THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 4)

CHƯƠNG    4
Tôi hết sức đau lòng khi phải từ biệt cái nghề thầy giáo. Nhưng gặp tình cảnh như vậy tôi biết làm sao? Trở lại Đà Lạt với tâm tư trĩu nặng, tôi thấy mình đã thật sự đổi đời! Từ nay tôi không còn được đứng trên bục để giảng bài. Không còn nhìn được những ánh mắt ngơ ngác hay nghịch ngợm nhưng đầy thân thương của đám học trò tuổi dại mỗi ngày. Không còn những đêm thức khuya để chấm bài. Hết, hết cả rồi!

Về tới nhà cô Hậu tôi thấy người uể oải khác thường. Tôi kêu cửa mấy lần không thấy ai ra mở. Hành lý của tôi chỉ có một cái xách đựng mùng mền và vài bộ đồ. Thấy mang đi mang lại bất tiện, tôi để đại bên cửa rồi đi thẳng ra sạp hàng của cô Hậu. Thấy tôi, cô mừng rỡ hỏi:

– Lễ Noel con về thăm nhà à? Sao về muộn vậy?

Tôi cười đáp:

– Dạ không. Con về luôn rồi cô. Từ nay con phụ buôn bán với cô được không?

Cô Hậu ngạc nhiên:

– Thật không đó? Nếu con nghỉ dạy thật cô giao sạp hàng này cho con đó!

– Con không dám đâu. Nhưng con đã xin nghỉ dạy thật đó cô.

– Vì sao vậy?

– Tối về nhà con sẽ nói chuyện. Cô cho con mượn chìa khóa, đồ đạc con còn để trước cửa sợ người ta lấy mất.

Lấy được chìa khóa, tôi lật đật trở về nhà. Nhưng xách đồ tôi để bên hiên đã biến đâu mất. Trong nhà vẫn không có ai. Tìm quanh quất một hồi vẫn không thấy, tôi đành trở ra sạp hàng nói cho cô Hậu biết. Cô nói:

– Cái xứ này trước đây đâu có chuyện đó! Bây giờ nó trở chứng. Trong xách có gì nhiều không con?

– Dạ, vài thứ lặt vặt, mùng mền với mấy bộ đồ thôi.

– Thôi, để rồi mình sắm lại. Con ăn chi chưa? Cô có bới đồ ăn đó, cô cháu mình ăn với nhau một miếng rồi nói chuyện.

Sau khi nghe tôi kể xong chuyện xảy ra ở trường Đồng Tiến, cô Hậu nói:

– Vậy cũng tốt thôi. Thật tình trước đây cô cũng muốn con ở nhà để buôn bán với cô. Nhưng thấy con có vẻ lưu luyến cái nghề thầy giáo quá nên cô không dám bàn. Thôi bây giờ con cứ phụ giúp cô một thời gian. Khi nào có ai sang sạp hàng cô sẽ sang để con làm chủ. Không đói đâu mà ngại.

Buổi tối về không thấy hai bà bạn của cô, tôi hỏi:

– Bà Hương bà Tằm ở đâu không thấy cô?

– Đi chỗ khác rồi!

Thằng Sơn đứng gần đó cười mím:

– Cái huê của mẹ em sạch rồi họ ở lại làm chi nữa!

Cô Hậu cười mà nạt Sơn:

– Mày biết cái gì mà nói?

Đêm đó nói chuyện với cô Hậu tôi mới biết thêm được hai người đàn bà đó chính là những cán bộ thu thuế ở chợ Hòa Bình trước 1975. Rất nhiều cơ sở buôn bán có máu mặt ở thành phố này đã nộp thuế cho cách mạng ngay trong thời gian chính quyền quốc gia đang cai quản. Nghe đến đây tôi ngạc nhiên hỏi:

– Thế bên quốc gia người ta không biết à?

– Cô cũng không rõ. Nhưng những người đóng thuế cho cách mạng họ cũng muốn yên thân để làm ăn, họ không chịu nói ra thì bên quốc gia cũng khó mà biết.

– Thế có ai không chịu đóng thuế cho họ không cô?

Cô Hậu đặt ngang một bàn tay trước cuống họng – ngụ ý cắt cổ, nói:

– Họ đã tới hỏi ai mà dám không đóng!

