VÌ SAO VIỆT NAM THUA KIỆN CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM?

Có lẽ chúng ta đều nghe biết VNCS đã thua Mỹ về vụ kiện “Chất độc màu da cam”. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rõ tại sao VN đã thua vụ kiện này.

Trang nhà THĐ2 xin được giới thiệu tài liệu nguyên bản từ Wikipedia tiếng Việt và 2 bài tóm tắt lý do về sự thua kiện của VNCS sau đây :

***

1. VÌ SAO VIỆT NAM THUA KIỆN CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM?

*
Chất độc da cam có màu… Cam??!!
Hồ sơ 1 vụ tự ngộ độc vì tuyên truyền!
Tại sao VN thua kiện chất độc màu da cam? Bài đọc tìm thấy trên mạng khá dài chỉ xin tóm lược những ý chính:
Trước hết, điều đơn giản và dể hiểu là khi bạn bị đâm thì bạn thưa thằng đâm bạn hay thưa thằng bán dao? Như vậy tại sao không thưa Chính phủ Mỹ hay bộ quốc phòng Mỹ mà lại thưa công ty hóa chất? Có gì khuất tất mà không thưa ngay thằng cầm con dao mà cứ đè thằng bán dao ra mà thưa? Hay là vì 1 thỏa thuận nào đó khi thiết lập bang giao với chú Sam?
0-1 cho VN.
Chất độc màu da cam màu gì?
Khi hỏi câu này thì 90% người VN trả lời: Thì màu cam chứ màu gì, cái tên đã nói lên tất cả rồi mà hỏi gì mà thừa vậy?..
– Sai, xin thưa nó màu trắng chứ không phải màu cam.
Theo quy ước của chính quyền Mỹ thì các mức độ độc hại được sắp xếp theo màu thì màu da cam đứng hàng thứ 2 trong nhóm chất độc nên các hóa chất khai hoang làm trụi lá cây được chứa trong các thùng màu cam và ghi trên thùng “Orange agents” để cảnh báo.
Do tuyên truyền quá hay nên hầu hết đều tưởng lầm là nó màu cam và điều này dẫn đến 1 tai hại là nhân chứng là 1 cựu binh miền Bắc và 1 anh du kích ở Bến Tre được đưa từ VN sang nói họ nhìn thấy máy bay Mỹ xả chất độc làm vàng chóe cả bầu trời!
Mà trong đoàn có 3 nhà trí thức là GSTS Phan Thị Phi Phi của ĐH Y Hà Nội và BS Dương Quỳnh Hoa và BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng – GĐ BV Từ Dũ. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa còn phát biểu trước tòa là chính mắt bà thấy (lúc còn ở trong chiến khu) có 1 thùng chất độc màu da cam còn nguyên bị rớt xuống, khi đi ngang qua ai cũng phải lấy túi nylon che miệng – mũi lại.
Và sau đó đưa ra các hình ảnh dị tật của trẻ em VN được coi là do di chứng của chất độc màu da cam. Đó là lời chứng từ bên nguyên.
Bây giờ xem bên bị nói gì? Họ lặng lẽ trình chiếu vài hình ảnh cho tòa xem. Hình ảnh chất da cam được lấy từ thùng màu cam là hóa chất có màu …..trắng!
Sau đó là quy trình phun chất này trên máy bay: Hóa chất được trộn chung với nước sau khi đã được làm hòa tan với dầu hôi và không có thùng màu cam nào được đưa lên máy bay, đơn giản là người ta xịt hổn dịch nước chứ không rải bột!
