CON ĐƯỜNG NÀO CHO VIỆT NAM?

Nguyễn Quốc Đống

25 tháng 8, 2014

Gần 40 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay giặc Cộng (30-4-1975).  Việt Nam, dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày càng lâm vào tình trạng bế tắc, về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… Các vùng lãnh thổ và lãnh hải Việt mất dần vào tay Tàu Cộng; đất nước Việt tràn ngập người Tàu; các khu phố Tàu xuất hiện, nơi chính người Việt không được quyền lui tới.  Nhà cầm quyền im lặng trước hành động Tàu trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam; nhưng lại thẳng tay đàn áp người dân Việt yêu nước, xuống đường chống Tàu.  Tình trạng nguy kịch đến nỗi nhiều người phải tự hỏi: “Việt Nam còn hay đã mất”, và đâu là con đường mà người dân Việt phải lựa chọn cho sự sống còn và phát triển của đất nước, dân tộc?

1-Thực trạng Việt Nam sau khi CSVN cưỡng chiếm Nam Việt Nam vào tháng 4, 1975:

CSVN thực hiện việc thống nhất hai miền Nam, Bắc vào năm 1976, tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, khẳng định sẽ xây dựng VN thành một nước  xã hội chủ nghĩa.  Chính quyền CS củng cố nền chuyên chính vô sản (chỉ Đảng CS có quyền lãnh đạo), xây dựng kinh tế tập trung trong toàn cõi VN, xóa bỏ mọi hình thức kinh tế tư bản của miền Nam trước kia, từng bước đưa VN vào nền kinh tế chỉ huy XHCN.

Một thời gian sau, chính sách kinh tế XHCN thất bại khiến Đảng CS phải chấp nhận “đổi mới”,  tạo ra cái gọi là “kinh tế thị trường, mang định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực chất  là cho dân chúng tạm có quyền kinh doanh, đầu tư (chủ nghĩa tư bản), nhưng nhà cầm quyền vẫn giữ độc quyền về chính trị, không cho đa đảng (chủ nghĩa xã hội).  Chính sách này vẫn được duy trì hiện nay, dù nhà cầm quyền khẳng định VN vẫn theo chủ nghĩa Mác-Lênin.

Là một nước CS, thành viên của Quốc Tế CS, nên VN liên kết chặt chẽ với hai nước CS hùng mạnh là Liên Sô, và Trung Cộng, dù rằng sau chiến tranh VN nhận được rất nhiều sự trợ giúp của các nước thuộc thế giới tự do như Pháp, Đức, Úc, Mỹ, Nhật Bản… Tuy được Tàu Cộng trợ giúp đắc lực trong cuộc chiến xâm lược miền Nam (1956-1975),  sau 1975, CSVN lại tỏ thái độ thân thiện với Liên Sô (thời Lê Duẩn làm Tổng Bí Thư ĐCSVN),  nên đem quân xâm chiếm Campuchia, và khiến Tàu Cộng bất bình.  Năm 1979, Tàu khởi sự cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung khiến số thương vong hai bên lên tới nhiều chục ngàn người.  Sau cuộc chiến biên giới, Việt Cộng coi Trung Cộng là kẻ thù số một, dù cả hai đều là nước XHCN.

Tình trạng này kéo dài không lâu, vì năm 1989, Liên Sô sụp đổ, CSVN sợ cũng bị tan rã theo khối CS Đông Âu, nên đành phải muối mặt làm hòa với Trung Cộng, chịu mọi điều kiện nhục nhã, hy vọng dựa vào sự bảo vệ của TC để mà sống còn.  Đây chính là lý do khiến CSVN đã ký mật ước Thành Đô với TC vào ngày 3 và 4 tháng 9, năm 1990; theo đó, CSVN xin được là một tỉnh tự trị của TC. Thời gian để thực hiện việc sáp nhập nước Việt vào Tàu Cộng là 30 năm: 1990-2020.

Bao nhiêu năm trôi qua sau ngày ký mật ước Thành Đô, VC không hề hé môi về văn kiện bán nước này, không xác nhận, cũng không phủ nhận.  Tuy nhiên, những chuyện xảy ra trong những năm gần đây tại VN khiến nhiều người Việt cả  trong nước lẫn hải ngoại không khỏi ưu tư, lo lắng cho vận mạng của đất nước, và dân tộc Việt.