– Thế cũng có nhà buôn bán có thân nhân là quân đội, cảnh sát bên quốc gia họ cũng chịu yên phận vậy sao?

– Với những nhà đó thì người của cách mạng đâu có thu thuế!

Gặp lúc thằng Sơn đi ngang qua, nó nói với tôi:

– Mẹ em nhát gan lắm chị! Mười mấy năm nay đóng không biết bao nhiêu tiền thuế cho họ. Chị biết mẹ em còn giữ cả một xấp biên lai dày cộm không?

Tôi hỏi cô Hậu:

– Thật vậy hả cô?

Cô Hậu không trả lời tôi mà nạt thằng Sơn:

– Cái thằng hay tọc mạch! Tao có để tụi bây đói ngày nào đâu?

Tôi hỏi lại cô Hậu:

– Hai bà ấy ở thành phố như vậy sao lại có vẻ như bị sốt rét vậy cô?

– Họ đâu ở thành phố mãi! Ai cũng chỉ hoạt động được một thời gian ngắn là bị động ổ, phải rút vào rừng. Tất nhiên sẽ có người khác thay thế tiếp tục công tác!

– Thế cái chuyện cả tiểu đoàn hay trung đoàn bộ đội chi đó sống nhờ vào số muối lấy trong phân cá có đúng không cô?

– Thằng Sơn nói với con à? Cái thằng này coi chừng mất chỗ đội mũ đó mày!

Bây giờ tôi mới hiểu thêm! Không ngờ họ hoạt động ngay trên phần đất do quốc gia kiểm soát như vậy, trách gì miền Nam sau này không bị rơi vào tay họ!

Từ đó, tôi cứ ngày ngày phụ giúp cô Hậu buôn bán, theo dõi tin tức, chờ đợi…

Ngày kia tôi nhận được một lá thư của bà ngoại. Nội dung thư có đoạn như sau:

“… Sở dĩ mẹ phải viết thư cho con vì hồi này ba con rất bận rộn. Ba mẹ hết sức trông đợi tin tức của chồng con. Khi nào có tin, con phải cho ba mẹ biết ngay! Sau đây mẹ cũng cho con biết vài tin mừng nhỏ. Thứ nhất, ba mẹ vừa nhận được thư của anh Hảo con từ Pháp gởi về. Anh con đang lập thủ tục để bảo lãnh ba mẹ sang sống ở bên đó. Nếu đi được, ba mẹ có thể giao lại ngôi nhà ba mẹ đang ở hiện nay cho con. Thứ hai, ba con đã được Sở Văn Hóa Thông Tin mời dịch một số sách từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Ba đã dịch thử một cuốn và đã được ông Trường Chinh cùng nhiều viên chức của Sở Văn Hóa Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh hết sức khen ngợi. Cách mạng tỏ ra trọng vọng kẻ trí thức lắm chứ không phải coi thường, kỳ thị như lâu nay mình vẫn nghe sự tuyện truyền của chế độ cũ! Được giao một công việc hợp với khả năng, lại chỉ nhắm mục đích bồi bổ cho nền văn hóa dân tộc, ba con  vui mừng lắm. Ba con đã làm việc say sưa đến quên cả giờ giấc. Mẹ chỉ hơi ngại vì quá đam mê với công việc, sức khỏe của ba con sẽ bị ảnh hưởng thôi. Mẹ tin  chắc rồi đây ba con sẽ nhận được một số tiền thù lao đáng kể. Khi ấy mẹ sẽ nói với ba trích một phần trong đó để cho con làm vốn…”.

