ĐỆ NHỨT PHU NHÂN

KIẾN HÀO


1

Gia đình Ngô Đình Nhu trên đỉnh cao quyền lực

 

Ngày 24 tháng 4 năm 2011, báo chí đăng tin bà Trần Lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô Đình Nhu, cố vấn Tổng thống VNCH và cũng được nhiều người biết đến như là vị Đệ nhất phu nhân nổi tiếng một thời, đã qua đời tại một bệnh viện ở Roma (Ý) vào ngày chủ nhật Lễ Phục Sinh, thọ 87 tuổi.

Bà Nhu là một nhân vật đặc biệt của chính thể Đệ nhất Cộng hòa, xuất hiện vào một giai đoạn đặc biệt của lịch sử mà cuộc đời hoạt động chính trị sôi nổi tạo ra nhiều nhận xét trái chiều, nhất là vai trò của bà trong cái gọi là đàn áp Phật giáo năm 1963, một vụ phản kháng bạo động mang màu sắc tôn giáo làm suy yếu chính thể và tạo bất ổn xã hội. [1]

Ngày nay nhìn lại quá khứ, nếu trách một bộ phận Phật Giáo cực đoan đã lạm dụng dân chủ để gây rối loạn thì cũng phải công tâm nhìn nhận bà Nhu đã có những lời lẽ xúc phạm đến Phật Giáo, một tôn giáo chiếm đa số trong dân chúng miền Nam lúc đó, gây bất mãn và ngộ nhận chính quyền kỳ thị tôn giáo. Nhắc tới bà, mọi người nhớ tới những phát ngôn quá khích, thiếu kiềm chế như đổ thêm dầu vào lửa, những lời nói gây ra tác hại không nhỏ, được đối phương trong nước lợi dụng kích động gây chia rẽ tôn giáo sâu sắc, và dư luận phản chiến bên Mỹ vồ vập lấy như bắt được vàng, khiến anh chồng và chồng của bà lãnh đủ. Đó là những phát biểu của bà sau vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, đầy khiêu khích và mang tính mạ lỵ công khai, những lời nói không cân nhắc lợi hại tự làm suy yếu mình và tăng thêm sức mạnh cho đối phương [2].

Thật ra, không phải tất cả những phát ngôn của bà đều là thiếu chín chắn, võ đoán, úp chụp mà đều có thể hiện một phần sự thật, nhưng với một phụ nữ thiếu kinh nghiệm chính trường, không có cái khôn khéo giảo hoạt của một người làm chính trị, lại là đệ nhất phu nhân của một nước, nên vô hình trung những lời nói sơ hở của bà chính là gậy ông đập lưng ông cho chế độ [3]. Như trường hợp Hòa thượng Thích Trí Quang, người cổ xúy cho việc đem bàn thờ Phật xuống đường biểu tình chống chính quyền đàn áp tôn giáo, xúi dục phật tử gây bạo loạn, làm rung chuyển cả 6 tỉnh miền Trung năm 1966,  ngay từ ba năm trước đó (1963) đã bị bà vạch mặt chỉ tên là một người hoạt động chính trị đội lốt nhà sư, gây bất ổn để phục vụ cho mưu đồ riêng tư [4].

Dù có thù ghét bà Nhu đến đâu thì người ta cũng không thể xóa bỏ công lao của bà, với tư cách là một Dân Biểu Quốc Hội, đã góp phần cho sự ra đời của  Luật Gia Đình (1957) thời Đệ nhất Cộng Hòa, một đạo luật tiến bộ xóa bỏ tàn tích đa thê từ thời thực dân phong kiến hay Luật cấm nhà chứa, cờ bạc và hút á phiện. Những ai đã sống trải qua nhiều chế độ tại miền Nam, có dịp đối chiếu so sánh đều nhận thấy dưới thời Đệ nhất Cộng hòa nhất là những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 thế kỷ trước, đều phải công nhận kỷ cương phép nước nghiêm minh, kinh tế vững vàng, bộ máy công quyền trong sạch, văn hóa giáo dục lành mạnh, quan hệ giao tiếp ngoài cộng đồng văn minh lịch sự, nói chung đời sống vật chất và tinh thần đều thấm nhuần đạo lý tình người. Con người ít biết đến giả trá lừa lọc, các giá trị nhân văn truyền thống trong gia đình , nhà trường, xã hội đều được phát huy và tôn trọng. Sân trường không nghe tiếng chửi thề, rạp hát không thấy cảnh bỏ chân gát lên lưng ghế trước, tắt thuốc và đứng nghiêm khi chào quốc kỳ, mọi người đều tự giác chấp hành luật đi đường, gia đình có người đi tù bị coi là một nổi sĩ nhục. Trong khu vực Đông Nam Á, vị thế của Việt Nam (miền Nam) cao hơn nhiều so với Thái Lan, Philippine hay Cambodia .[5]

