XỨ BẮC HÀ THỜI LÊ MẠT – Hồi 3

Phim Xứ Bắc Hà thời Lê mạt – Đêm hội Long Trì

KIẾN HÀO
— — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — — —

Loạn kiêu binh
Lại nói từ thời Lê Trung Hưng, triều đình có lệ thường tuyển lính bảo vệ hoàng cung và phủ chúa từ hai đất thang mộc là Thanh Hoa – Nghệ An. Thanh Hoa (từ thời Minh Mạng gọi là Thanh Hóa) được chia làm hai phủ là Tĩnh Gia và Hà Trung, còn Nghệ An chỉ có một phủ là Anh Đô. Nên lính Thanh – Nghệ còn được gọi là quân tam phủ hoặc ưu binh. Chế độ đãi ngộ cũng cao hơn lính tuyển bốn nội trấn (Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam và Hải Dương) gọi là nhất binh.

Một tháng sau ngày Trịnh Cán lên ngôi chúa, một hôm có tên bề tôi của Trịnh Tông là Dự Vũ lẻn vào nơi tụ tập uống rượu của bọn ưu binh, khéo léo dùng lời lẽ kích động bọn chúng chống lại Quận Huy và tôn phò Thế tử Trịnh Tông. Mọi người đều reo hò hưởng ứng, tên Biện lại của đội quân Tiệp bảo là Bằng Vũ đứng lên nói :

– Nếu mọi người đồng lòng thì chẳng qua chỉ cần đợi xong lễ tế buổi sáng, đánh ba hồi trống trong phủ làm hiệu, rồi nhất tề kéo đến lôi nó xuống vứt dưới thềm là xong thôi mà !

Lại có tên nho sinh Bùi Bật Trực nêu ý kiến :

– Đây là việc hệ trọng, nên nhờ Quốc cữu Viêm Quận công Nguyễn Trọng Viêm tâu với Thánh mẫu (mẹ Trịnh Sâm), nếu chẳng may (Hoàng) Đình Bảo biết được thì cứ bảo là có mật lệnh của Thánh mẫu, việc gì minh bạch cũng hay hơn.

Bà Thánh mẫu (gọi đúng là Trịnh thái phi họ Nguyễn) không muốn binh sĩ làm kinh động nên sai người đến thuyết phục Quận Huy tạm thời cho Trịnh Tông tạm giữ ngôi chúa cho yên lòng quân sĩ. Quận Huy cương quyết cự tuyệt. Thế là tất cả phó mặc cho quân sĩ muốn làm gì thì làm.

Sáng ngày 24 tháng 10, lễ cúng cơm bữa sáng vừa xong, Bằng Vũ lẻn vào trong phủ đánh luôn ba hồi chín tiếng trống. Quân sĩ ồ ạt xông vào, phá tan cửa phủ, lôi Quận Huy từ trên mình voi xuống, thi nhau đánh đập đến chết. Em Quận Huy là Khanh Quận công Hoàng Lương cũng bị loạn quân giết chết. Quân sĩ kéo nhau đến nhà giam, phò Thế tử Tông lên phủ đường. Trong lúc gấp gáp, họ dùng tạm chiếc mâm cỗ đặt Thế tử ngồi lên, rồi tám người kề vai vào khiêng, có lúc lại kê cao mà đội trên đầu, khi mõi lại hạ xuống vai, cứ thế suốt một chặp trong tiếng reo hò không ngớt của quân sĩ và dân chúng đứng chật sân
phủ đường.

Sắc chỉ của nhà vua sau đó phong Trịnh Tông làm Nguyên soái, tước Đoan Nam Vương, truất Trịnh Cán làm Cung Quốc công, nhưng chỉ mấy hôm sau thì Cán đã chết vì bệnh. Quân sĩ thả cửa cướp bóc, phàm những ai thuộc bè đảng họ Đặng và họ Hoàng cùng những người can dự vào việc tố cáo vụ án năm Canh Tý đều bị quân sĩ phá tan nhà cửa, việc lùng bắt giết người diễn ra ngay giữa ban ngày, không cần xét xử. Kinh thành bị náo động đến mấy ngày mới yên.