Đọc thư bà ngoại xong tôi thấy như mình được mở cờ trong bụng. Điều lo lắng của tôi, ngoài việc kiếm miếng ăn cho cả gia đình, còn phải làm sao cho anh Thành sau này khỏi mang những mặc cảm tự ti với đời. Tôi đã có kinh nghiệm về sự khổ tâm của những người phải sống nhờ vào kẻ khác. Vì vậy, tôi muốn mình phải có một cơ sở làm ăn vững chắc trước khi anh Thành trở về. Lá thư của bà ngoại đã mang lại nhiều hi vọng cho tôi. Nếu ông bà ngoại đi Pháp được, ngôi nhà của ông bà ở Sài Gòn có thể thuộc về tôi. Sau này anh Thành về sẽ có một chỗ nương tựa vững chắc. Sống ở thành phố lớn này, anh ấy có thể làm nghề bán vé số như một số thương phế binh trước kia đã làm. Còn nếu ông bà ngoại chưa đi được, tôi cũng sẽ nhận được một số tiền tặng của ông ngoại khi người nhận được tiền thù lao về việc dịch sách. Tôi có thể dùng số tiền đó đắp vào vốn để sang một sạp hàng càng sớm càng tốt. Tôi biết cô Hậu sẽ giúp tôi việc này nhưng tôi muốn tự mình làm lấy vẫn hay hơn. Nếu tôi có cơ sở làm ăn sẵn thì anh Thành sẽ có thể tham gia công việc dễ dàng. Như thế gia đình tôi đỡ lúng túng mà anh Thành cũng khỏi mang mặc cảm mình đã trở thành người vô dụng…

Hai hôm sau, cô Hậu từ chợ về hí hửng báo tin mừng với tôi:

– Ngọc ơi, con Lưu nó sắp sang cái sạp hàng của nó đấy. Sạp của nó nằm ngay cửa vô ra chợ mua bán năng lắm. Cô đã bảo nó để lại cho con, cô gởi tiền cọc rồi. Chỉ cần lo tiền để chồng cho nó nữa là xong.

Mừng ơi là mừng, tôi liền nói:

– Dạ, cám ơn cô, buôn bán được con sẽ góp dần tiền vốn lại cho cô!

– Con chưa cần lo, chuyện đó cô còn xoay xở được. Chỉ cần con có công ăn việc làm để nuôi mấy cháu là cô mừng rồi.

Thế là suốt mấy ngày liền tôi cứ khấp khởi mong đợi. Tôi tin cô Hậu đã hứa thì cô nhất định thực hành. Nhưng có lẽ cô đang kẹt! Tôi biết trong thời gian gần đây cô đã tiêu phí rất nhiều tiền cho hai người bạn trong rừng mới ra ấy. Cả cái huê mà cô mới hốt non có thể cũng bay biến cả rồi! Cũng bởi lòng cô rộng rãi quá!

Nào ngờ nỗi mừng mới nhá lên, nỗi buồn lại tranh đến trước. Mấy hôm sau tôi nhận được một điện tín của bà nội từ miền Trung gởi vào:

      “Ba bệnh nặng, con về gấp. Mẹ”.

Đọc xong bức điện tín lòng tôi rối như tơ. Tiền đâu để về thăm ông nội lúc này? Nếu tôi về, lũ con hay nghịch ngợm phá phách của tôi sẽ gởi cho ai được? Nếu đem chúng đi theo sẽ tốn kém nhiều và chúng tôi khó có cơ hội trở lại Đà Lạt nữa! Nhưng nếu không về được thì cũng phải gởi chút tiền chứ! Cả cô Hậu cũng vậy! Ông nội là anh ruột của cô, cô làm sao yên tâm? Thế này thì cơ hội sang sạp hàng của bà Lưu có thể vuột khỏi tầm tay tôi mất!

Sau khi bàn tính việc này, cô Hậu nói:

– Cô đã chạy gần đủ tiền để lấy sạp hàng rồi đó. Nhưng bây giờ anh ngoài nhà lâm bệnh nặng như vậy mình hoãn lại mươi ngày nửa tháng nữa cũng được. Cô cháu mình phải gởi một ít để giúp chị lo thuốc thang cho anh chứ!

Thế rồi cô Hậu đưa một số tiền cho em Lâm đi gởi cho bà nội.

Nhưng chưa lấy được sạp hàng tôi lại nhận được một bức điện khẩn nữa:

      “Ba mất lúc 10 giờ tối ngày… Con về gấp! Mẹ”.

Quả là họa vô đơn chí! Thời buổi này đi đường xa đâu có dễ dàng gì! Nội cái việc đăng ký mua vé xe cũng đã mất hết bao nhiêu ngày giờ rồi. Dù chúng tôi có chắp cánh mà bay cũng không thể về kịp để lo việc tang. Cô cháu tôi đành khóc lóc cầu nguyện cho ông nội rồi lại gởi hỏa tốc một số tiền phụ việc lo đám tang thôi.