Người dân Việt thấy  những gì?  Các cột mốc biên giới bị lùi sâu vào lãnh thổ VN nên thác Bản Giốc  không còn.  Nhiều rừng đầu nguồn được cho Tàu thuê dài hạn 50 năm.  Tây Nguyên trở thành đất Tàu vì người Việt không được bén mảng đến các khu khai thác quặng bauxite, nơi cả chục ngàn công nhân Tàu sinh sống và làm việc như tại quê hương của họ.  Khắp mọi miền đất nước, công ty Tàu chiếm ưu thế.  Người Tàu ra vào VN không cần giấy chiếu khán.  Hàng hóa Tàu tràn ngập thị trường khiến kinh tế VN không ngóc đầu lên nổi.  Các đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành tài sản của Tàu, và được đổi tên thành Tây Sa, Nam Sa.  Văn hóa Tàu thống trị đời sống người dân khiến văn hóa Việt  mất dần chỗ đứng.  Chúng ta hẳn không quên Lễ Hội Ngàn Năm Thăng Long do nhà cầm quyền VN tổ chức linh đình vào 1 tháng 10 năm 2010 (ngày quốc khánh của TC) khiến nhiều người dân Việt phẫn nộ, vì Lễ này cho thấy VN đã hoàn toàn nô lệ Tàu về văn hóa.  Người Việt còn chứng kiến các lãnh đạo Đảng CS phải sang Tàu để xin Tàu chuẩn thuận việc bố trí nhân sự  của Đảng, sau mỗi kỳ họp Đại Hội Đảng.

Đối với ngoại bang thì giới lãnh đạo CSVN khiếp nhược như vậy, nhưng đối với dân thì họ lại vô cùng tàn ác.  Ngư dân Việt bị Tàu Cộng cướp bóc, bắt giam, thậm chí giết hại, cũng không được chính phủ bảo vệ.  Dân biểu tình chống Tàu thì bị chính phủ cho công an đàn áp, đánh đập dã man, truy tố ra tòa, giam tù nhiều năm, hay khủng bố bằng nhiều hình thức…

Những sự việc nêu trên khiến người dân Việt phải đặt câu hỏi, “Phải chăng đất nước Việt đã mất vào tay Tàu Cộng?”  Hỏi thì hỏi vậy, nhưng được tiếng là sống trong một nền dân chủ tập trung tốt đẹp hơn hẳn nền dân chủ tư sản, mà người dân Việt chẳng bao giờ được chính phủ hỏi ý kiến về các vấn đề của đất nước, nên chẳng có ai trả lời cho họ câu hỏi trên.

2- Sự kiện giàn khoan dầu Hải Dương 981 được Tàu Cộng đưa vào vùng lãnh hải của Việt Nam đầu tháng 5, 2014:

Đầu tháng 5, 2014, Tàu Cộng đưa giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào đặt tại vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, nói là để dò tìm dầu khí tại vùng biển thuộc quyền kiểm soát của họ, và sẽ di chuyển giàn khoan khỏi vùng biển này vào ngày 15-8-2014.

Sự kiện này cho thấy Tàu Cộng đã trắng trợn vi phạm chủ quyền của VN.  Dân Việt khắp nơi phẫn nộ.  Các cuộc biểu tình nổi lên cả ở trong nước lẫn hải ngoại.  Mọi người kết án sự xâm lăng trắng trợn của Tàu; đòi Tàu phải tức khắc rút giàn khoan HD 981 khỏi vùng biển VN.  Quốc tế cũng bất bình vì thái độ bá quyền ngang ngược của Tàu,  tạo ra tình trạng bất ổn định tại Biển Đông, nơi mà rất nhiều nước thuộc vùng biển Thái Bình Dương  đều có quyền lợi chung về kinh tế, chính trị.  Chính phủ nhiều nước (như Mỹ, Nhật, Úc, Thái Lan, Phi…) lên tiếng phản đối, đòi TC phải tôn trọng các luật lệ về biển, tổ chức các cuộc họp đa quốc gia để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh hải.

Là nạn nhân trực tiếp, VN lẽ ra phải có phản ứng cấp thời là : phản đối hành động xâm lược của Tàu Cộng; và tiến hành thủ tục kiện Tàu ra trước tòa án quốc tế để bảo vệ chủ quyền đất nước.

