm, người trong xã mình ai cũng né hết. Người ta ghét mặt vợ chồng lão nên cứ gọi là lão Tẩn, mụ Tẩn. Mẹ cũng không hiểu cái tên Tẩn ấy có ý nghĩa chi nhưng chắc là không được hay. Thật ra người ta cũng chỉ gọi lúc hai vợ chồng họ vắng mặt. Có lẽ vợ chồng mụ cũng không thích chi cái tên đó.

– Thím Nhiêu đi dò la hàng xóm ăn gì để phê bình chỉ trích thật hả mẹ? Làm gì mà quá đáng như thế?

– Răng không thật được! Ở xóm ni rất nhiều người bị phê bình nào là không chịu ăn độn, nào là thường xuyên ăn cá ăn thịt… Nhà mụ ta theo cách mạng cả nhà lâu nay mình mô có biết! Lão Tẩn hiện chừ là an ninh thôn đó, con phải coi chừng.

Hóa ra cách mạng muốn kiểm soát luôn cả việc ăn uống của người dân! Lời bà nội dặn tôi khi đi chợ phải mua một ít thức độn mới nghe qua cũng tức cười, nhưng nghĩ lại cũng có lý lắm chứ! Bây giờ một mình tôi đi làm để nuôi một lũ con như thế sợ ăn độn cũng không đủ nữa, mong gì đến chuyện cơm trắng cá tươi? Với tôi, chuyện đó chẳng phiền hà chi cả! Tôi chỉ thắc mắc về hành động của vợ chồng ông Nhiêu:

– Con không hiểu sao chú thím ấy lại ưa làm mất lòng thiên hạ như vậy?

– Chi mà không hiểu? Lập công! Mần cho người ta nể oai! Chừ thì vợ chồng họ còn sợ ai nữa!

– Con cũng không ngờ. Ngày trước chú thím ấy trông hiền như cục đất!

– Con mới về mần dâu trong làng không biết chứ ngồi đó mà hiền như cục đất! Lúc còn trẻ lão Tẩn đã từng chỉ điểm cho cách mạng giết không biết bao nhiêu người rồi. Hồi đó làng mình có một người đàn bà giàu có, ăn học khá nên nói được tiếng Tây. Mỗi lần lính Tây đi lùng bắt bớ người trong làng, bà hay tiếp xúc với bọn chỉ huy của chúng để xin tha cho họ. Chỉ có rứa thôi, nhưng cách mạng kết tội bà ta là Việt gian, phải xử tử. Khi bà ta bị giết rồi, lão Tẩn lấy dây thừng buộc cổ bà vào một chiếc đò rồi cho kéo mấy vòng trên các sông hói để cảnh cáo dân làng. Bà ta có mấy cái răng bịt vàng lão Tẩn cũng dùng kềm bẻ ra lấy hết. Về sau dù bên quốc gia đã vãn hồi trật tự nhưng người trong làng vẫn sợ trả thù nên chẳng có ai dám tố cáo lão. Kể ra dưới thời quốc gia vợ chồng lão cũng chịu khó cúi đầu mần ăn thiệt. Ai cũng tưởng lão đã hối hận chuyện cũ, nào ngờ cách mạng vừa vô là lão lập tức ngoi đầu lên mần mưa mần gió. Chính lão và lũ con cháu lão đã dắt cán bộ đi xoi hầm từng nhà để tìm chỗ người ta giấu lúa, giấu vàng chứ ai! Con mẹ thợ Hào dở chết dở sống như thế cũng vì con cháu của lão chứ ai! Lão độc như con rắn mai gầm, con phải coi chừng mới được!

Tôi lắc đầu thở dài:

– Thế mà hồi nãy bà Nhiêu khuyên con cứ làm việc cho tốt bà sẽ vận động hội phụ nữ làm thỉnh nguyện thư xin chính phủ tha chồng con về!

– Phớt phớt lỗ miệng! Nói rứa chứ cả nhà mụ mong tụi bây đi khỏi xã lắm đó!

Tôi hơi tức cười:

– Họ mong mình đi thì lợi gì cho họ?

– Cái nhà chứ chi nữa? Bán có người mua liền!

– Thì ra thế. Hèn gì chị Lâm đã nói tới hồi hôm. Bây giờ tụi con về đây chắc họ không vui?

– Tống được người mô đi hay người nấy chứ răng! Con mẹ Hiền nhà cửa vững vàng như vậy mà người ta cũng khuyên đi vùng kinh tế mới nữa là!

Tôi sực nhớ tới gia đình chị Hiền, chỉ cách nhà tôi một hàng rào mà từ hôm tới giờ không thấy động tịnh chi cả. Tôi hỏi:

– Mẹ này, anh Hành chị Hiền đi đâu hết không thấy ai bên nhà cả?

