THĂM THẲM TRỜI XANH (Đoạn 3)

Trước đây tôi đã trình diện Sở Học Chánh của bộ QGGD cũ. Gặp lúc ấy tình hình đang lộn xộn nên tôi chưa được bổ nhiệm về nơi nào. Vì thế tôi vẫn được coi như nhân viên của sở. Khi nghe chính quyền kêu gọi các viên chức giáo dục trở về trình diện nhiệm sở cũ, cô Hậu khuyên tôi:
– Con cũng nên đến trình diện sớm để họ khỏi làm khó dễ. Nếu như người ta từ chối không cho dạy học nữa, con cứ ở đây phụ buôn bán với cô để nuôi con. Khi nào rảnh thì con cứ lo cầu nguyện. Trời Phật sẽ che chở, thằng Thành chắc chắn sẽ có ngày trở về với con!

Thật tình tôi rất yêu cái nghề dạy học. Tôi rất sợ phải xa rời nó. Thế nhưng khi đã vào trình diện ty giáo dục Tuyên Đức, tôi không vui chút nào. Người ta hỏi tôi như hỏi cung tội phạm, rất mệt mề. Tôi phải kê khai lại thật kỹ lý lịch của mình. Sau đó người ta bảo tôi tạm về nhà, nửa tháng sau trở lại. Tôi đến lần thứ hai cũng bị người ta hẹn lại nữa. Bực mình quá, tôi muốn bỏ luôn, nhưng suy nghĩ lại tôi cũng sợ. Khi tới ty lần thứ ba tôi mới được bổ nhiệm. Ngặt nỗi tôi phải làm việc tại một ngôi trường khá xa thành phố Đà Lạt. Đó là trường phổ thông cấp 2 Đồng Tiến ở tỉnh Lâm Đồng cũ. Phương tiện đi lại lúc ấy đâu có dễ dàng gì, lòng tôi vô cùng chán ngán!

Cầm tấm giấy bổ nhiệm trong tay mà dở cười dở khóc. Tôi cứ hối hận thà đừng đi trình diện cho xong! Khi tôi nói chuyện này với cô Hậu, cô hỏi:

– Con không lấy lý do có mấy đứa con dại để xin họ cho dạy ở Đà Lạt được à? Mà sao mình ở Tuyên Đức người ta lại đưa đi dạy ở Lâm Đồng?

– Dạ con nghe nói Tuyên Đức Lâm Đồng đã nhập chung. Con năn nỉ xin dạy ở Đà Lạt hết sức nhưng họ bảo con nên tuân lệnh để người ta dễ chiếu cố khoan hồng cho chồng con. Dạy một nơi xa như vậy con nản quá, bây giờ con muốn ở nhà buôn bán với cô được không?

Cô Hậu khuyên:

– Thôi, đã lỡ trình diện rồi thì phải tuân lệnh. Nếu không, sợ người ta có thể làm khó cho chồng con sau này đó. Cứ tới trường Đồng Tiến làm việc một thời gian xem sao. Tụi nhỏ cứ để ở nhà đây với cô. Mấy thằng chú nó không đứa này thì đứa khác vẫn thay nhau ở nhà, lo gì. Kẹt lắm cô dắt chúng ra chơi ở sạp hàng của cô cũng được.

Thế là tôi lại khăn gói quả mướp tìm đường đến trường Đồng Tiến. Khi bước vào văn phòng trường, tôi không gặp ai ở đó cả. Thấy một người đang dọn dẹp lặt vặt trước sân tôi liền hỏi thăm. Ông ta chỉ cho tôi lại nhà ông hiệu trưởng, cũng ở trong khuôn viên trường. Tôi bước đến ngôi nhà ấy. Nhà mở cửa. Tôi thấy một người đàn ông ăn mặc xoàng xĩnh đang ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế xa lông, một chân duỗi thẳng gát lên chiếc bàn trước mặt, một chân co lại trên ghế. Tôi hỏi lớn:

– Thưa ông, có phải đây là nhà ông hiệu trưởng? Tôi mới được bổ nhiệm đến đây, xin trình diện để nhận việc!