CSVN đã làm gì trong tình trạng đất nước bị xâm lược như trên?  Nguyễn Phú Trọng, TBT Đảng im lặng.  Trương Tấn Sang, chủ tịch nước, phản đối lấy lệ.  Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ, tuy tuyên bố hùng hồn là “không chấp nhận tình hữu nghị viễn vông, dọa kiện TC…”, nhưng một mặt lại nhắn tin cho dân cấm họ biểu tình làm lớn chuyện giàn khoan.  Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng, lại ví những tranh chấp tại Biển Đông giữa hai nước Việt-Tàu chỉ là chuyện lục đục nhỏ trong gia đình, cần được giải quyết bằng đường lối hòa bình, để duy trì tình hữu nghị giữa hai nước anh  em xã hội chủ nghĩa.

Khi người dân trong nước biểu tình chống giàn khoan HD 981,  lúc đầu nhà cầm quyền CS để yên, không can thiệp.  Sau đó, lấy lý do một số cuộc biểu tình đã trở thành bạo động, tài sản các công ty nước ngoài một số nơi bị đốt phá, công nhân Tàu phải bị di tản gấp ra khỏi VN, CSVN đã ra lệnh tuyệt đối cấm dân biểu tình chống đối giàn khoan.  Mọi chuyện từ từ xảy ra đúng theo ý của Đảng CSVN.

Khi bị dư luận khắp nơi kết án về giàn khoan HD 981, Trung Cộng phản ứng quyết liệt.  Họ công bố công hàm do Phạm Văn Đồng, thủ tướng VC, ký ngày 14-9-1958, công nhận lời tuyên bố của Chu Ân Lai, thủ tướng TC, về lãnh hải 12 hải lý của Tàu (theo tuyên bố này, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền kiểm soát của TC).  TC muốn công khai cho mọi người biết chính CSVN ký giấy công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của TC; như vậy vùng biển nơi giàn khoan HD 981 được cắm đặt là thuộc lãnh hải của TC, và họ có toàn quyền khai thác dầu khí tại vùng biển này.  Dương Khiết Trì, ủy viên Quốc vụ viện TC, khi thấy dân Việt khắp nơi biểu tình phản đối giàn khoan HD 981,  và thấy một vài viên chức lãnh đạo VN cũng tuyên bố phản đối giàn khoan (tuy chỉ là phản đối lấy lệ), đã mắng VN là “đứa con hoang đàng, không làm đúng những gì đã ký kết (công hàm Phạm Văn Đồng)…”

Tiến xa thêm bước nữa, TC cho phổ biến mật ước Thành Đô, được ký kết giữa TC và giới chức lãnh đạo Đảng CSVN: Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm văn Đồng vào ngày 3 và 4 tháng 9, 1990; theo đó, VN sẽ trở thành một tỉnh tự trị của TC, giống như Tây Tạng, Nội Mông…  Hình ảnh các viên chức lãnh đạo hai đảng CS Việt-Tàu được phổ biến trên internet, nên ai cũng phải công nhận đây là một sự thật không thể chối bỏ.

Có người chua chát nhận xét rằng: “Phải cám ơn cái giàn khoan HD 981”?!  Sao lại phải cám ơn cái giàn khoan mà ngoại bang đem cắm đặt trong vùng lãnh hải của đất nước?  Lý do, là vì nhờ có sự kiện giàn khoan dầu này mà người dân có được câu trả lời cho câu hỏi từ lâu khiến trái tim họ nhức nhối: “Việt Nam còn hay đã mất?”

Ngày 15-7-2014, TC cho rút giàn khoan khỏi vùng biển của VN, một tháng trước thời gian dự định.  Dù TC rút giàn khoan vì lý do gì đi nữa, sự kiện giàn khoan HD 981 được cắm đặt trong vùng biển VN suốt 2 tháng rưỡi cũng cho ta thấy một điều: VN chỉ còn là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa; chủ quyền đã bị mất hẳn vào tay Tàu Cộng; nên TC muốn làm gì trong nước VN, dù là trên đất liền, hay tại các vùng biển, đảo, là tùy ý họ.  Giới lãnh đạo CSVN chỉ là bọn thái thú Tàu, sẵn sàng làm theo sự chỉ đạo của Tàu Cộng, dâng giang sơn gấm vóc cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, mà không cần hỏi ý kiến người dân Việt; thẳng tay đàn áp họ khi họ có thái độ phản kháng; tỏ rõ thái độ hèn với giặc và ác với dân!