Biết tin ông nội mất, một số bạn bè thân thiết của cô Hậu đến nhà thăm hỏi chia buồn. Sau khi nghe cô Hậu nói về tình cảnh của tôi, một bà nói:

– Bây giờ để bà nội ở nhà một mình ngoài Trung cũng bất tiện. Sao cô Ngọc không khuyên bà nội bán phứt nhà cửa để vào đây bà cháu sum họp một nhà có hơn không?

Một bà khác tỏ vẻ rành rõi cãi lại:

– Bán chác gì được mà bán! Bây giờ chứ phải trước kia đâu! Lúc này đất đai ở chỗ nào cũng là của nhà nước cả. Chủ nhà muốn đi đâu cũng phải để lại tất cả cho nhà nước. Có quyền sang nhượng chăng cũng chỉ lấy được tượng trưng chút đỉnh ở cái xác nhà và của cải thôi!

Cô Hậu nói:

– Chị tôi khó lòng chịu bỏ quê hương để đi đâu lắm! Vả cái nhà đó cũng như từ đường để thờ phụng tiên tổ, có khuyên vào ở đây bà cũng chẳng nghe đâu!

Một bà khác lại nói:

– Người Trung người Bắc phần nhiều vậy cả. Dù ở vào cái chỗ làm không ra cái ăn, thế mà bảo đi chỗ khác họ vẫn nhất định không chịu đi bao giờ!

Chính tôi cũng biết như vậy, nhất là với bà nội mấy cháu tôi càng biết rõ hơn. Vì thế khi liên lạc thư từ với bà nội, tôi chẳng hề đề cập tới chuyện này.

Thấy chúng tôi dốc lòng quyết sang sạp hàng nhưng lại gặp tình cảnh khó khăn như vậy, bà Lưu cũng tỏ ra thông cảm. Bà đồng ý giao sạp hàng cho tôi mặc dù chúng tôi chỉ mới chồng được một nửa tiền.

Lấy được sạp hàng cho tôi xong, cô Hậu mừng rỡ nói:

– Thôi, từ nay có chỗ làm ăn đàng hoàng rồi. Con cứ gắng buôn bán kiếm một số vốn sẵn để khi biết thằng Thành ở đâu con có thể đi thăm dễ dàng. Lâu nay thấy con cứ thở ngắn thở dài cô thấy tội cho con quá. Thế nào rồi nó cũng nhắn tin về cho coi!

Sạp hàng này trước kia nghe buôn bán thường ở mức trung bình. Nhưng kể từ ngày sang tay tôi làm chủ nó khá vượt hẳn lên. Ngày nào cũng như ngày nào, từ sáng đến tối tôi lấy hàng, bán hàng không hở tay. Cứ một tuần tôi lại trả thêm cho bà Lưu được một số nợ. Thật ra tôi có thể trả nhiều hơn nữa nhưng tôi sợ người ngoài quở và bà Lưu đâm ra hối tiếc cũng tội. Công việc tuy vất vả nhưng tôi vui mừng lắm. Theo đà này, gia đình tôi chắc chắn sẽ khá lên không mấy hồi.

Nhưng nợ sạp hàng chưa trả hết tôi lại nhận được thư cáo cấp của bà nội. Cũng chỉ là thư kêu gọi tôi phải đem con cái trở về Thiện Trường gấp. Bà nội nói nếu tôi không về, khi bà nội qua đời nhà nước sẽ lấy nhà cho người khác ở. Như vậy anh Thành sẽ không còn nơi thờ phụng tổ tiên! Tôi đem lời bà nội nói trong thư bàn với cô Hậu. Cô là người chân chất hiếu thuận nên khi nghe việc nhà thờ tiên tổ của mình có thể bị tịch thu cấp cho người khác, cô cũng đâm hoảng sợ. Tuy thế, thấy tôi bắt đầu làm ăn khấm khá quá cô cũng tiếc cho tôi. Cô nói:

– Việc mẹ con nói cũng có lý. Nếu để mất cái đất hương hỏa sau này thằng Thành có thể oán trách con. Nhưng hiện giờ con đang làm ăn được, bỏ đi cũng uổng. Theo cô nghĩ, mẹ con cũng chưa đến nỗi nào, con có thể ở lại buôn bán một thời gian để kiếm một số vốn rồi về cũng không muộn!