Họ còn trình chiếu tấm bản đồ minh họa khu vực xịt chất khai hoang được lưu tại bộ quốc phòng Mỹ cho thấy vùng ngoại vi thị xã Bến tre (nơi nhân chứng sống) không được xịt thuốc, lý do đơn giản là vùng đó có mật độ cư dân đông đúc.
Hai bàn thua “đúp” cho VN. Tỷ số lúc này là 0-3.
Tiếp đến luật sư bên bị hỏi nhân chứng là 1 cựu binh miền Bắc, nơi sinh, nơi cư trú và lý do tại sao ông có mặt tai nơi đó.
Họ viện dẫn hiệp định Geneve và kết luận: ” ông xâm nhập biên giới bất hợp pháp vào 1 vùng chiến sự, và còn toàn mạng trở về là 1 sự may mắn vì đã không bị trúng bom mìn”!
Thêm 1 bàn thua nữa cho VN.
Tổng kết: 0-4 cho VN, bằng đúng kết quả hiệp 1 trận bán kết World Cub Brazil- Đức.
Đó là chưa kể các lời “làm chứng gian” của các nhân chứng. Nếu đây là 1 phiên tòa hình sự thì các nhân chứng có thể bị khởi tố vì tội làm cản trở luật pháp như tất cả phiên tòa trên thế giới.
Ngoài ra bên bị còn cho là VN đã gộp chung các trường hợp dị tật ống thần kinh do thiếu acid Folic vì không có sản phụ nào tại VN được cho uống acid Folic trước và 2 tuần đầu của thai kỳ (bs Phượng lúng túng khi họ chất vấn bà là trong suốt cuộc đời hành nghề của bà cho đến nay, có bao giờ bà kê toa cho sản phụ folic acid trước và ngay khi vừa mới thụ thai không?- thường thì các sản phụ tai VN chỉ đi khám thai khi thai nhi được 2-3 tháng trở lên, khi đó folic acid không còn tác dụng ngăn ngừa dị tật ống thần kinh)) và hình ảnh trình chiếu của bên nguyên có cả những trẻ em mắc bịnh Down! …
Nhưng tòa cho rằng chi tiết này không quan trọng vì 0-4 là đã quá đủ!
– Phiên tòa có 3 cố vấn là 3 nhà trí thức mà không chịu khó tìm hiểu chất độc màu da cam có màu gì để “mớm” cho nhân chứng thì quá tệ. Sau phiên tòa này, có 1 công văn chính thức sửa tên chất độc màu da cam thành chất độc da cam (bỏ đi chữ “màu” tai hại) và từ nay trên mặt báo sẽ là chất độc da cam.
P/S: trong chất khai hoang (chất độc màu da cam) mà Mỹ rải xuống miền nam có chất Dioxin là 1 hóa chất rất độc hại và là 1 phụ phẩm ngoài ý muốn trong quá trình sản xuất nhưng với 1 tỷ lệ rất nhỏ, nếu so về mức độ độc hại thì chất khai hoang này còn thua DDT (dichloro diphenyl trichlorothane) đã bị cấm từ thập niên 1970s mà chất này được sử dụng rộng rãi cả 2 miền Nam-Bắc để diệt côn trùng.
Chất khai hoang này (2-4-D và 2-4-5-T) với 1 liều rất nhỏ (vài chục phần triệu) thì là 1 chất kích thích sinh trưởng thực vật, hiên nay có bán rất nhiều tại VN và có trong hầu hết trái cây có xuất xứ từ NƯỚC LẠ. Hiện được sử dụng rất hạn chế bởi độc tính của nó và vì có nhiều chất thay thế ít độc hơn, nhưng có ưu điểm là giá rất rẻ nên táo, lê…bán ở VN thường có dư lượng chất này…
Hết.
Nguồn, fb Tuấn Nguyễn.
***