3- Con đường người dân Việt phải chọn để bảo vệ đất nước và giống nòi:

Hiện nay người dân Việt có thể khẳng định một điều: Đảng CSVN không chọn con đường đồng hành cùng dân tộc Việt Nam.  Họ chọn con đường nào giúp họ nắm quyền cai trị đất nước; và khi nắm được quyền lực rồi thì họ chọn con đường nào giúp họ giữ vững quyền lực cho Đảng, vì không bảo vệ được Đảng, không nắm được quyền bính trong tay, không giữ được quyền tối thượng về chính trị; họ sẽ mất tất cả, từ địa vị, sự an toàn, của cải, tiền bạc của bản thân, gia đình, và phe nhóm. 

Để duy trì những thứ này, các đảng viên CSVN sẵn sàng hy sinh tất cả: chủ quyền đất nước, lãnh thổ, lãnh hải, danh dự của người lãnh đạo quốc gia, danh dự giống nòi, sự tồn vong của dân tộc, quyền lợi của đất nước và người dân… Cái gì mất đi để đổi được những thứ họ cần thì họ sẵn sàng đánh đổi, cho dù có bị người dân nguyền rủa, bị quốc tế khinh khi.

Năm 1945, CSVN tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp, nói là để giành lại độc lập cho nước nhà, và chủ quyền cho dân tộc.  Sau 100 năm sống nhục nhã dưới sự thống trị của thực dân Pháp, có người dân Việt nào không muốn nước nhà được độc lập, nên Đảng CS đã huy động được toàn dân tham gia kháng chiến chống Pháp.  Lòng yêu nước của người dân được Đảng CS vận dụng biến thành sức mạnh đánh bại được thực dân Pháp năm 1954.

Sau hiệp định Geneve ký ngày 20-7-1954 chia đôi VN, CSVN với sự giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên Sô và Trung Cộng, đã tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam VN, nói là để giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ.  Một lần nữa, CSVN lại lợi dụng lòng yêu nước của người dân, xô đẩy người dân hai miền Nam, Bắc vào cuộc chiến đẫm máu kéo dài 21 năm.  Nay đất nước Việt không còn bóng dáng kẻ thù “Mỹ-Ngụy”, nhưng lại đầy dẫy người Tàu, những kẻ ngang nhiên hành xử như chủ nhân ông của nước Việt.  Vậy mà giới lãnh đạo CSVN lại không dám gọi bọn Tàu này là giặc; bị chúng khinh rẻ, bức hại trăm điều mà vẫn phải gọi chúng là láng giềng tốt, là anh  em một nhà!   Đến lúc này thì lòng yêu nước của người dân Việt không còn giá trị lợi dụng cho Đảng nữa nên Đảng thẳng tay đàn áp người dân.  CSVN sợ làm mất lòng quan thầy Tàu; và cũng sợ các phong trào phản kháng của người dân sẽ thành cơn bão cuốn sạch chế độ độc tài toàn trị của chúng nữa.

Sau biến cố giàn khoan, một số người  Việt cho rằng đây có thể là một vận hội mới cho VN.  Lý do: toàn dân thấy rõ Tàu không hề là một láng giềng tốt, chứ đừng nói là một nước anh  em dù cả hai nước cùng thuộc phe xã hội chủ nghĩa.  Nếu người dân còn thấy rõ điều này, thì sao giới lãnh đạo Đảng CSVN lại không thấy được điều này?   Có lẽ đây là cơ hội cho CSVN “mở mắt”, dứt khoát “thoát Trung”, giã từ anh láng giềng tham lam tồi tệ, quay về với dân tộc, thay đổi thể chế chính trị, cải thiện nhân quyền, tạo cơ hội cho người dân cùng góp sức trong việc bảo vệ tổ quốc chăng?  Nhiều người dân lý luận là nếu không nhân cơ hội này để dứt khoát chọn một hướng đi mới cho đất nước, thì CSVN sẽ không giữ được nước, mà còn mất luôn cả Đảng nữa!  Họ nói VN cần “thoát Trung”, phải thực hiện những thay đổi cần thiết để có thể liên minh với Mỹ và đồng minh của Mỹ, thì mới bảo vệ được đất nước chống lại chủ nghĩa Hán hóa thô bạo của TC.