Dù chỉ là đưa tin về cái chết của một người đã sống ẩn dật hơn nữa thế kỷ nhưng theo thói quen tuyên truyền, một bài báo [6] cũng không quên xới lại chuyện cũ , rằng năm 1956 bà Nhu sở hữu khối tài sản khổng lồ lên tới 18 tỷ USD, phần lớn gởi trong các ngân hàng nước ngoài (!) . Dĩ nhiên không ai tin rằng bà Nhu không tham nhũng, nhưng nhiều khi cường điệu hóa một sự việc lại có phản tác dụng vì người đọc sẽ nhận thấy sự vô lý do dụng ý không khách quan, ác cảm của người viết, làm sao trong có hai năm 1954-1955 mà vợ chồng bà Nhu lại có thể tom góp 18 tỷ đô la từ tham nhũng, buôn lậu và cắt xén viện trợ Mỹ được ?

Quyển “ Trần Lệ Xuân, giấc mộng chính trường” của Lý Nhân Phan Thứ Lang do nhà xuất bản Công An nhân dân phát hành năm 2005 có nói về cuộc sống của gia đình bà Nhu thời kỳ này như sau : “…đến năm 1952, gia đình Nhu kiệt quệ tài chánh, đến nỗi hàng ngày Lệ Xuân phải đi xe đạp ra chợ (Đà Lạt – NV) mua từng bó rau, từng lạng thịt về ăn mỗi bữa. Theo lời gia nhân của Lệ Xuân kể lại, bà ta đành phải tháo chiếc vòng vàng đeo ở cổ từ ngày cưới bán lấy tiền độ nhật; Nhu thì còn độc nhất bộ quần áo sơ-mi cộc tay, và quần gabardin…”. Tháng 6 năm 1954, Ngô Đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại mời ra làm Thủ tướng, cũng quyển sách trên nói về cuộc sống của bà Nhu như sau : “…trong thời gian này vợ chồng Ngô Đình Nhu vẫn chưa có vị trí xứng đáng đối với Diệm. Cả hai vợ chồng ở nhờ tại một dưỡng đường tư của bác sĩ Cao Xuân Cẩm (anh ruột Cao Xuân Vỹ ) mang tên Saint Pierre nằm trên đường Armand Rousseau (nay là đường Nguyễn Văn Tráng , hàng ngày Nhu từ đó vào dinh Độc Lập bàn bạc với Diệm kế hoạch chống Hinh và Bảy Viễn…”. Vậy đó, vậy mà chỉ hai năm sau, không biết vợ chồng bà Nhu tham ô nhũng lạm ra sao mà sở hữu khối tài sản lên đến 18 tỷ USD ? Hay suy bụng ta ra bụng người chăng? Nếu đem số tiền đó chia cho hai mươi bốn tháng thì vị chi mỗi tháng, bà Nhu tham ô trên bảy trăm triệu đô !

Thời đó, trúng số độc đắc chỉ có 1 triệu đồng là thành triệu phú thứ thiệt, mỗi chiều cứ nghe Trần Văn Trạch hát trên radio là ai cũng nghe nao nao : “ Xổ số kiến thiết quốc gia mong ở lòng ta sẽ giúp bao người làm nên cửa nhà…triệu phú đến nơi năm mười đồng thôi mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi…”. Cũng kèm theo bài báo trên là mấy tấm hình chụp biệt thự Hồng Ngọc , Bạch Ngọc, Lam Ngọc của bà trước kia ở Đà Lạt nay đã là tài sản quốc doanh và đã được trùng tu, với lời chú thích là “ xa hoa, tráng lệ ”. Trời đất, nếu vậy thì phải gọi hàng trăm ngàn cái biệt thự hoành tráng như lâu đài của các vị đầy tớ nhân dân khắp Việt Nam hiện nay là gì nhỉ ?