– Cô cứ vào!

Dù có mặt tôi ông ta vẫn thản nhiên giữ tư thế ngồi cũ. Tôi hơi ngượng trước thế ngồi có vẻ phóng túng của ông hiệu trưởng. Với dáng điệu kẻ cả, ông ta chỉ tay mời tôi ngồi để nói chuyện. Sau khi hỏi sơ qua về tôi, ông ta nói:

– Cô đến trình diện muộn quá, hết cả lớp dạy rồi! Trước kia cô có nuôi gà nuôi vịt bao giờ chưa?

Câu hỏi hơi lạ tai nhưng tôi thấy ông hiệu trưởng nghiêm nghị không có vẻ gì là hỏi đùa cả nên cũng thành thật trả lời:

– Dạ, trước đây trong nhà tôi vẫn có nuôi một ít gà vịt.

– Được, thế thì bây giờ cô tạm nhận việc coi sóc phòng nuôi gà của trường vậy!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Thưa ông, gà nuôi thí nghiệm à?

– Cũng đúng một phần. Việc nuôi gà này nằm trong mục kết hợp giữa học với hành của nhà trường đấy mà. Cũng như tổ mộc, tổ gạch do những giáo viên có chuyên môn phụ trách để dạy cho học sinh lý thuyết sau đó lại tổ chức thực tập vậy thôi. Nếu kết quả tốt, gà bán được trường sẽ đắp vào quỹ nhà trường. Ngoài ra, ta có thể dành một phần để cải thiện đời sống cho các giáo viên.

– Dạ, nhưng sao lại nuôi gà trong phòng?

– Có gì lạ đâu cô! Gà nuôi thả bên ngoài hay bị người ta bắt trộm. Trường ta lại đang dư một số phòng mắc gì không nuôi trong phòng cho an toàn? Giống gà chúng ta nuôi đều là giống gà công nghiệp như gà trắng Mỹ, gà “lơ go”… Kể ra tốn cũng khá nhiều tiền mua gà giống đấy. Công việc giản dị lắm, cô cứ tạm nhận việc này một thời gian rồi nhà trường sẽ bố trí công việc khác cho cô!

Một cô giáo dạy Việt văn bỗng trở thành một người nuôi gà, dù là làm tạm thời, thật tình tôi chẳng vui chi. Nhưng “gặp thời thế thế thời phải thế”, biết làm sao!

– À, còn việc này nữa. Đà Lạt cách trường này cũng khá xa, cô không thể đi lại hằng ngày được. Sau ngày giải phóng, nhiều học sinh không đi học nữa nên trường ta còn dư nhiều phòng. Những giáo viên nhà ở xa, phần đông là các giáo viên chi viện*, giáo viên lưu dung* thì ít hơn, vẫn ở lại trong các phòng trống đó. Cô cũng nên thu xếp một chỗ để ở như họ, khỏi thuê mướn bên ngoài tốn kém. Những khi có giáo viên lớp nào bận việc bất thường cô sẽ lên lớp* thế cho họ. Ngày nghỉ nào trường không sinh hoạt, nếu thuận tiện cô có thể về thăm nhà. Việc cho gà ăn sẽ có người khác lo giúp.

Phòng nuôi gà này đã được dự tính từ lâu nhưng tới nay mới thực hiện được. Ban đầu ông hiệu trưởng phân công các giáo viên thay nhau trông coi. Nay thấy tôi mới đến chưa có lớp dạy, ông hiệu trưởng bèn giao nhiệm vụ này cho tôi. Ông muốn có một người chuyên trách việc đó rồi tiến dần tới việc trồng cà ớt, rau cải trên phần đất nào có thể khai thác được trong khuôn viên trường. Việc này cũng nhắm mục đích vừa cho học sinh thực tập vừa cải thiện cho cán bộ nhà trường.