Thực tế, việc “thoát Trung” không dễ dàng xảy ra.  Thời gian qua, ta thấy CSVN đã chọn con đường làm nô lệ cho Tàu Cộng để đổi lấy sự an toàn cho chế độ của họ.  Họ chấp nhận bị người dân oán ghét, nguyền rủa; chịu nhục bị Tàu Cộng gọi là “đứa con hoang đàng”, chịu mất đất, mất biển, mất chủ quyền dân tộc để bị cả thế giới coi khinh.  Thái độ của họ đã chứng minh con đường họ đã chọn lựa.  Họ đàn áp thô bạo người dân trong nước, và im lặng yếu hèn trước sự xâm lăng trắng trợn của ngoại bang. 

Trong tình thế này, người dân Việt Nam phải có sự chọn lựa sáng suốt, nếu muốn bảo vệ đất nước, và duy trì giống nòi.  Hiển nhiên, CSVN không hề muốn có sự thỏa hiệp với người dân.  Họ chưa bao giờ hỏi ý kiến người dân về bất cứ chuyện gì, từ chuyện ủng hộ Bản Tuyên Bố về lãnh hải của Chu Ân Lai năm 1958; chuyện ký kết mật ước Thành Đô năm 1990; chuyện ký Hiệp ước biên giới năm 1999, Hiệp ước về lãnh hải năm 2000; cho đến chuyện cho TC vào Tây nguyên khai thác quặng bauxite…Quyền lãnh đạo là quyền của riêng Đảng CS; người dân được gọi là chủ, nhưng chỉ có quyền làm theo những gì Đảng quyết định.  Nếu dân muốn chọn một con đường khác với ý Đảng, đời nào Đảng chấp thuận.  Với quyền bính trong tay, với quân đội và công an đều chỉ trung thành với Đảng, CSVN chắc chắn sẽ không cho phép người dân có chọn lựa nào khác ý họ.

Nếu muốn chọn con đường để thoát Hán hóa, hầu bảo vệ đất nước Việt, và duy trì  giống nòi Việt; người dân Việt phải hiệp lực để giải thể chế độ CS, vì Đảng CSVN chính là vật cản không cho người dân thể hiện lòng yêu nước; không cho phép người Việt đánh đuổi kẻ thù truyền kiếp Tàu khỏi bờ cõi nước Việt.  Đây là con đường duy nhất mở ra sinh lộ cho đất nước và dân tộc Việt.  Không có con đường nào khác. 

Chưa bao giờ lịch sử nước nhà lại lâm vào tình trạng bi đát như hiện nay.  Chúng ta không thể tưởng tượng nổi, vào thế kỷ 21, mà đất nước Việt phải bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới; một dân tộc từng 3 lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông, giết hàng vạn quân Thanh, nay phải cam chịu làm nô lệ cho bọn giặc phương Bắc.  Tổ tiên ta dũng cảm đương đầu với đế quốc Mông Cổ, với nhà Đại Thanh; nhưng con cháu Hồ Chí Minh lại khiếp nhược trước đế quốc Tàu Cộng!

4- Người dân Việt trong nước, và hải ngoại phải làm gì để cứu nước Việt khỏi nạn Hán hóa?

Trong cuộc tranh đấu gian khổ này, người dân trong nước phải giữ vai trò chủ yếu.  Đây là lực lượng đông đảo nhất, là nạn nhân trực tiếp của chế độ, bị giới lãnh đạo CS lừa dối nhiều chục năm nay, từ thời chiến tranh chống Pháp, thời “đánh Mỹ cứu nước”, cho đến thời “xây dựng chủ nghĩa xã hội” cho toàn nước Việt Nam sau 1975.  Họ chứng kiến sự phản bội của Đảng CS đối với đất nước và dân tộc Việt,  những tội ác tầy trời của giới lãnh đạo CS từ trung ương đến địa phương, trong mọi lãnh vực của đời sống.

