XỨ BẮC HÀ THỜI LÊ MẠT – HỒI 1

Phim Xứ Bắc Hà thời Lê mạt - Đêm hội Long TrìPhim Xứ Bắc Hà thời Lê mạt – Đêm hội Long Trì

KIẾN HÀO

Nói về triều Lê Trung Hưng (1533 – 1786), khi Chúa Trịnh Tùng giúp vua Lê Thế Tông lấy lại kinh thành Thăng Long năm 1592, bắt giết cha con Mạc Mậu Hợp và đuổi dư đảng họ Mạc chạy lánh lên Cao Bằng, thì thanh thế Nam triều nổi lên rất mạnh nhưng cũng từ đó vua Lê bị họ Trịnh quản chế, bức bách rất ngặt; mọi chuyện đều không được tự chuyên, nhà vua chỉ còn khoanh tay rũ áo ngồi giữa triều đình, như bù nhìn giữ dưa ngoài ruộng. Đến năm 1599, Trịnh Tùng ép vua Lê Thế Tông phải phong Vương cho mình, được mở phủ đệ và bộ máy quan lại riêng. Từ đấy chính sự trong nước do Tùng quyết định, của cải, thuế khóa, quân lính… hết thảy đều dồn về phủ chúa. Muốn đưa vua nào lên ngôi là tùy quyền định đoạt của họ Trịnh; cũng như việc bổ nhiệm , thăng thưởng quan lại không cần báo trước…nên việc chúa hiếp chế vua mãi rồi mọi người đều xem là sự thường.
Kịp đến khi Trịnh Sâm lên ngôi (1767), nghiệp chúa đã truyền qua tám đời [1] , trải hơn hai trăm năm; chế độ Lê – Trịnh đã bộc lộ hết những mặt yếu kém : kỷ cương phép nước bị xem thường, tình trạng lấn chiếm đất đai làm của riêng cho gia đình và họ tộc của quan lại triều đình, thổ hào địa phương ngày càng trầm trọng; cộng thêm nạn tham nhũng mua quan bán tước, nhất là chính sách ức thương đã đưa Đàng ngoài vào cuộc khủng hoảng mới. Đời sống nhân dân sa sút nghiêm trọng.

Bất lực trong việc quản lý các công trình đê điều, các chúa Trịnh phó mặc cho quan lại địa phương thu tiền của dân và thuê người làm. Các quan lại nhân đó tha hồ vơ vét tiền của. Lụt lội, mất mùa xảy ra liên tiếp, gây ra những nạn đói lớn trong dân. Năm 1730, đê Hưng Yên bị vỡ, nước sông Nhị tràn ngập gây lụt lội. Những năm 1740, 174, đói to ở các trấn đồng bằng, người dân phiêu tán dắt díu nhau kiếm ăn đầy đường. Làng xóm điêu tàn, kinh tế suy sụp, sức sản xuất bị tàn phá, nông dân bị lưu tán hoặc chết đói, chết bệnh đầy đường, người sống hoặc đi tha phương cầu thực, hoặc cố gắng cùng nhau khai phá đất hoang của các làng lân cận. Thế kỷ 18, Đàng ngoài chứng kiến bốn cuộc khởi nghĩa nông dân : Nguyễn Danh Phương ( 1740 – 1751), Nguyễn Hữu Cầu (1741 – 1751), Hoàng Công Chất (1739 – 1769), Lê Duy Mật ( 1738 – 1770). Các cuộc khởi nghĩa này đã góp phần đẩy chế độ Lê – Trịnh nhanh chóng đi vào sụp đổ .

Trịnh Sâm chuyên quyền, giết Thái tử, say mê nữ sắc :

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Thái tử Lê Duy Vĩ có lần cùng với Thế tử Trịnh Sâm gặp nhau ở phủ đường, được chúa Trịnh Doanh giữ lại ban cơm, hai người cùng ngồi chung một mâm. Bà chính phi họ Nguyễn, vợ của Trịnh Doanh, cũng là mẹ vợ Thái tử, ngăn lại và bảo rằng :

 Thái tử và Thế tử, danh phận là vua tôi, sao lại có thể cùng ngồi chung một mâm được.

Bèn sai người đưa Thế tử sang mâm khác. Tan bữa cơm ra về, Thế tử ngoảnh lại bảo với mọi người rằng :

– Vua ấy cũng không nên cùng đứng chung với chúa này, thề phải có một người sống một người chết, mới xong.

Khi lên ngôi chúa, Trịnh Sâm bèn sai hoạn quan Phạm Huy Đỉnh vu cho Thái Tử tư thông với một người thiếp của Trịnh Doanh, rồi đem tội đó tâu lên Hoàng thượng để bắt Thái tử bỏ ngục. Thái tử biết trước bèn trốn vào chổ ngũ của vua, có kẻ báo với Huy Đỉnh; hắn bèn vào thẳng cung điện của vua, hạch tội Thái tử và đòi người :

– Tôi nghe Thái tử náu trong tẩm điện của bệ hạ, xin hãy bắt giao cho tôi.