Khi tiếp nhận phòng nuôi gà, tôi thích thú thấy đàn gà con nào con nấy mập chú ụ ríu ra ríu rít tranh ăn trông dễ thương lạ lùng. Thức ăn của chúng khá dồi dào. Ngoài thức ăn phải mua, nhà trường còn vận động các em học sinh tiếp tay với những thực phẩm địa phương. Tiếc một điều phòng nuôi gà không có đủ ánh sáng. Phòng có một cửa chính và bốn cửa sổ. Mỗi cửa sổ đều được che một tấm mành thưa đan bằng tre để chắn gà khỏi nhảy ra ngoài.

Đàn gà cứ lớn lên như thổi, trông thật sướng mắt. Hằng ngày chung đụng với chúng tôi cũng giảm được ít nhiều muộn phiền…

Từ khi chính quyền cách mạng cho biết đường dây liên lạc Nam Bắc đã nối, tôi đã gởi khá nhiều thư cho ông bà nội lẫn ông bà ngoại. Đến trường Đồng Tiến tôi lại tiếp tục gởi nhiều thư nữa. Tôi sốt ruột chờ nghe tin nhà lắm, nhất là tin tức về anh Thành. Tôi dùng cả địa chỉ ở Đà Lạt lẫn địa chỉ mới ở trường Đồng Tiến. Thế mà không hiểu sao quá lâu tôi vẫn chẳng nhận được hồi âm. Trong lòng tôi cứ bồn chồn lo lắng ăn ngủ không yên. Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc phòng gà, tôi ra sân sau của trường xới mấy đám đất nhỏ để trồng trọt theo ý muốn của ông hiệu trưởng. Dần dần tôi cũng có phần thích thú với công việc này.

Vì quá nhớ mấy đứa con, mới một tháng tôi đã xin về Đà Lạt thăm gia đình.

Vừa về đến nhà cô Hậu, tôi gặp hai người đàn bà lạ mặt đang ở đó. Có lẽ cô Hậu đã cho biết trước tôi là cháu dâu nên họ đều vồn vã chào hỏi tôi. Cả hai người đều trông xanh xao võ vàng, nửa quê mùa nửa có vẻ “ta đây”. Sau vài lời xã giao, họ chào tôi để ra sạp hàng chơi với cô Hậu. Khi hai người đi rồi thì thằng Sơn từ trong phòng ngủ bước ra. Tôi hỏi Sơn:

– Em ngủ giờ này mới dậy à?

– Đâu có, em nằm chơi thôi. Nghe mấy bà ấy nói chuyện chán quá em không muốn ra. Có lẽ giờ này mấy cháu đi học cũng sắp về rồi đó chị!

– Mấy bà nào đó vậy em?

– Bà Hương bà Tằm, bạn của mẹ em. Họ là cán bộ cách mạng ở trên chiến khu mới về, nay đang ở nhà mình.

– Thế hai chú bộ đội đâu rồi?

– Họ đã đi nơi khác.

– Thời gian này cô buôn bán có khá không?

– Em cũng không biết. Nhưng mẹ em cứ lo săn sóc hai người bạn ấy quá làm tụi em đứa nào cũng bực mình. Chị nghĩ, thấy hai bà ấy ốm o, mẹ em không ngớt chăm sóc họ từng miếng ăn miếng uống cẩn thận hơn cả khi tụi em bị bệnh. Mẹ em cũng không ngần ngại sắm cho các bà nào áo ấm, nào mũ len, nào bao tay, bít tất… Cứ nghe họ nói “mình muốn cái này, mình muốn cái kia…” là mẹ em tìm cách thỏa mãn cho họ ngay. Mẹ em còn lục lọi hết số áo quần cũ có sẵn trong nhà, cái nào không dùng đều tặng họ hết. Hai bà này đều là người rất thực tế, cho gì cũng nhận, kể cả đồ đàn ông. Khi họ đến chỉ có hai cái xách rỗng, bây giờ cả hai đều có rất nhiều quần áo, đồ đạc, mỗi người chất một va li lớn không hết. Mẹ em đã trải lòng ra để sống với bạn bè như thế đó. Nhưng em thấy hình như họ chẳng thành thật gì. Họ đã triệt để khai thác lòng thương yêu bạn bè của mẹ em. Em càng chán họ khi mở mồm ra là ca tụng cuộc sống thiên đường ở miền Bắc, ca tụng chính sách khoan hồng của chính phủ lâm thời. Tất nhiên em chỉ nghĩ  để bụng. Nói ra sợ mẹ em buồn. Không hiểu mẹ em có dụng ý gì khi đối xử quá tốt với hai người bạn này không.