Nhiều tầng lớp dân chúng đã lên tiếng phản kháng.  Cách đây nhiều năm, luật sư Lê Chí Quang đã viết bài “Hãy cảnh giác với Bắc triều”, để rồi bị trừng phạt bằng bản án 4 năm tù giam.  Rất nhiều trí thức, nhà tu, nhà báo, nhà văn, cho đến giới thanh niên, sinh viên, phụ nữ…đã lên tiếng đòi dân chủ, nhân quyền, đòi bảo vệ chủ quyền đất nước, đòi cải thiện đời sống người dân, đòi công bằng, đòi trả lại đất đai, ruộng vườn… Trí thức viết kiến nghị đòi thay đổi hiến pháp để bảo đảm dân chủ; đảng viên CS cũng viết thư ngỏ lên giới lãnh đạo CS cảnh báo tình trạng lâm nguy của đất nước. Thậm chí một số đảng viên đã bỏ Đảng để hy vọng “mở mắt” cho Đảng.  Tuy nhiên, tất cả các hình thức tranh đấu ôn hòa này đều không đem lại kết quả cụ thể nào.  Nhiều người ý thức được rằng đã đến lúc không còn tranh đấu ôn hòa được nữa, vì Đảng CSVN không hề biết lắng nghe ý dân.  Họ coi dân là nô lệ, chứ không phải chủ nhân thực sự của đất nước.

Nếu chọn con đường cứu nước, thì người dân phải chịu hy sinh, chịu đổ máu, mới có thể giành lại quyền bính đang nằm trong tay Đảng CS.  Hãy nhìn tấm gương của người dân  nước Rumanie trước đây; và ở các nước Tunisie, Ai Cập, Iraq, Libya mới đây.  Để đập tan các chế độ độc tài, người dân đã phải chịu biết bao hy sinh.  Họ phải đổ máu mới tiêu diệt được các nhà độc tài.  Đừng hy vọng sẽ có một cuộc cách mạng nhung êm đềm, không đổ máu tại Việt Nam.  Đừng hy vọng CSVN sẽ thoát xác, trở về đồng hành cùng dân tộc.  Đây chỉ là niềm hy vọng hão huyền, khiến cuộc cách mạng thực sự vì tự do, dân chủ, nhân quyền tại VN không có cơ may thành công.

Người dân trong nước cũng phải dựa vào sức mạnh của chính mình.  Nếu chỉ trông mong vào sự trợ giúp của ngoại bang,  theo kiểu ngồi chờ sung rụng, chờ chính phủ này, chính phủ nọ bật đèn xanh…, thì cuộc tranh đấu của toàn dân sẽ lâm vào bế tắc, vì chúng ta cần nhận thức một điều, chẳng ai thương nước Việt bằng chính người dân Việt, và nước nào thì cũng phải hành động vì quyền lợi của chính họ mà thôi.   Chúng ta chưa quên bài học cay đắng về “liên minh quân sự giữa Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ” trước đây, nên chúng ta cũng đừng trông mong dựa dẫm vào Mỹ để mà  “thoát Trung”, như một số “chính trị gia” đề nghị.   Nếu người dân Việt không lợi dụng cơ hội có được ngày hôm nay, không nhất tề đứng lên lật đổ chế độ CS phản quốc, hại dân, giành quyền sống cho chính mình, thì tình hình VN sẽ chẳng có gì thay đổi.  Chẳng có thế lực quốc tế nào sẽ nghĩa hiệp đứng ra bảo vệ chủ quyền cho VN chống Tàu cả!  

Tại hải ngoại, đa số người Việt tỵ nạn CS,  vẫn kiên định lập trường chống Cộng, chủ trương phải giải thể chế độ CS mới giúp lịch sử VN sang trang.  Vì chỉ là thiểu số trong cộng đồng dân tộc, lại định cư rải rác khắp nơi trên thế giới, người Việt hải ngoại chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ cho công cuộc tranh đấu của người dân trong nước.  Tuy nhiên thể chế dân chủ tại hải ngoại cũng tạo cơ hội cho nhiều thành phần CS nằm vùng, bọn Việt gian tay sai CS, và bè lũ thân Cộng nói và làm nhiều điều có hại cho công cuộc tranh đấu dân chủ hóa nước nhà, giúp mua thời gian cho VC, giúp chúng kéo dài sự thống trị tại quê nhà.