– Thằng Hành mô còn nữa! Nó chết trong dạo di tản vô Đà Nẵng rồi. Còn con mẹ Hiền chừ đang đi mần với hợp tác xã. Vừa rồi con nó đau phải chở lên nằm nhà thương. Hôm qua nghe nói nó xin nghỉ để đi thăm con không biết đã về chưa.

– Tội nghiệp chưa! Hóa ra chị Hiền đã thành góa bụa! Thế con chị ấy đứa nào bị đau gì mà phải đi nằm nhà thương?

– Thằng Tương con thứ hai của nó đó. Thầy giáo cắt nó đi làm “kế hoạch nhỏ” chỗ mô đó đạp nhằm thép gai nên bị nhiễm trùng, cái chân sưng vù lên không đi được. Nghe nói có thể bị cưa như chơi.

– Khổ chưa! Nhưng làm kế hoạch nhỏ là làm việc gì mẹ biết không?

– Con có đi dạy học còn không biết tao mần răng biết được?

Gần trưa, tôi nấu một nồi chè đậu xanh vỏ cho cả nhà ăn thay cơm luôn. Ăn xong, tôi mời bà nội lại xem mớ áo quần cô Hậu đã cho mấy mẹ con tôi. Tôi mở va li, lấy ra từng chiếc để khoe với bà nội. Thấy phần nhiều là loại hàng đắt tiền thường dùng ở xứ lạnh, bà nội cứ than thở về sự hao tốn của cô Hậu. Nãy giờ con Hoa ngã ngớn chưa chịu ăn, lúc ấy nó đang bưng tô chè cũng sấn lại xem. Bất ngờ nó sảy tay làm tô chè rớt đổ cả vào va li quần áo. Tôi nổi giận thét:

– Thế là bày việc thêm cho mẹ rồi!

Bé Hoa sợ hãi bỏ đi chỗ khác. Tôi phải vất vả gần hai tiếng đồng hồ để giặt mớ áo quần bị dơ. Sau đó tôi phải giăng thêm mấy sợi dây trong vườn mới đủ chỗ để phơi.

*

Đến tối chị Hiền mới sang chơi. Vừa thấy mặt tôi chị nói liền:

– Chị Diệu Ngọc thấy khổ không? Cách nhau chỉ một bước chân, biết chị về hồi hôm mà đến giờ này tôi mới sang thăm chị được! Công việc cứ túi bụi con mắt, chị đừng trách nghe. Hôm qua tôi mới lên nhà thương đem thằng Tương về. Còn may, bị kẽm gai xước chút nữa mà cưa chân…

Tôi sực nhớ ra điều thắc mắc của mình, liền tiếp lời:

– À, tôi có nghe mẹ tôi nói rồi. Cháu không việc gì cũng mừng cho chị. Có điều tôi không hiểu, thầy giáo cắt cháu đi làm kế hoạch nhỏ là làm việc gì vậy?

Chị Hiền thiểu não cười:

– Chị nghỉ dạy học rồi không biết cũng phải. Cái đó người ta mới bày đặt ra. Họ bảo là tập cho học trò lao động. Nào cho học trò đi nhặt bao nylon, lượm chai lon, lượm sắt vụn… Nào cho đi mót lúa, mót khoai sắn… Đứa nào làm tốt được điểm cao, được biểu dương “anh hùng lao động”. Đồ thu hoạch được dồn lại bán gây quỹ cho trường. Nhiều khi thấy tụi nhỏ giành giựt nhau vài cái bịch nylon ở bãi rác mà tội nghiệp! Chúng bị đạp mảnh chai, kẽm gai, sướt vai, rách áo thiếu gì! Thằng Tương cũng vì thế làm tôi tốn hết một mớ tiền đó.

– À, kế hoạch nhỏ là vậy! Thế chị Hiền bây giờ đang làm việc gì?

– Ở đây thì làm ruộng làm rẫy với tập đoàn chứ làm gì nữa chị!

– Làm việc có dễ chịu không?

– Tôi bết lắm chị ơi. Nhưng mình còn biết làm chi hơn!

– Tôi muốn hỏi mình làm có đủ ăn không ấy mà!

– Đủ ăn chi nổi!

– Hằng ngày người ta giao cho mình làm những việc gì?

– Bây giờ đang đi gặt! Thường thì ban đất, nhổ mạ, cấy lúa, đạp nước vào ruộng, vớt rong cho cá ăn, lên luống khoai lang… Người ta làm việc gì thì mình làm việc nấy thôi. Chỉ khác cái là người ta có sức khỏe lại quen việc, còn tôi quá chậm chạp bị người ta nạt nộ, xỉa xói coi không ra gì cả. Khổ nhất là nhiều đêm họp hành người ta cứ phê bình kiểm thảo mình nghe nhức đầu lắm.