2. VÌ SAO VỤ KIỆN CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM THẤT BẠI?

1 bài viết nói về chất độc màu da cam mà mình tìm được trên mạng . Thấy khá thú vị nên xin được chia sẻ .

Nhiều năm qua, trên phương tiện truyền thông đại chúng, và sự hiểu biết của dân ngoài ngành Y, cùng 1 số dân trong ngành Y vì thiếu hiểu biết, nên tin rằng có di họa sau chiến tranh do chất độc màu da cam của Hoa Kỳ để lại, đã được chứng minh gây ra dị tật, quái thai ở Việt Nam. Thực tế nó như thế nào, tôi xin hầu cộng đồng bài này, như là một lần viết để rồi không nên nhắc nó lại.


Hình 1: Thùng phuy chứa chất Dioxin – thuốc diệt cỏ – cung cấp vào Việt Nam năm 1968 do các công ty hóa chất của Hoa Kỳ cung cấp

Gọi là chất độc màu da cam là vì, chất Dioxin đựng trong những thùng phuy có sơn màu da cam các công ty sản xuất hóa chất Hoa Kỳ cung cấp, phải đựng trong thùng sơn màu cam là màu quy định đánh dấu độc chất. Nó là thuốc diệt cỏ, bột màu trắng làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ dùng trong chiến tranh Việt Nam, nhằm phá những tán rừng có du kích và quân đội Bắc Việt ẩn trú.


Hình 2: Agent Orange là tên của một hóa chất làm rụng lá do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Lực lượng quân đội Mỹ rải chất độc da cam và chất làm rụng lá khác trên các bộ phận của miền Nam Việt Nam và Campuchia bắt đầu vào năm 1962.

Năm 1984, nhân sự kiện phiên tòa của quan tòa Jack Weinstein, một số công ty sản xuất hoá chất đã chi khoảng 180 triệu Mỹ kim cho các gia đình nguyên cáo, mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái. Hàng năm, chính phủ Hoa Kỳ chi khoảng 1,5 tỷ USD cho các cựu binh Mỹ tham chiến trong chiến tranh Việt Nam bị ảnh hưởng của chất độc da cam. Từ đó phía chính quyền Việt Nam bắt đầu có ý tưởng thành lập một hồ sơ đi kiện các công ty sản xuất Dioxin đã dùng ở chiến tranh Việt Nam.

Sau đó là một số vụ kiện khác ở Úc, ở Hàn Quốc, Canada về dioxin đã để lại di họa cho các lính viễn chinh của các quốc gia này đã thyam gia chiến tranh ở Việt Nam, nhưng đã không nhận được mối quan hệ giữa chất độc này đối với 11 căn bệnh, bao gồm cả ung thư phổi, ung thư thanh quản cũng như ung thư tiền liệt tuyến, v.v… mà họ đã đưa ra.


Hình 3: BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng và những nhân chứng của mình bị cho là di họa Dioxin

Ở Việt Nam, năm 1990, chủ trì đề tài khoa học ở phía Nam về di họa chất độc màu da cam là BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng – nguyên giám đốc BV Từ Dũ, kiêm đại biểu quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Tôi còn nhớ ngày ấy, theo yêu cầu của bên chủ nhiệm đề tài là mỗi phẫu thuật viên ở BV Chợ Rẫy khi phẫu thuật bệnh nhân, thì lấy khoảng 20gram mỡ để làm nghiên cứu nồng độ chất Dioxin ở người Việt Nam.

Tuy ai cũng phải thực hiện công việc lấy 20gram mỡ trên người bệnh, nhưng khi phản biện đề tài có khoa học hay không thì ban chủ nhiệm đề tài không chứng minh được những vấn đề đặt ra sau đây:

1. Không chứng minh rằng Dioxin đã rải trong chiến tranh Việt Nam có tác động gây dị tật trên phôi, thai.

2. Không chứng minh được rằng, với nồng độ nào của Dioxin đã được rải trong chiến tranh Việt Nam thì gây ra dị tật hay quái thai.

3. Không chứng minh được những quái thai hay dị tật do chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971, các cơ quan y tế ở Việt Nam ước tính khoảng 400.000 người đã bị giết hoặc tàn tật, khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng, mà trước đó những nạn nhân bị nhiễm hôm nay là chưa bị nhiễm.

4. Không chứng minh được không có bất kỳ nguyên nhân nào khác như: nhiễm siêu vi, uống thuốc không kê toa, nhiễm những thuốc trừ sâu rầy, v.v… khác đã gây ra dị tật hoặc quái thai trên những nạn nhân được cơ quan y tế Việt Nam đem ra kiện trước tòa.