Thấy cô Hậu nói có lý, tôi bèn viết thư khất lại với bà nội. Thế nhưng vài tháng sau tôi lại nhận được một lá thư khác. Nội dung vẫn là những lời kêu gọi tôi về gấp để giữ ngôi nhà hương hỏa. Nhưng lần này có một đoạn lời lẽ rất khẩn thiết:

“… Từ khi ba con qua đời, người mẹ hay bị nhức đầu, hoa mắt. Nhiều lúc đang đi đâu hay làm gì mẹ lại bị xâm xoàng muốn ngất đi. Đêm nằm một mình mẹ cứ mông mị thấy ma quỷ gì đâu đâu. Có lẽ không bao lâu nữa mẹ cũng phải theo ba con thôi. Nhiều kẻ đang chờ mẹ ra đi đó. Nếu không chịu về cho sớm, con có thể hối hận không kịp!…”

Thế này thì làm ăn gì được nữa! Cũng có thể bà nội ở một mình buồn nên đặt điều ra để kêu gọi con cháu về đấy. Nhưng nếu trường hợp bà nội nói thật thì sao?

Tôi đã đem những suy nghĩ của mình nói với cô Hậu. Người già ở một mình đêm hôm rủi xảy ra chuyện gì cũng nguy hiểm thật. Tôi là con dâu duy nhất trong khi chồng tôi đang lâm hoạn nạn, dĩ nhiên tôi có phần trách nhiệm trong vấn đề ấy! Tuy mới sống với xã hội chủ nghĩa một thời gian ngắn, tôi đã thấy những thực tế khác xa với lý thuyết người ta nêu ra. Trong thời buổi đổi đời hỗn độn này, việc chiếm hữu nhà cửa của những người vắng mặt xảy ra rất thường. Khi mẹ chồng tôi qua đời, nếu mẹ con tôi không có mặt kịp, chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? Tất nhiên những người có khả năng chiếm hữu tài sản của kẻ khác đều là những kẻ có thế lực. Khi chuyện đã xảy rồi, một kẻ cô thế như tôi làm sao thoát khỏi cạm bẫy của họ? Nếu tôi lập được cơ nghiệp ở Đà Lạt, nuôi được các con nên người thì sau này còn có thể dễ ăn nói với anh Thành. Ngược lại, nếu thất bại, tôi sẽ phải gánh chịu trách nhiệm với chồng con về vụ để mất nhà cửa, về vụ bỏ lơ mẹ chồng trong những giờ phút cuối đời. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi đành phải quyết định giã từ Đà Lạt để trở về Thiện Trường.

Rốt cuộc, cô Hậu cũng đồng ý như thế. Tôi đành giao sạp hàng lại cho cô Hậu. Cô đã đền bù cho tôi một số tiền bằng ba lần khi tôi sang nó. Tuy vậy, tôi vẫn tiếc hùi hụi khi phải bỏ một công việc làm ăn đang lên phơi phới để trở về quê cũ, một nơi từng nổi tiếng đói nghèo. Vì thương chồng, vì gia đình chồng, tôi đành nhắm mắt đưa chân!

 

 

 

      CHƯƠNG    5

Cuối tháng 4/76 tôi thật sự giã từ Đà Lạt để trở về Thiện Trường. Thời kỳ này phương tiện di chuyển từ nơi này đến nơi khác hết sức khó khăn. Đường sá hư hỏng quá nhiều chưa tu bổ kịp. Tuyến đường nào cũng đầy ổ gà, mưa thì nước đọng vũng sâu vũng cạn, nắng lên thì bụi ngập như sương sớm. Xe cộ đã ỳ ọp lại luôn chở quá tải, nhét người chật như nêm. Hành khách nhiều người vẫn sợ chuyện đi lại như một cực hình. Mẹ con tôi đã trở về quê hương trong tình hình đó.