Trong một bài báo khác, của Ngọc Lan đăng trên báo Người Việt và được trang web Diễn đàn thế kỷ đăng lại [7], ông Trương Phú Thứ là người chịu trách nhiệm biên tập và xuất bản quyển hồi ký của bà Nhu sau này, cho biết bà không hề nói về những tư tưởng hận thù, những lời nói động chạm, hay nặng nề đến những người đã làm đảo chánh, lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm và giết chết chồng bà, cố vấn Ngô Đình Nhu, đều không được nhắc đến trong hồi ký. Có lẽ ông Thứ ngụ ý muốn nói đến đại tướng Dương Văn Minh, một vị tướng mà nhiều người vẫn quy trách nhiệm cho cái chết của anh em ông Diệm [8]. Thực ra, ông Minh và tên tùy viên (đại úy Nhung) của ông cũng chỉ là một loại tay sai mà thôi [9].

Cuộc sống ẩn cư, an nhiên tự tại của bà Nhu ở Paris sau khi rời bỏ nước Mỹ , nhất là tư cách nghiêm cẩn của bà trong cuộc sống riêng tư và sùng đạo khiến những kẻ lắm điều, chuyên nghề moi móc phỉ báng không có cơ hội đặt điều, bôi bẩn. Đó chính là câu trả lời chính xác nhất cho những hoài nghi về nhân cách của bà, những lời thêu dệt về chuyện tình của bà với tướng phản trắc Trần văn Đôn, chuyện chiếc áo dài cổ thuyền cách tân độc đáo, chuyện pho tượng hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng, những cánh rừng giá tỵ, sao dầu và đường mòn chở gỗ mang tên Trần Lệ Xuân ở miền Đông .v..v…

Dù sao thì bà cũng còn may mắn hơn chồng, vì bà thanh thản về nước Chúa với người thân vây quanh, ngày nay dư luận cũng công tâm hơn khi nhận xét về bà, khi mà lớp hỏa mù lịch sử bao quanh con người này đã tan đi, trừ một số nhận định thiếu khách quan, cay cú, hằn học kiểu ngậm máu phun người. Công tội đan xen, tùy nhận xét và quan điểm của mỗi người nhưng phải chăng, chỉ có Chúa mới có quyền phán xét người đã mất ?


Chú thích :

[1] Ngày 7 tháng 5 năm 1963, Tổng giám mục địa phận Huế Ngô Đình Thục trở về Huế sau chuyến thăm nhà thờ La Vang Quảng Trị vừa được nâng lên thành Vương cung Thánh đường. Ông tỏ ý khó chịu và ra lịnh tháo xuống tất cả những lá cờ Phật giáo chăng trên đường mừng Đại lễ Phật đản 2527. Ngay sau đó, những cuộc biểu tình đòi bình đẳng tôn giáo diễn ra khắp nước, một tháng sau, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu làm rúng động thế giới. Cũng cần nói thêm, năm 1963, Phật giáo đóng vai trò người chịu nạn, nhưng đến 1966 thì không thể biện minh cho những vị sư cổ súy bạo loạn miền Trung, là những người mưu đồ xen chính trị vào tôn giáo, cũng không loại trừ một số kẻ nằm vùng và những người bị giật giây.

[2] “ Phật tử đã nướng thịt sư của họ sau khi đã đánh thuốc mê ông ta. Nướng thịt người như vậy mà cũng không có nhiên liệu tự túc, chúng phải dùng xăng của Mỹ”. Trích trong “Trần Lệ Xuân, giấc mộng chính trường”, Sđd, trang 153.