Với 4 vấn đề lớn còn tồn đọng đó, mọi hồ sơ pháp y của Việt Nam không có bằng chứng thuyết phục trước tòa, mà chỉ có hình người bị bệnh bại liệt, não úng thủy, hay các dị tật bẩm sinh. Và phái đoàn Việt Nam gồm có 3 người là: Bà Dương Quỳnh Hoa, bà Phan Thị Phi Phi, và ông Nguyễn Văn Quý đã thất bại trong vụ kiện kéo dài trong hơn 15 năm với kết luận như sau:

Ngày 10 tháng 3 năm 2005, cũng chính quan tòa Jack Weinstein thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng chất độc da cam đã không được xem là một chất độc dưới bị cấm theo luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó, ngay cả khi ảnh hưởng không cố ý của những chất này có thể gây ra độc tố đối với đời sống của con người và môi trường họ sống; và rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền. Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện.

Jack Weinstein cho rằng: “Đơn kiện của phía nguyên đơn không dựa trên bất cứ cơ sở nào của luật nội địa của một bang, một quốc gia hay dưới bất cứ hình thức gì của luật quốc tế”. Ông cũng cho rằng nguyên đơn Việt Nam đã không không chứng minh được chính chất độc da cam đã gây ra các loại bệnh tật như liệt kê trong đơn kiện của họ, vì cho đến thời điểm đệ đơn kiện, họ vẫn thiếu các nghiên cứu sâu rộng về ảnh hưởng của chất làm phát quang cây cối có tác động xấu đối với sức khỏe con người.

Sau đó ngày 07/4/2005, đoàn luật sư đại diện cho các nạn nhân Việt Nam nộp đơn yêu cầu Tòa kháng án liên bang khu vực 2 ở New York xét xử lại và phủ quyết phán quyết trước đây của chánh án Jack Weinstein. Nhưng, Tòa phúc thẩm Liên bang Mỹ tại New York đã ra phán quyết bác đơn kiện của các công dân Việt Nam, nạn nhân chất độc da cam/dioxin chống các công ty hóa chất Mỹ về việc sử dụng chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh Việt Nam. Tòa này đã y án sơ thẩm.

Vì dư luận quốc tế có nhiều ý kiến phê phán phán quyết này của Tòa phúc thẩm Liên bang Mỹ. Nên ngày 18 tháng 3 năm 2008, Đoàn Luật sư Hoa Kỳ và Hội Luật gia Dân chủ quốc tế gồm 10 người đã đến Việt Nam để hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nạn nhân trong vụ kiện sắp tới lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.

Nên ngày 6 tháng 10 năm 2008 nguyên đơn tiếp tục nộp đơn thỉnh cầu lên Tòa án Tối cao Mỹ nhưng đã bị tòa án Tối cao Mỹ bác đơn thỉnh cầu của nguyên đơn vào ngày 2 tháng 3 năm 2009.

Sau phiên tòa ngày 02/3/2009 bị bác đơn, Phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, ông Vũ Trọng Kim cho là “Việc tòa án Mỹ từ chối lời thỉnh cầu của các nạn nhân Việt Nam là đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện sự công minh của pháp luật và tinh thần yêu chuộng công lý, tôn trọng nhân quyền của nhân dân Mỹ”.

Mọi vấn đề kiện cáo chất độc da cam/Dioxin gây ra di họa cho trẻ em và người lớn trong chiến tranh Việt Nam xem như chấm dứt, và không có bằng chứng khoa học nào để chứng minh rằng dioxin gây ra di họa ở Việt Nam.

Thiết nghĩ vấn đề này, những ai chưa hiểu thì cần phải hiểu đúng để đừng nên nhắc tới nó như là một sự “thông thái” thiếu hiểu biết.