Tôi đang ngủ gà ngủ gật trên xe bỗng nghe tiếng anh lơ xe kêu lớn:

– Tới chợ chiều Thiện Trường rồi, chị gì đó xuống đi!

Chiếc xe đò ngừng lại. Người lơ xe ngồi ở trên mui tháo dây buộc đưa xuống một cái va li, một cái giường bố xếp và một bó chiếu. Tôi bước xuống đất với đôi chân tê cứng vì phải ngồi một chỗ quá lâu, lại chịu sức dồn ép từ những người chung quanh bởi xe quá chật nên máu trong người không lưu thông được. Tôi phải vừa vịn vừa chống tay vào xe chốc lát mới đứng vững được. Người lơ xe đứng bên dưới lần lượt bồng ba đứa nhỏ trao xuống cho tôi. Thằng Sửu hăng hái giành vác cái giường bố xếp đã được tôi bó lại. Thằng Tí thì giành vác bó chiếu. Nó phải vất vả lắm mới giữ bó chiếu được thăng bằng trên vai. Tôi khuyến khích chúng:

– Ừ, giỏi! Hai đứa bây vác giùm cho mẹ những cái đó đi. Cứ theo con đường này!

Tôi mang cái xách nhỏ vào vai, tay phải xách cái va li nặng nhọc lê bước. Con Hoa bước theo tôi nhưng tỏ ra không bằng lòng vì nó phải đi tay không:

– Mẹ đưa cái xách con cầm cho!

– Không được. Con cầm lỡ có ai giựt mất làm sao?

Con bé vùng vằng một chút rồi chạy theo hai thằng anh nó.

– Con cứ đếm phía bên này tới cái thứ mười một là nhà mình đó.

Lúc đó khoảng mười giờ tối. Con đường vào xóm dưới ánh trăng trông sáng sủa lạ thường. Những bụi tre um tùm rậm rạp hai bên đường đã được chặt gần hết khiến cho con đường như có vẻ rộng ra nhiều so với trước kia.

– Nhà thứ một… nhà thứ hai… nhà thứ ba…

Thằng Tý đếm nhà số nào con Hoa lập lại nhà số đó. Tôi xách nặng quá nên chỉ biết cắm đầu bước theo các con. Chiếc va li phải chuyển từ tay này sang tay khác lia lịa không biết bao nhiêu lần.

Khi tới dốc cái cổng giếng quen thuộc, tôi ngạc nhiên nghe mấy đứa trẻ đếm tới nhà thứ  chín. Trước đây tôi vẫn thuộc lòng từng đoạn đất cao đất trũng của con đường nhỏ này. Tôi nhớ mồn một từ quốc lộ đến cổng giếng chỉ có sáu cái nhà sao bọn nhỏ lại đếm tới chín? Chúng đếm lộn chăng?

– Nghỉ một chút chờ mẹ với!

Tôi đặt va li xuống đường vừa thở vừa nhìn quanh. Thì ra bây giờ nhiều nhà cũ đã được sửa lại, thêm vào đó lại có nhiều nhà mới được dựng xen vào nên trông khác lạ hơn trước. Mới hơn một năm mà không biết bao nhiêu là thay đổi thế này!

– Thôi, để mẹ đi trước coi đường kẻo lạc.

Dù mệt nhọc, tôi cũng phải gắng nhìn bên này bên kia. Có lúc tôi phải đứng lại thật lâu mới nhận định được đã đến chặng đường nào. Khi đi qua cái ngõ nhà có các bậc cấp hơi cao, tôi nhận ra ngay là nhà ông Sơn. Tôi đặt va li xuống nghỉ tạm, mắt nhìn vào nhà ông Sơn. Đây là một ngôi nhà lớn của một gia đình điền chủ giàu có đã trải qua nhiều đời. Nhà có một cái sân tráng xi măng khá rộng, trước đây gia đình tôi cũng như những người hàng xóm vẫn thỉnh thoảng đến xin phơi lúa, phơi khoai… Đang nhớ lại chuyện cũ, tôi bỗng thấy nhiều người từ trong nhà ông Sơn túa ra, nam có nữ có. Họ nói chuyện ồn ào, nhiều người vội vã chen nhau đi ra ngõ. Mấy đứa nhỏ thấy đông người túa ra thình lình thì sợ hãi chạy tấp lại gần tôi.