“ Khi các nhà sư tự thiêu trên đường phố Sài Gòn , phản ứng của bà Nhu là tàn bạo không thể tả: “Cứ để họ tự thiêu, rồi chúng ta sẽ vỗ tay”, bà mỉm cười nói. “Nếu các Phật tử muốn có thêm một cuộc nướng thịt, tôi sẽ hân hoan cung cấp dầu xăng và một que diêm”. Trích trong Madam Nhu Trần Lệ Xuân Quyền lực Bà Rồng, Monique Brinson Demery, NXB Hội nhà văn, Hà nội, 2016, trang 5.

[3] “Red Faye, bạn của Kennedy nhớ lại, Tổng thống không chỉ tự trách mình vì hai cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Ông còn đổ lỗi cho bà Nhu. “ Đồ chó chết. Bà ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của người đàn ông tử tế đó(Diệm). Anh thấy đó, hoàn toàn không biện minh được khi để người đàn ông tử tế đó chết chỉ bởi con chó cái đó chỉa mũi vào và làm mọi thứ ở đó sôi sục lên hết.” Quyền Lực Bà Rồng, Sđd, trang 300.

[4] “ chúng ta không thể khuất phục và chiều ý mấy tay nhà tu làm loạn do CIA giật dây. Nếu vị nào chân tu ta vẫn kính trọng và giúp đỡ, còn ông nào làm loạn ta nhốt cổ lại”, trích “Trần Lệ Xuân, giấc mộng chính trường”, Sđd, trang 144. Tận những giờ phút hấp hối của miền Nam, ông Minh vẫn còn trông vào khả năng thương thuyết của Thích Trí Quang (!), hy vọng một cuộc bàn giao êm thấm và thành lập chính phủ hòa giải hòa hợp ba thành phần. Sau năm 1975, lá bài “thành phần thứ ba” bị xếp xó, Thích Trí Quang không được may mắn như bà Ngô Bá Thành, Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi …là những người được nhà nước Việt Nam XHCN lưu dụng một thời gian như hình thức trả công.

[5] “ Trong vài năm đầu ở dinh, Ngô Đình Diệm và chế độ gia đình trị của ông  đã làm được rất nhiều việc. Một triệu dân lánh nạn đã được an cư ở miền Nam. Sản lượng gạo đã tăng từ 2,8 lên 4,6 triệu tấn. Sản lượng cao su tăng từ 66.000 lên 79.000 tấn. Những chương trình tín dụng nông nghiệp và cải cách điền địa đã phá bỏ những đồn điền thời thực dân, giúp người dân đầu tư công sức vào đồng ruộng của mình và nổ lực đa dạng hóa cây trồng… Ở miền Nam một người phải có 50 mẫu mới coi là địa chủ trong khi ở miền Bắc thì chỉ cần 5 mẫu…”. Quyền lực Bà Rồng, Sđd, trang 140,141.

[6] Xem http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/04/biet-dien-trang-le-cua-ba-tran-le-xuan/ ; http://www.tienphong.vn/dep-cuoc-song-muon-mau/biet-dien-trang-le-cua-ba-tran-le-xuan-536169.tpo

[7] Xem http://www.diendantheky.net/2011/04/noi-chuyen-voi-ong-truong-phu-thu-nguoi.html

[8] Chưa bao giờ ông Minh xác nhận hay phủ nhận đã ra lịnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng ngày 2.11.1963. Một thái độ lãng tránh trước lịch sử, và tạo ra màn sương mù cho sự dính líu của người Mỹ. Tác hại lớn lao của cuộc đảo chánh 1.11.1963 thực ra không phải là ám hại, đoạt mạng một vị tổng thống dân cử, mà chính là sự phá hủy, triệt tiêu những thành tựu đã đạt được trong nền Đệ nhứt Cộng Hòa, đưa Việt Nam Cộng Hòa vào tình trạng bất ổn, suy thoái, loạn lạc.

[9] Chính quyền Mỹ muốn mượn tay nhóm tướng lãnh để nhổ những cái gai trong mắt họ, cản trở việc họ nhúng tay trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam. Tám năm sau (1965-1973), khi đã ngộ ra rằng đây là một- cuộc- chiến- không – thể – thắng, họ lại bỏ rơi VNCH, hy sinh đồng minh để thỏa hiệp với đối phương, hầu vớt vát chút thể diện khi rút quân.

Trở về Trang Kiến Hào