Nguồn

http://bshohai.blogspot.com/2015/10/the-nao-la-di-hoa-chat-oc-da-cam-o-viet.html

***

3. Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam là vụ kiện của Nhóm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân Chất độc da cam/Dioxin đối với 37 công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ, những đơn vị đã sản xuất các chất hóa học phát quang cây cối có chứa chất độc da cam được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, trong đó nổi bật là các công ty: Dow Chemical, Montaso Ltd, Phamacia Corporation, và Hercules Incorporated.[1] Vụ kiện đã qua hai phiên tòa sơ thẩm Tòa án liên bang tại quận Brooklyn và tòa phúc thẩm ở Tòa kháng án liên bang khu vực 2 ở New York bác đơn kiện của nguyên đơn với lý do chính: bên nguyên chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học chứng minh mối quan hệ giữa bệnh tật của họ với chất dioxin, không có căn cứ pháp luật quốc tế, các công ty hóa chất chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng của chính phủ Mỹ nhưng chính phủ Mỹ lại có quyền miễn tố. Do đó ngày 2 tháng 3 năm 2009 tòa án Tối cao Mỹ bác đơn thỉnh cầu của nguyên đơn Việt Nam. Và tiền được hỗ trợ lẫn đền bù cho người vô tội bị nhiễm chất độc da cam hầu như không khả thi, trước nhận quốc tế sau quyên góp mô hình xã hội trong nước, doanh nghiệp, mạnh thường quân ủng hộ.

Vụ kiện đã thu hút sự chú ý của dư luận Việt Nam và quốc tế. Vài tổ chức xã hội đã kêu gọi ủng hộ nạn nhân chất độc dioxin, ủng hộ bên nguyên. Như ông Len Aldis đã lập một trang web kêu gọi ký tên vì công lý.[2] Một số tổ chức của các cựu chiến binh Mỹ, Hàn Quốc bị nhiễm chất da cam cũng ủng hộ bên nguyên (Việt Nam).

Mục lục

Diễn biến

Ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi của nạn nhân Chất độc da cam/Dioxin là Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin – VAVA) đã kiện 37 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow ChemicalMonsanto là hai công ty sản xuất chất độc da cam (CĐDC) lớn nhất cho quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty khác. Trước đây nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ đã thắng một vụ kiện tương tự.

Hội nghị tiền xét xử lần đầu tiên đã diễn ra vào ngày 18 tháng 3 năm 2004. Hội nghị tiền xét xử thứ hai diễn ra vào ngày 18 tháng 6 năm 2004. Ngày 13 tháng 9 năm 2004, các luật sư của nguyên đơn đã trình Tòa sơ thẩm đơn kiện sửa đổi. Bên bị đã trình Tòa án sơ thẩm bản tranh tụng của mình (đợt 1) vào ngày 3 tháng 11 năm 2004, bản tranh tụng thứ 2 được trình ngày 18 tháng 1 năm 2005. Ngày 28 tháng 2 năm 2005, hai bên bắt đầu tranh tụng tại Tòa sơ thẩm.

Ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa Jack Weinstein thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng chất độc da cam đã không được xem là một chất độc dưới bị cấm theo luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó, ngay cả khi ảnh hưởng không cố ý của những chất này có thể gây ra độc tố đối với đời sống của con người và môi trường họ sống; và rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền. Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện. Jack Weinstein cho rằng: “Đơn kiện của phía nguyên đơn không dựa trên bất cứ cơ sở nào của luật nội địa của một bang, một quốc gia hay dưới bất cứ hình thức gì của luật quốc tế”. Ông cũng cho rằng nguyên đơn Việt Nam đã không không chứng minh được chính chất độc da cam đã gây ra các loại bệnh tật như liệt kê trong đơn kiện của họ, vì cho đến thời điểm đệ đơn kiện, họ vẫn thiếu các nghiên cứu sâu rộng về ảnh hưởng của chất làm phát quang cây cối có tác động xấu đối với sức khỏe con người.