Tôi nói:

– Có lẽ cô muốn tạo những điều kiện thuận lợi cho dượng sau này đó em.

-Có thể là như thế. Mới đây mẹ em cùng với hai bà lại rủ nhau đi Lâm Đồng mấy ngày. Em cứ tưởng thế nào mẹ em cũng ghé thăm chị chứ. Khi trở về thấy mẹ em không được vui. Tụi em hỏi mẹ đi đâu, mẹ chỉ nói là đi chơi. Em hỏi mẹ tin tức về ba em mẹ lại nói chưa nghe được. Em nghĩ có thể mẹ em đã giấu chúng em một điều gì.

– Sơn này, hình như hai bà ấy bị bệnh sốt rét phải không?

– Tất nhiên rồi, nhưng hồi còn ở trong rừng thôi. Em vẫn hay nghe họ khoe khoang cái bệnh sốt rét của mình như một thành tích lớn! Đói xanh xương đi mà lúc nào cũng nói dóc em ghét tổ!

– Trước kia mấy bà cũng ở Đà Lạt này sao mà cô quen?

– Ở Đà Lạt chứ đâu chị!

– Họ làm công tác gì?

– Cán bộ kinh tài. Buôn bán dạo rau cải.

– Sao kỳ vậy? Hai bà thân thiết với cô sao cô không giúp họ sắm sạp hàng để buôn bán luôn mà lại phải buôn bán dạo?

Sơn cười cười nói nhỏ:

– Mua bán dạo chỉ là cái cớ thôi. Hai bà đi cốt dò đường ở mấy nơi trồng rau cải nhiều, xem người ta đổ phân cá ở đâu. Đêm đến lại dẫn người về hốt xác cá và muối còn sót trong phân cá ấy để dùng.

– Sao em rành dữ vậy?

– Chính hai bà nói với mẹ em! Trong rừng thiếu muối quá mà trong phân xác cá ấy thiếu gì muối! Muối để ép nước mắm đó mà! Bà Tằm cho biết trong rừng đã nhiều lần người ta phải chia khẩu phần muối bằng nắp ken chị ơi. Nhờ lượng muối lấy ở phân cá ấy mà cách mạng nuôi dưỡng hàng tiểu đoàn trung đoàn bộ đội lận đó.

Hai chị em đang nói chuyện thì thấy ba anh em thằng Tí dắt nhau về. Sơn lại cười rồi nói:

– Em đi ngoài này một chút chị nghe! Hôm nay là phiên em coi chừng bọn nhỏ, bây giờ có chị về em giao cho chị!

Hóa ra lũ con tôi cũng làm phiền mấy em con cô Hậu không ít. Các em phải chia nhau trực ở nhà để coi chừng chúng! May mắn là trường học chỉ cách nhà cô Hậu chừng hai trăm thước, đường lại dễ đi. Các em chỉ phải dẫn dắt lũ con tôi một thời gian ngắn. Bây giờ thì lũ nhỏ đã tự túc đi với nhau.