Triều đình định công ban thưởng, tất cả quân sĩ ưu binh đều được ban thưởng tiền bạc, đặc biệt những người khởi xướng đều được thăng chức. Tuy nhiên do cậy công nên bọn kiêu binh này ngày càng quá quắt, nhúng tay vào cả những việc của chính phủ như tố tụng, hoặc thay đổi nhân sự. Luật lệ chỉ ràng buộc được họ một cách lỏng lẻo mà thôi. Hai tháng sau ngày khởi loạn của kiêu binh, những đại thần nhận cố mệnh giúp rập Trịnh Cán đều bị bãi chức. Vợ và hai con quận Huy bị giam vào ngục, bị Trịnh Thái phi trả thù hành hạ đến chết, kể cả Đặng Thị Huệ cũng bị bức phải uống thuốc độc tự vận.

Tất cả những kẻ tố giác vụ án năm Canh Tý đều bị bắt làm tội, trừ Ngô Thì Nhậm không biết trốn đi đâu. Còn những người đã bị chết vì vụ án thì được truy phong chức tước và lập đàn chay cầu siêu giải oan. Riêng có viên trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Khản (hay còn gọi Nguyễn Lệ), con Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền huyện
Nghi Xuân* , đã bị Trịnh Sâm xử tội chết trong vụ án năm Canh Tý nhưng nhờ trong ngục làm bài Tự Tình khúc, kể lại công lao giúp chúa từ thời thơ ấu, nhờ người lén đưa giấu cho Trịnh Sâm. Đọc xong, Trịnh Sâm động lòng thương nên đặc cách cho giảm nhẹ tội, chỉ bắt giam.

Khi ấy, Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ (con của Thái tử Lê Duy Vĩ đã bị Trịnh Sâm bức chết năm xưa) nay đã 17 tuổi, vẫn còn bị giam trong ngục. Nhân khi phò Thế tử Tông làmchúa, quân sĩ cũng mang kiệu tới nhà giam rước hoàng tôn về cung vua. Bà Trịnh Thái phi sợ Thái tử Lê Duy Cận mất ngôi đông cung, bèn âm mưu triệu hoàng tôn vào cung rồi sai người bức hoàng tôn phải nằm lên cáng, định đem đi dìm xuống sông. Trên đường đi, nghe tiếng kêu la trong cáng, lính canh sinh nghi quát dừng lại. Bọn phu kiệu bỏ chạy, nhờ đó hoàng tôn thoát nạn. Bọn lính kéo nhau vào phủ, muốn tìm cho ra kẻ chủ mưu, thấy chiếc kiệu Thái tử để trong sân, quân lính tức giận phá tan chiếc kiệu. Thái tử Cận hoảng sợ phải cải trang làm thường dân mà lẻn về cung.

Trịnh Tông biết việc đó là do bà mình làm ra, muốn yên lòng quân sĩ bèn tâu vua xin lập Hoàng tự tôn làm Thái tử, truất Thái tử Cận làm Sùng Nhượng công. Đến đây lại phát sinh một nhân vật hiểm giảo nữa là Mai Doãn Khuê, người La Sơn Nghệ An, vì muốn lập công với họ Trịnh, bèn vu cho bọn kiêu binh đang âm mưu tôn phò Thái tử Lê Duy Kỳ lên ngôi vua, bỏ hết quyền bính của chúa, để họ càng được tự tiện hơn nữa. Trịnh Tông tin là thật, bắt đầu có ý nghi ngờ Thái tử và bọn kiêu binh.

Một hôm, bọn kiêu binh họp nhau, cậy công đã rước hoàng tôn về nên kéo nhau đến sân điện, xin hoàng thượng ban thưởng. Nhà vua sai người đánh cá hồ Sen lên, chọn lấy cá trắm làm gỏi thết đãi cả bọn, định sẽ từ từ bàn đến ban thưởng. Có kẻ biết chuyện, nhanh chân chạy báo cho phủ chúa. Bọn Dương Khuông và Nguyễn Khản bèn tâu chúa xin phái quân đến bắt giết đi.