Ngày 7 tháng 4, 2005 đoàn luật sư đại diện cho các nạn nhân Việt Nam nộp đơn yêu cầu Tòa kháng án liên bang khu vực 2 ở New York xét xử lại và phủ quyết phán quyết trước đây của chánh án Jack Weinstein.

Dự kiến Tòa Phúc thẩm sẽ cho ý kiến có mở phiên xử phúc thẩm hay không vào mùa thu 2006. Ngày 22 tháng 2 năm 2008, Tòa phúc thẩm Liên bang Mỹ tại New York đã ra phán quyết bác đơn kiện của các công dân Việt Nam, nạn nhân chất độc da cam/dioxin chống các công ty hóa chất Mỹ về việc sử dụng chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh Việt Nam. Tòa này đã y án sơ thẩm.

Dư luận quốc tế có nhiều ý kiến phê phán phán quyết này của Tòa phúc thẩm Liên bang Mỹ. Ngày 18 tháng 3 năm 2008, Đoàn Luật sư Hoa Kỳ và Hội Luật gia Dân chủ quốc tế gồm 10 người đã đến Việt Nam để hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nạn nhân trong vụ kiện sắp tới lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.

Ngày 6 tháng 10 năm 2008 nguyên đơn tiếp tục nộp đơn thỉnh cầu lên Tòa án Tối cao Mỹ nhưng đã bị tòa án Tối cao Mỹ bác đơn thỉnh cầu của nguyên đơn vào ngày 2 tháng 3 năm 2009. Phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Vũ Trọng Kim cho là “Việc tòa án Mỹ từ chối lời thỉnh cầu của các nạn nhân Việt Nam là đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện sự công minh của pháp luật và tinh thần yêu chuộng công lý, tôn trọng nhân quyền của nhân dân Mỹ”. Theo luật sư Lưu Văn Đạt, người theo vụ kiện từ đầu cho biết, lý do tòa án Tối cao Mỹ bác đơn kiện của nạn nhân chất độc da cam Việt Nam là theo luật pháp Mỹ, khi một vụ án được gửi đến Tòa phúc thẩm thì nhất định phải được xem xét giải quyết. Nhưng cùng vụ việc đó nếu được gửi lên tòa án Tối cao thì không nhất định phải đưa ra xét xử.[3].

Các nghiên cứu khoa học phục vụ vụ kiện

Các nhà khoa học Việt Nam đã hợp tác với các nhà khoa học Mỹ, Canada, Đức và Nhật Bản đã nghiên cứu và thấy các nạn nhân dioxin có khả năng gây độc của dioxin trong máu cao gấp hàng trăm hoặc hàng ngàn lần mức bình thường. Viện Y khoa Hoa Kỳ cũng đã kết luận các nạn nhân dioxin là các cựu binh Hoa Kỳ tham gia chiến tranh Việt Nam cũng bị các căn bệnh ung thư.[1]

Các lý lẽ và dẫn chứng

Phía nguyên đơn

Bên nguyên đưa ra lập luận rằng các tập đoàn hóa chất đã không tuân thủ theo đơn đặt hàng của Chính phủ Mỹ mà cung cấp các hóa chất có chất độc dioxin. Các công ty cung cấp chất hóa học phát quang cây cối biết chúng có nồng độ dioxin cao và có khả năng hạ nồng độ đó xuống nhưng họ đã không làm vậy vì lý do lợi nhuận. Bên nguyên đơn cũng trích dẫn một cuộc hội nghị năm 1965 mà tại đó, đại diện các hãng hóa chất đã tuyên bố rằng họ biết trong hóa chất diệt cỏ có các chất độc dioxin. Luật sư của bên nguyên là Jonathan Moore cho rằng “Họ (các công ty sản xuất thuốc diệt cỏ) đã cố sản xuất được càng nhanh, càng nhiều chất độc da cam càng tốt vì lo ngại chính phủ phát hiện, cấm sản xuất sẽ giảm khả năng sinh lời của họ”. Luật sư bên nguyên cũng lập luận rằng, số lượng 80 triệu lít chất đốc da cam rải xuống Việt Nam là con số quá mức cần thiết để diệt cỏ. Bên nguyên cũng cho rằng, chính phủ Mỹ đã đặt hàng cho các công ty hóa chất này với yêu cầu không gây tác hại đối với con người. Do đó, việc các công ty vi phạm quy định như thế, gây tác hại nghiêm trọng cho thường dân có thể coi là tội phạm chiến tranh.[4]

