CHUYỆN TRƯỜNG XƯA

 

Có việc đi Thủ, tôi thường chọn đi đường QL 13 cũ, bây giờ người ta quen gọi là “đường trong”, chứ ít khi đi “đường ngoài” là đại lộ Bình Dương, để tránh cái không gian xô bồ, phức tạp đầy khói bụi và còi xe inh ỏi. Ngoài lý do an toàn giao thông, đường trong còn giúp tôi ghé mắt nhìn vào ngôi trường thân yêu cũ, dù đã mang hình hài mới nhưng vẫn gợi nhớ nhiều kỹ niệm. Những kỷ niệm không phải bên bảng đen phấn trắng, mà là những buổi đi chơi suối, cắm trại Vũng Tàu, đá banh dưới mưa to phải vuốt mặt, chui rào nhổ trộm sắn ngoài cánh đồng, ly nước đá đậu chia hai, chia nhau tiền về xe, những buổi trưa hè đi Sài Gòn học thêm Toán Lý Hóa …Rồi còn rũ nhau đi chơi nhà bạn, những cuộc vui chơi khiến tình bạn thêm khắng khít. Năm tháng qua mau, rồi cũng đến lúc chia tay vào đời với nhiều ngã rẽ, những biến cố như những lớp sóng đời xô đẩy, xảy ra dồn dập khiến hồn ai nấy giữ rồi tình bạn cũng phôi pha phôi pha. Xứ Búng hiền hòa với ngôi trường thân thương chỉ còn trong hoài niệm, có lúc nhớ thoáng qua rồi việc khác lấp mất.

Tôi chợt nhớ sau năm 75, trường cũ đã bị xóa tên, trở thành trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý, một nữa thành trường Mẫu Giáo thực hành. Còn trường Nữ thành trường cấp 2 An Thạnh. Tôi có dịp về trường khi học lớp Đại học Sư phạm tại chức khóa 1 tại đây. Phòng thí nghiệm thành giảng đường. Những buổi trưa lười đạp xe về nhà, tôi tha thẩn lên lầu, đi dọc suốt hành lang, nghía vào trong các phòng xem những giường tầng nội trú thay cho bàn ghế năm nào, rồi nhìn xuống sân cột cờ bên dưới. Cảnh cũ còn đây nhưng người cũ phương nao?

Thực ra không chờ đến tổng động viên năm 1972, mà sau năm 1968 thì lớp đã tan đàn xẽ nghé rồi. Đứa sau nối theo đứa trước vào quân trường, chỉ hết đệ tứ nên đi Quang Trung, Đồng Đế chứ làm gì có Thủ Đức. Sống đâu theo đó, bây giờ người thắng cuộc nói gì cũng được, chân lý thuộc về người chiến thắng mà, nhưng với tôi những người bạn đó thật thân thương, dễ mến. Bây giờ người chết thì đã chết rồi, người sống mang thương tật thì ráng thích nghi với nghịch cảnh. Tôi nói “sống đâu theo đó” vì nhớ chuyện nhà của người bạn thân, người cha đi tập kết về kèm theo một vợ hai con ở “ngoải”, đưa mẹ bạn ra tòa ly dị và chia của. Mẹ con bạn phải dọn ra ngoài. Ông trách bà không biết dạy con, để cho con phải đi lính “ngụy”. Tôi rất muốn một lần, được hỏi lại bổn phận làm chồng, làm cha của ông ở đâu ? Dân phố thị mà đi làm cách mạng ? Xin lỗi, hơi bị khó.

Trở lại chuyện trường xưa. Đây là ngôi trường công lập lớn nhứt tỉnh trước 75, là cái nôi văn hóa đã cung cấp cho xã hội mới những kẻ học vấn nhàn nhàn nhưng lý lịch “sạch sẽ” hòa nhập rất nhanh vào bộ máy, leo dần dần lên tầng lớp trung cao …Trình độ đó thì chắc các bạn đã qua lớp lý luận chính trị cao cấp, không biết các bạn có thực lòng tin rằng chủ nghĩa tư bản đang giãy chết ? Đứng dưới lá cờ tuyên thệ, các bạn có tin vào lý tưởng hay xem đó chỉ là một phương tiện ? Hồi tưởng lại, tôi thật kinh ngạc trước những trò đùa của con tạo trước số phận của các bạn cùng lớp. Ví thử hồi đó, có ai nói “nó” sẽ làm giám đốc, quận trưởng, trưởng ty …còn “nó” sẽ làm nhân viên quèn, làm nông hay chạy chợ…chắc chẳng đứa nào tin.

Trường mới cất hình chữ U, ba dãy lầu hướng ra sân rộng lát bê tông. Thuở đi học thấy sân trường rộng ơi là rộng, sao bây giờ coi nó hẹp té. Bây giờ học sinh ra vào trường bằng cổng phụ, gần trường tiểu học Cộng Đồng cũ (xưa không có cổng này, đó là nơi vắng nhất của sân trường, cỏ mọc um tùm, là nơi cho thầy Đại Hàn dạy võ), cạnh đó là sân bóng chuyền, nhà để xe…lúc nào cũng nhộn nhịp, còn cổng chánh luôn đóng im ỉm. Đúng là vật đổi sao dời. Tại cánh cổng này, tôi nhớ mỗi sáng, thầy giám thị đứng nghiêm trang xét phù hiệu và áo bỏ trong thùng làm đứa nào cũng ngán. Giờ mới hiểu, ấy chính là “tiên học lễ hậu học văn” thiết thực, chứ không phải ba mớ khẩu hiệu sáo rỗng bây giờ trường nào cũng có, mà học sinh đánh nhau thật dã man.