Chúa Trịnh sai viên Thủ hiệu đội Nhưng nhất là Triêm Vũ hầu dẫn quân sang sân điện vây bắt. Bọn kiêu binh đang ăn uống, thấy quân lính tới bèn bỏ chạy tán loạn. Triêm Vũ hầu dẫn giải bảy tên bị bắt về phủ chúa, khép vào tội tự tiện xâm nhập hoàng cung, phải tội chém đầu. Sau vụ này, kiêu binh tức giận bàn với nhau :

– Có được triều đình cung vua phủ chúa ngày hôm nay là nhờ công chúng ta. Nay họ lại trả oán như thế, nếu cứ nín nhịn mãi thì có khác gì bó đũa bị bẻ từng chiếc ?

Hôm sau vào buổi tan chầu, cả bọn kéo nhau đến phá tan nhà Nguyễn Khản, Dương Khuông và Triêm Vũ hầu. Tìm không thấy người, biết Dương Khuông và Triêm Vũ hầu đã trốn vào phủ chúa, cả bọn bèn kéo sang phủ chúa đòi bắt. Trịnh Tông cùng Dương thị (mẹ Trịnh Tông, chị ruột Dương Khuông) phải đem tiền ra chuộc mạng cho Dương Khuông, còn Triêm Vũ hầu theo lịnh Trịnh Tông đành phải tự ra nộp mạng cho kiêu binh, chỉ một lát sau đã bị chúng dùng gạch đá đập chết. Riêng Nguyễn Khản đã nhanh chân chạy lên Sơn Tây trốn thoát.

Quân lính vẫn chưa đã nư, bèn yêu cầu chúa xét lại vụ án vừa qua. Nguyễn Khải, Dương Khuông đều bị bãi chức làm dân thường. Bảy tên lính bị chém đều được đền mạng. Từ đó, kiêu binh lại càng ngông nghênh, ngoài đường phố họ cứ giăng tay đi, các quan gặp phải đều phải quay xe tránh đi lối khác. Kỷ cương phép nước bị xem nhẹ, hở một chút là bọn kiêu binh dọa sẽ phá nhà hoặc giết chết. Thậm chí, cả đến việc thay đổi các quan văn võ cũng phải hỏi quân sĩ mới xong, việc nước không sao tính nổi.

Nguyễn Khản trốn thoát lên Sơn Tây, nơi có người em là Nguyễn Điều đang làm Trấn thủ. Cả hai bàn nhau viết tờ mật khải gởi Trịnh Tông xin hẹn ngày hội quân bốn trấn về Kinh diệt kiêu binh. Không ngờ kế hoạch đang dở dang thì bị lộ, kiêu binh quản thúc rất ngặt, đúng ngày 28 tháng giêng nhuận năm đó, thuyền của Hoàng Phùng Cơ từ trấn Sơn
Nam về đậu ở bến Tây Long chờ nhưng Trịnh Tông không thể nào rời khỏi phủ được vì bị kiêu binh vây chặt, khám xét từng người ra vào.

Lúc bấy giờ cả kinh thành náo động, dân làng phố kẻ chợ đều dắt díu bồng bế nhau ra ngoài thành chạy trốn. Bọn kiêu binh vừa sợ vừa tức, gọi chúa Trịnh là giặc, rồi họp nhau thành đội ngũ, kéo vào trong phủ tước hết khí giới bọn cấm vệ, suốt ngày đêm chia nhau đi lại rầm rập trên đường, kinh thành hầu như sắp vỡ. Quân các trấn theo hẹn cũng rầm rộ kéo về, dân tình hết sức nhốn nháo. Kiêu binh hai xứ Thanh – Nghệ đóng ở các trấn đều phải bỏ trốn, lúc đi qua làng mạc chúng không dám lên tiếng. Hể kẻ nào buột miệng nói ra thổ âm Thanh- Nghệ , tức thì bị dân chúng bắt giết ngay. Mãi đến khi quân các trấn tự
động bãi binh, ai về xứ nấy thì tình hình mới yên ổn trở lại nhưng cũng từ đó, quân dân coi nhau như cừu thù, mỗi khi ra ngoài thành, quân sĩ phải kéo nhau đi hàng đoàn. Hễ quân sĩ nào mà đi một mình, thường bị dân chúng chặn đường giết ngay.

KIẾN HÀO
(còn tiếp)


Chú thích :

  • Nguyễn Khản là anh cùng cha khác mẹ với thi hào Nguyễn Du.

Trở về Trang Kiến Hào  * HOME