Một người đàn bà bước tới nhìn ba đứa nhỏ rồi nhìn tôi hỏi với giọng kẻ cả:

– Chị là ai? Sao đang lúc khuya khoắt lại mang vác đi đâu thế này?

Nghe giọng nói miền Nghệ Tĩnh, tôi hơi ngạc nhiên. Chắc đây là một cán bộ mới vào. Tôi nhỏ nhẹ đáp:

– Dạ, tôi ở Đà Lạt mới về. Nhà tôi ở xóm này.

Một người đàn bà khác nghe nói thế thì bước lại dòm mặt tôi rồi vui vẻ nói với giọng đầy thân tình:

– Trời, cô Ngọc! Tôi cứ tưởng cô đi luôn rồi chứ! Lại đem ba đứa nhỏ về nữa, chắc bác Thắng mừng lắm!

Tôi nhận ra ngay là chị Lâm ở kế nhà. Tôi hết sức mừng rỡ nói với chị:

– Đi đâu mà đi chị! Chẳng qua vì sinh kế em ở tạm Đà Lạt một thời gian thôi. Sống đâu cho bằng ở quê hương mình được! Chị Lâm mới làm gì về thế?

Chị Lâm cười dí dỏm:

– Họp, họp bình bầu, kiểm thảo công tác trong ngày, vạch kế hoạch làm việc cho những ngày sắp tới. Ở Đà Lạt chắc cũng có họp bình bầu kiểm thảo như đây chứ cô Ngọc?

Tôi để ý thấy mọi người ai cũng có vẻ vội vã. Vài người quen biết thấy tôi ở xa mới về cũng đứng lại hỏi thăm. Người đàn bà nói tiếng Nghệ Tĩnh chỉ đứng lại một chốc, có lẽ biết tôi không phải là đối tượng đáng ngại, bà ta bỏ đi.

Thấy một toán người còn đứng giữa đường nói chuyện, một bà vừa đi vừa nói:

– Thôi, ngồi cả buổi chưa đau lưng à? Lo về mà nghỉ một chút đi! Mai còn phải ra ruộng sớm mà!

Ai nấy đều tỏ ra rất quí thì giờ. Mấy người quen với tôi hỏi thăm qua loa mấy lời rồi chào mà đi hết. Chỉ còn chị Lâm và cô Ánh, một cô bé mới lớn vốn quen thân với tôi đứng lại. Cô Ánh ăn mặc lam lũ trông già đi nhiều so với tuổi, cô hỏi tôi:

– Bộ chị Ngọc ở trong ấy làm ăn không được hay sao mà lại về đây để sống cảnh đội đoàn ngày đêm làm tối mặt tối mũi như tụi em thế này?

Nói xong, Ánh lắc đầu mà cười. Tôi cũng cười:

– Trong đó buôn bán cũng đủ ăn chứ không đến nỗi nào. Nhưng mẹ tôi cứ nhờ người viết thư kêu về mãi tôi biết làm sao. Bà nói cũng có lý, ngoài này còn nhà còn cửa, lại lỡ khi bà ốm đau nhờ cậy vào ai? Thế ở đây làm lụng cực lắm hả?

Ánh nhanh nhẩu:

– Chị đã về đây đương nhiên phải vô tập đoàn, ba bốn ngày nữa chị sẽ biết thôi. Đưa cái va li em xách cho một đoạn. Mình vừa đi vừa nói chuyện. Phải tranh thủ về nghỉ chứ sáng mai lại phải đi làm sớm.

Ánh vói tay giành cái va li. Chị Lâm lên tiếng tiếp:

– Cực lắm cô Ngọc ơi! Nhiều đêm cứ thức trắng mắt ra vì cái vụ họp hành này. Nai lưng làm suốt ngày thâm đêm mà không khi nào đủ gạo ăn. Tôi cũng mong tìm được con đường nào để thoát đây!

Chị lại quay sang ba đứa nhỏ:

–  Con đưa bác cầm bó chiếu cho. Tội nghiệp, tụi bây sinh ra để chịu khổ…

Ba người cùng bọn nhỏ đi một lát đã tới nhà. Tôi nói:

– Chị Lâm và cô Ánh vô nhà tôi một chút đã chứ!