Thấy tôi về lũ con tôi mừng lắm. Chúng thay nhau tíu tít kể cho tôi nghe chuyện này đến chuyện khác. Thật ra con Hoa chưa đi học. Hằng ngày tuy cùng đi với hai anh nhưng nó chỉ đến một nhà ở gần trường. Đó là nhà người bạn của cô Hậu, cũng có mấy đứa trẻ đồng lứa với Hoa. Cô Hậu đã gởi nó đến đó để chơi với các bạn. Khi bãi học, thằng Tí thằng Sửu lại ghé nhà ấy dẫn em chúng về.

Gặp lại các em con cô Hậu, không nghe em nào phàn nàn gì về mấy đứa nhỏ, tôi cũng yên tâm. Tôi cũng thấy rõ cả bốn em đều lộ vẻ không bằng lòng về cách đối xử rộng rãi của mẹ mình với hai người bạn.

Trong bữa cơm tối, khi ngồi chung với cô tôi và hai bà ấy tôi mới thật sự hiểu rõ nguyên nhân: đúng là hai bà lý tài quá!

Đêm đó nói chuyện với cô Hậu, tôi thấy cô có vẻ uể oải, bần thần. Tôi hỏi hai bà bạn của cô gia đình ở đâu, họ ở lại đây làm gì, cô chỉ cười cười. Tôi ngủ với lũ con một đêm rồi hôm sau trở về Bảo Lộc.

Ngày lại ngày tôi lại tiếp tục đóng vai mẹ hiền của đàn gà.

Nhưng rồi một hôm tôi bỗng thấy vài con gà tự nhiên đầu vẹo một đường, đuôi vẹo một ngả, lại có vài con khác bại chân. Xem kỹ tôi lại nhận ra có vài con mắt bị mù nữa. Tôi báo cáo hiện tượng này cho ông hiệu trưởng, ông bảo:

– Cứ nhốt riêng chúng trong một cái lồng. Vài ba con bệnh ăn nhằm gì! Cứ lấy tỏi ép chúng ăn chúng sẽ lành!

Tôi làm theo lời ông ta. Nào ngờ hôm sau, ngoài mấy con đã nhốt riêng, trong đàn lại có thêm nhiều con bị bại, bị mù nữa. Tôi lại báo cáo. Ông hiệu trưởng lúng túng ra mặt. Một vài con gà bệnh có thể nhốt riêng, bây giờ số gà bệnh tăng thêm, biết nhốt vào đâu? Cuối cùng chúng tôi đành lấy một tấm phên để ngăn gà lành một bên gà bệnh một bên thôi.

Tới lúc này tôi mới biết trong trường chẳng có người nào nắm vững được lý thuyết về việc nuôi gà cả. Chừng một tuần sau thì đàn gà mập mạp xinh xắn trước đây lần lượt trở thành mù què gần hết. Chúng tôi chỉ biết lấy tỏi xé ra từng múi nhỏ đút vào miệng chúng. Có một điều lạ là không có mấy con bị chết. Nhìn những con gà bệnh lê lết thật thảm hại. Những con gà què thì cứ đứng lên té xuống, vói mỏ mổ một hạt gạo hằng chục lần mới trúng. Những con gà mù thì mắt lồi ra, phải đứng trên đống thức ăn may ra mới ăn được. Ai vào thăm phòng nuôi gà lúc này cũng tiu nghỉu lắc đầu. Niềm hi vọng có một hai con gà béo để làm thịt vào dịp tết thế là tan biến hoàn toàn.

Rồi không hiểu do đâu, một số người cứ gọi tôi là “trại trưởng trại gà Nguyễn Đình Chiểu”. Càng về sau cụm từ đó càng trở nên phổ thông. Có một số người hỏi tôi ai đặt cái tên trại gà hay như vậy nữa chứ!

Thấy việc cho gà ăn đã trở nên khó khăn, ông hiệu trưởng phải cho nhiều người phụ giúp tôi. Một hôm một chị bạn ở cùng phòng, cũng giáo viên lưu dung như tôi – chị Bướm, hỏi đùa:

– Bà trư