Tháng năm, trời đã vào hè. Ve kêu râm ran, phượng nở. Mùng năm tháng năm là ngày hội trái cây, ngày này mọi năm mưa đã già,  năm nay không có lấy một giọt. Bầu trời xanh cao, nắng rát mặt, cái nóng hầm hập kéo dài đến tận tám chín giờ tối. Bậc trưởng giả ngồi phòng máy lạnh trốn nóng, nhưng dân tay làm hàm nhai đâu dám bỏ một ngày lao động. Khắp hang cùng hẻm cụt vẫn vang vọng “chưng gai giò đê”, “chai bao bán khoông”  từ sáng đến chiều. Người người trông mưa như ăn mày trông bố thí. Chỉ có ông nhà đèn là khoái chí: doanh thu  tăng vọt bởi giá điện đi ngược quy luật kinh tế thị trường, xài càng nhiều giá càng cao.

Nhưng xét cho cùng, chịu đựng cái nóng oi bức cũng còn đỡ hơn người dân miền tây đang chịu thiên tai : hạn nặng, nước mặn xâm nhập sâu vô trong nội đồng. Ruộng đồng nứt nẻ, cây trồng khô héo, thanh niên trai tráng kéo nhau lên miền đông tìm việc, ở nhà chỉ còn người già và con nít. Mà nghe nói chuyện này sẽ xảy ra dài dài hàng năm đáo lệ chứ không phải cá biệt năm nay. Thật khốn khổ cho người dân ở cái vựa lúa lớn nhất nước, giờ là cái vùng trũng về văn hóa lớn nhất nước, và giao thông tệ nhất nước.

Việt Nam có nền kinh tế thị trường (ít ra trên danh nghĩa) nên hồi này báo chí hay đăng tin ông này bà nọ nhờ tài kinh doanh mà thành tỷ phú, ở nhà triệu đô, siêu xe dăm chiếc, lấy vợ người mẫu, ca sỹ, diễn viên nổi tiếng. Có lẽ nhà nước muốn người dân noi gương. Dân giàu, nước mạnh. Nhưng mỗi sáng xem chương trình “Góc nhân ái” trên VTV, thấy nhiều thảm cảnh thật não lòng, nhà đài kêu gọi lòng hảo tâm của dân chúng, kèm theo là danh sách những người đã đóng góp.Vài trăm nghìn đồng, tuy ít nhưng là mồ hôi nước mắt của người lao động chân chính. So với những đại án tham nhũng trăm tỷ nghìn tỷ thì có thấm thía gì. Chợt nghĩ sao không có luật lấy tiền chuộc mạng ? Của thiên trả địa, lợi cả đôi đường. Lấy tiền đó mà đầu tư vào y tế, giáo dục. Nhìn lượng bệnh nhân quá tải ở các bệnh viện công mà ngao ngán.

Lại nghe nói dân tộc Việt Nam ta vốn có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm, điều đó khỏi bàn. Nhưng dân tộc Việt Nam ta cũng có máu chia rẽ. Chia rẽ từ ngàn năm trước, từ thời bà Âu Cơ. Năm mươi kẻ lên rừng, năm mươi người xuống biển. Bây giờ đất nước thống nhất, yên hưởng thái bình, người ta kêu gọi hòa giải hòa hợp dân tộc. Nhưng không nhắc gì tới những sai lầm trong quá khứ gây khổ lụy hai ba thế hệ, những sai lầm đưa cả đất nước lầm than một thời nhưng không có một lời xin lổi, không cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Mỗi năm đại lễ kỷ niệm càng thêm hoành tráng, tượng đài càng choáng ngợp, cờ hoa bay rợp phố, pháo hoa bắn rợp trời. Như để tăng thêm tính chính nghĩa của người chiến thắng. Như kẻ chiến bại không hề hiện hữu, không phải là một bộ phận của dân tộc. Người ta quên mất cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt và hoàn toàn không có chỗ cho sự độ lượng.Thậm chí, người ta hậm hực với ngay cả những người đã chết nằm trong nghĩa trang. Nội chiến thì đã và sẽ có nhiều nước xảy ra nội chiến, nhưng xưa nay chưa từng có trường hợp nào mà bên thắng cuộc đối xử cạn tàu ráo máng với đối phương như vậy. Ngay nước Campuchia bên cạnh, vốn bị xem là lạc hậu hơn, cũng không có cảnh phân biệt đối xử sau chiến tranh như vậy.

Bốn mươi năm, quá nữa đời người, đã có thể luận bàn chuyện hay dở, đúng sai, được mất nhưng chưa thể hòa hợp hòa giải bởi còn có quá nhiều khác biệt, lời nói không đi đôi với việc làm. Nếu gọi lịch sử là công việc của hậu thế, ghi chép lại những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra như nó vốn có thì hy vọng khi nước lớn láng giềng lộ mặt công khai xâm lược, lịch sử sẽ được viết lại./.

Cựu HS THĐ

Trở về Trang Kiến Hào