– Chị làm không đủ ăn chắc tôi cũng vậy quá?

– Những người làm thiệt giỏi may ra. Cỡ như tôi nói thiệt làm không đủ húp cháo. Khổ nỗi mình đâu còn con đường nào khác!

– Chị nói làm không đủ húp cháo vậy lấy gì mà bù vào?

– Chị Ngọc không tin à? Tôi phải bán lần bao nhiêu áo quần, đồ đạc trong nhà để ăn đó. Không biết khi hết đồ đạc rồi phải làm sao đây? Thế mà người ta cứ chực dòm vào tận đáy nồi của mình. Chán ơi là chán. Mới đây đã xảy ra không biết bao nhiêu vụ ăn trộm lúa ngoài đồng, nhổ trộm khoai sắn ở trong rẫy, tất cả chỉ vì người ta không cách nào làm đủ ăn mà ra. Mai mốt đây rồi chị sẽ thấy! Khổ lắm chị Ngọc ơi!

Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp cho chị Hiền quá. Chị vốn thật thà, vụng về, xưa nay mọi sự chỉ biết trông cậy vào ông chồng. Bây giờ chồng chị không còn nữa, chị phải gánh chịu bao nhiêu sự thua thiệt. Tôi tìm lời an ủi chị:

– Tạo hóa an bài cả chị Hiền ơi. Chẳng lẽ tình trạng này cứ kéo dài mãi hay sao?

Chị Hiền lắc đầu:

– Tôi chưa nói hết đâu chị. Chị sẽ gặp hàng vạn chuyện bất bình khác nữa! Miệng người ta độc địa tàn nhẫn lắm. Lúc nào họ cũng chực nói móc nói méo mình nghe muốn điên đầu. Có lúc tưởng chừng độn thổ được tôi cũng độn mà trốn. Giờ nói có thể chị chưa tin, nhưng tôi cũng phải báo trước để chị chuẩn bị tinh thần…

Đang chuyện vãn tôi bỗng sực nhớ một điều, bèn hỏi:

– Tại sao người ta lại gọi ông Nhiêu là lão Tẩn chị biết không?

Lần này nét mặt chị Hiền lộ hẳn vẻ thích thú:

– Ồ, do mấy ông lão đồng lứa với ông ta đặt ra cả! Ông ấy hay xoi mói bắt bẻ người khác nên ai cũng ghét. Người ta gọi ông ấy là Tẩn Nhiêu là nói lái đó mà! Nói vậy chứ chị cũng không nên gọi cái tên ấy, lão giận sinh oán thù cũng mệt. À, chị về lại đây đã báo cáo với tập đoàn hay thôn xã chưa?

Tôi cười nói tếu:

– Chút nữa tôi quên mất. Nhưng cũng chẳng đáng lo. Tôi chưa trình diện thôn đội gì cả nhưng bà an ninh thôn đã đến trình diện tôi rồi!

Chị Hiền cũng cười:

– Đùa vậy chứ chị cũng nên đến báo cáo với tập đoàn một chút cho phải phép để họ khỏi lý lẽ lôi thôi. Ở đây cái mảy xảy thành cái vung là chuyện thường! Nhà anh Sự tập đoàn phó cũng gần đây thôi, bây giờ anh ấy cũng về rồi. Nếu cần tôi cùng đi với chị đến đó một lát cho xong.

Suốt ngày hết nói chuyện với những người hàng xóm tới thăm lại phải làm nhiều việc nên tôi mỏi người lắm. Sau khi cùng chị Hiền đến gặp anh Sự, tôi trở về ngủ một giấc khá dài.

Nửa đêm thức giấc tôi sực nhớ tới mớ áo quần phơi ngoài vườn chưa lấy cất. Thế là tôi lật đật vùng dậy chạy ra lấy. Nhưng hỡi ơi, chỉ còn trơ mấy sợi dây! Toàn bộ số áo quần tôi phơi đã biến sạch! Tôi hoảng hốt chạy vào kêu bà nội dậy nói cho bà nội biết. Tôi tiếc nhất là bộ đồ vải xoa màu tím nhạt anh Thành tặng tôi hồi chưa cưới! Bà nội nghe tôi nói liền phẫn nộ kêu lên:

– Người trong xóm lấy chứ ai vô đây nữa?

– Bao nhiêu đồ bận mùa lạnh mất sạch rồi. Bây giờ làm sao đây mẹ?

Qua giây lát giận dữ, bà nội đã có vẻ định tĩnh trở lại:

– Tức hộc máu đi