Chị Lâm nói với Ánh:

– Thì mình vô nhà với cô Ngọc một chút. Đằng nào cũng khuya rồi.

Tôi nhìn vào thấy căn nhà tối om. Có lẽ bà nội đã đi ngủ. Chị Lâm bước vào cổng trước, lớn tiếng kêu:

– Bác Thắng ơi, cô Ngọc và mấy cháu về đây này.

Trong nhà có tiếng lục đục rồi có tiếng bà nội khàn khàn:

– Ai kêu chi vậy?

– Con dắt mấy cháu về đây mẹ ơi!

Tiếng bà nội mừng rỡ:

– À, bốn mẹ con bây về đó hả? Tao biết thế nào rồi bây cũng về mà!

Tôi giục mấy đứa nhỏ lên tiếng thưa chào bà nội. Chúng đồng loạt la vang:

– Thưa bà nội chúng cháu về đây!

Bà nội sung sướng chạy ra ôm hôn mấy cháu một hồi. Xong bà lại lật đật vào nhà tìm đèn. Bà bật quẹt lên thắp vào cây đèn ngủ. Nhưng ngọn lửa không bốc được, ánh sáng chỉ tỏa mờ mờ yếu ớt cứ muốn tắt. Bà nội nói:

– Khổ nỗi hôm nay trong nhà lại hết dầu. Vừa rồi đi mua chậm chân phải đợi đợt khác. Cô Lâm cô Ánh ngồi chơi, xin lỗi nhà hơi tối một tí!

Chị Lâm nửa đùa nửa thật nói:

– Quan trọng chi chuyện đó. Nhưng cô Ngọc và mấy cháu đi cả ngày chắc đói bụng lắm rồi, bác đong gạo bắc lên vài lon là tốt nhất! Còn dầu lửa, tôi còn một xị bên nhà, đem đèn qua mà rót một ít.

Bà nội gần như không để ý đến lời chị Lâm. Bà phụ với tôi đem va li, cái giường bố và bó chiếu vào nhà rồi giục tôi đi rửa ráy cho lũ con. Tôi nói:

– Mẹ cho con và tụi nó ít nước uống đã. Chốc nữa con sẽ rửa ráy cho chúng. Giờ để con nói chuyện với chị Lâm và cô Ánh một chút. Chị em lâu ngày gặp lại mà!

Bà nội bước vào cái bếp tối om nhúm lửa. Chị Lâm thấy nhà thiếu ánh sáng không đành lòng liền băng vườn về lấy một hũ keo đựng ít dầu hỏa đem sang. Bà nội trầm trồ nói chuyện với ba đứa nhỏ. Bấy giờ chị Lâm mới đưa mắt nhìn tôi rồi hỏi:

– Cô đã dò ra tông tích chú Thành ở đâu chưa?

Nước mắt tôi bỗng trào ra:

– Ở trong đó lâu nay cứ thấy ai đi thăm tù về em đều hỏi tin tức nhưng mãi tới nay vẫn chưa thấy gì! Khi anh ấy mới vào quân y viện Cộng Hòa đơn vị có báo cho em hay. Người ta cho biết anh ấy bị thương ở chân, không nguy hiểm đến tính mạng. Lúc đó em kẹt không vào thăm được, chỉ có ba mẹ em ở Sài Gòn đến thăm thôi. Khi ba mẹ em báo cho em biết anh ấy đã bị cưa cả hai chân em mới ngã đạn ra! Em sợ quá chuẩn bị đi thăm nhưng lại gặp lúc tình hình chiến sự đã trầm trọng nên không đi được. Sau đó em lại nhận được thư của ba em báo cho biết là anh ấy đã rời khỏi quân y viện Cộng Hòa, không ai biết đi đâu. Từ đó mất tăm tích luôn!

Nói đến đây tôi nghẹn giọng muốn bật ra tiếng khóc. Ánh thấy tôi đang bị xúc động bèn vỗ vai tôi an ủi:

– Chị nín đi kẻo bác khóc theo bây giờ. Biết đâu anh ấy lại thoát qua Mỹ được rồi!