Tại hải ngoại, đối với tổ chức đảng phái nào chủ trương “dùng phương thức bất bạo động để tháo gỡ độc tài, để tranh đấu cho đa đảng”; hay nhà “tranh đấu” nào chỉ dám “dùng thỉnh nguyện thư” để đòi hỏi nhân quyền, “không chủ trương lật đổ chế độ CS độc tài, mà chỉ đòi hỏi CS phải trả nhân quyền cho người dân VN”… , người Việt hải ngoại cần cảnh giác, nhất quyết không tin theo họ, không ủng hộ họ, không tham gia các hình thức sinh hoạt “tranh đấu” của họ.

Tất cả những gì các tổ chức đảng phái, cá nhân, cùng phe nhóm nói trên cổ động đều chỉ là bánh vẽ.  Đường lối tranh đấu chính trị như thế là sai lầm, không giúp cuộc tranh đấu dân chủ hóa nước nhà đi đến thành công.  Trong hoàn cảnh dầu sôi, lửa bỏng của nước Việt hiện nay,  bất cứ hành động nào giúp CSVN giữ được quyền bính, giúp kéo dài sự cai trị của chúng tại VN đều là những hành động tiếp tay cho tà quyền CSVN, là đồng lõa với giặc Cộng trong việc bán nước, hại dân.  Hành động như vậy là mang tội phản quốc, không thể tha thứ được.

Riêng chúng ta, người cựu sinh viên sĩ quan TVBQGVN,  lúc này hơn bao giờ hết nên đoàn kết một lòng, góp chút công sức vào công việc chung của người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại.  Nhiệm vụ của chúng ta với đất nước và dân tộc chưa hoàn thành, nên làm được chút gì cho quê hương, cho công việc dân chủ hóa nước nhà, chúng ta không thể thờ ơ.  Một con én không làm nổi một mùa xuân; nhưng nếu tập thể Võ Bị cùng đồng tâm hiệp sức, bỏ qua những bất đồng nhỏ;  nhiều bàn tay cùng góp lại, chắc chắn công khó của chúng ta sẽ đem lại những điều đáng khích lệ.  Qua 19 kỳ Đại Hội Võ Bị tại hải ngoại, tập thể cựu sinh viên Võ Bị vẫn kiên định lập trường quốc gia, giữ vững tôn chỉ đúng đắn của Tổng Hội là: duy trì lằn ranh Quốc-Cộng; không hòa hợp, hòa giải với CS dưới bất cứ hình thức nào; quyết tranh đấu quang phục một quê hương VN dân chủ, tự do, không CS.  Con đường đúng đắn đã được vạch ra, và không hề thay đổi.  Chúng ta cần hỗ trợ nhau tiếp tục cuộc hành trình này.

Để kết luận, cuộc tranh đấu chống Cộng Sản của quân, dân miền Nam trước đây, và cuộc tranh đấu của người dân Việt yêu nước chống chế độ Cộng Sản độc tài hiện nay là một cuộc tranh đấu có chính nghĩa.  Đây chính là cuộc cách mạng đích thực để lật đổ CSVN, lực lượng phản động nguy hiểm nhất trong lịch sử nước nhà.  Lực lượng này có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng bạo lực cướp chính quyền, và giữ chính quyền; biết dùng  thủ đoạn đánh lừa quần chúng; lại độc ác, sẵn sàng khủng bố người dân bằng mọi hình thức.  Bọn lãnh đạo CS phản động này đã và đang bán nước Việt cho Tàu; trơ trẽn gọi giặc Tàu là bạn, và coi dân Việt là thù.  Như vậy, lúc này, ai đã trở thành giặc đối với người dân Việt? Tàu Cộng là giặc ngoại xâm.  Lãnh đạo CSVN là giặc trong nhà.  Con đường người dân Việt phải chọn đã quá rõ ràng.  Theo quy luật lịch sử, các chế độ độc tài, mất lòng dân sẽ không thể tồn tại.  Tuy nhiên, vì CSVN là một kẻ thù hung hiểm, nên con đường cứu nước mà chúng ta chọn lựa sẽ rất khó khăn.  Nó đòi hỏi chúng ta phải tranh đấu lâu dài, phải kiên định lập trường, và phải chịu nhiều hy sinh.