Nhà vua ôm lấy Thái tử không nỡ rời, bọn Huy Đĩnh bèn quỳ mãi dưới sân điện. Liệu bềkhông thoát nổi, Thái tử liền khóc lạy Hoàng Thượng rồi ra chịu trói. Về đến phủ chúa, Phạm Huy Đỉnh bắt Thái tử cởi mũ nhận tội. Thái tử không chịu, nói rằng :

– Bỏ vua này, lập vua khác, làm chuyện bạo nghịch giết vua là thói quen của chúng mày, ta có tội tình gì đâu ? Việc này sẽ có sử xanh ghi chép lại cho ngàn đời rõ.

Trịnh Sâm giả thác là có mệnh lệnh của nhà vua, truất Thái tử làm thứ nhân, đem giam vào ngục. Được ít lâu, bọn tay chân Huy Đỉnh lại vu cáo Thái tử âm mưu vượt ngục, phải ghép vào tội giảo. Ngày hành hình, già trẻ trai gái ở kẻ chợ không ai là không rơi nước mắt. Ấy là ngày 20 tháng chạp năm Tân Mão, niên hiệu Cảnh Hưng (1771).

Trịnh Sâm hạ lịnh tịch thu sắc mệnh của vua ban cho Trần Hoàng hậu là mẹ của Thái tử (đã mất). Như vậy trong lịch sử đã có ba lần chúa Trịnh giết vua Lê : Trịnh Tùng giết vua Lê Anh Tông, Trịnh Giang giết Lê Đế Duy Phường và Trịnh Sâm giết Thái tử Lê Duy Vĩ. Nguyên khi Thái tử bị bắt, thì một người đàn bà trong cung bế các con của Thái tử chạy trốn về phía Hà Tây, vào ngũ nhờ nhà một người dân ở làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm. Người dân này đêm trước đã mơ thấy có người bảo rằng :

– Mày phải quét rửa nhà cửa sân đường cho sạch sẽ, thiên tử và Thái hậu sắp sửa tới nơi”.

Tỉnh dậy hắn nghĩ bụng : “ Mình là nhà dân, đâu được cái may mắn có các bậc chí tôn ngự tới ?”. Rồi suốt ngày hôm đó, hắn ta chắp tay đứng đợi ở ngoài cổng nhưng đợi mãi mà vẫn chả thấy một ai. Đến xẩm tối mới thấy một người đàn bà bồng con xăm xăm tiến đến trước cổng xin ngũ nhờ ; hắn ta liền đón ngay vào trong nhà và mời ngồi lên chiếc phản cao nhất. Sau khi đã kể qua câu chuyện chiêm bao cho người đàn bà nghe, hắn ta lại nói :

– Cứ theo giấc mộng đêm qua của tôi như thế thì bà và các cậu đây hẳn phải là dòng dõi quý tộc nếu không phải thân thích nhà vua, ắt cũng là họ hàng nhà chúa !

Người đàn bà đó chính là cung phi họ Nguyễn, nghe nói vội gạt đi mà rằng :

– Câu chuyện chiêm bao, có gì là bằng cứ. Bác đừng nói nhảm, đó là việc chết người chứ không phải chuyện chơi đâu !

Ngay sớm hôm sau, mấy mẹ con lại từ giã chủ nhà mà ra đi. Nhưng chẳng bao lâu, bị người ta dò theo tông tích bắt được đưa về an trí ở trấn Sơn Tây, rồi lại bị giải về Kinh và bị giam ở ngục Đề lĩnh. Đó là ba hoàng tôn Duy Kỳ (Khiêm), Duy Trù và Duy Chỉ .

Có một hôm, tiệp dư Trần Thị Vinh [2] sai nữ tỳ Đặng Thị Huệ bưng một khay hoa đến trước nơi Trịnh Sâm ngồi. Ả họ Đặng này, quê ở làng Phù Đổng, mắt phượng mày ngài, vẻ người mười phần xinh đẹp. Chúa nom thấy rất bằng lòng, bèn tư thông với ả. Năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777 ), ả sinh cho chúa một đứa con trai, được đặt tên Cán. Hai mẹ con được Trịnh Sâm rất yêu mến nên từ đó Thị Huệ nuôi lòng cướp ngôi Thế tử cho con, mặc dù khi ấy ngôi Thế tử đã an định.  (CÒN TIẾP)

KIẾN HÀO


Chú thích :

  1. Mười hai đời chúa Trịnh gồm : Trịnh Kiểm (1545-1569), Trịnh Tùng (1570-1623), Trịnh Tráng (1623-1657), Trịnh Tạc (1657-1682), Trịnh Căn (1682-1709), Trịnh Cương (1709-1729), Trịnh Giang (1729-1740), Trịnh Doanh (1740-1767), Trịnh Sâm (1767- 1782), Trịnh Cán (1782 ), Trịnh Tông (1782- 1786 ), Trịnh Bồng (1786 ) .
  2. Một cấp bậc vợ vua thấp hơn hậu , phi, tần nhưng cao hơn mỹ nhân.

KIẾN HÀO

Trở về Trang Kiến Hào  * HOME

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s