Máy bay Mỹ rải chất độc da cam (có màu trắng) xuống Việt Nam.
Hình ảnh một số trẻ em Việt Nam bị hậu quả chất độc da cam

Bên nguyên đơn, với Bs. Dương Quỳnh Hoa và nạn nhân Nguyễn Văn Qúy khẳng định chất độc da cam có màu cam.[5]


Phía bị đơn

Phía bị đơn cho rằng thực chất bên nguyên đang kiện chính phủ Mỹ, đòi chính phủ Mỹ đền bù chiến tranh do họ chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng của chính phủ Mỹ. Bị đơn cũng cho rằng, họ không biết trong thuốc diệt cỏ có chất dioxin gây tác hại cho sức khỏe con người.[4]

Bị đơn khẳng định chất dioxin không phải có màu da cam như bên nguyên đơn khẳng định, mà là có màu trắng và đựng trong các thùng màu da cam (cảnh báo độ nguy hiểm cao).[5]

Bị đơn hỏi cựu bộ đội miền Bắc, ông Nguyễn Văn Quý, và kết luận ông là bộ đội miền Bắc mà xâm nhập miền Nam, vượt qua biên giới vĩ tuyến 17, là bất hợp pháp, là xâm lăng, bằng chứng cho việc bộ đội miền Bắc đã xua quân vào Nam là vi phạm hiệp định Geneve 1954. Do vậy việc ông còn sống trở về đã là một điều may mắn.[5]

Bị đơn kết tội nguyên đơn đã gộp chung vào trong vụ kiện các trường hợp dị tật bẩm sinh, bị thần kinh. Bị đơn tuyên bố việc dị tật là do thiếu acid folic, do ở Việt Nam các sản phụ không có bà nào được cho thuốc acidfolic trước khi cấn thai và hai tuần đầu của thời thai nghén, nên có thể bị dị tật mà không phải do chất độc da cam.[5] Tuy nhiên lập luận về việc thiếu acidfolic của phía Mỹ là không có cơ sở, vì không giống như ở phương tây, chế độ ăn của người Việt Nam thời đó chủ yếu là rau xanh, mà rau xanh chứa rất nhiều acid folic nên không thể có chuyện sản phụ Việt Nam thiếu acid folic được (sản phụ ở các nước lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan… cũng có chế độ dinh dưỡng tương tự, và tỷ lệ dị tật thai nhi ở các nước này rất thấp).

Ý kiến từ cựu binh Mỹ

Năm 1968, ông Elmo R. Zumwalt Jr., bấy giờ mang hàm phó đô đốc, đến đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam. Ngay lập tức, ông đã cho triển khai chiến dịch rải hóa chất làm rụng lá xuống các vùng sông nước ở Việt Nam để bảo vệ hoạt động của Hải quân Mỹ. Đúng 20 năm sau, người con trai Elmo R.Zumwalt III của ông đã qua đời vì bệnh ung thư, hậu quả của phơi nhiễm chất độc da cam thời tham chiến tại Việt Nam. Tác phẩm “Cha con tôi” dựa theo lời thuật của đô đốc Elmo Zumwalt phát hành tháng 11-1996, có đoạn viết:

“Tấn bi kịch của gia đình đô đốc Zumwalt là ở chỗ, chính người cha đã ra lệnh rải chất độc màu da cam lên các cánh rừng và các dòng sông ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, nơi con trai ông làm nhiệm vụ tuần tra dọc các bờ sông. Mệnh lệnh của đô đốc không những tàn phá nhiều cánh rừng, làm ô nhiễm các dòng sông, gây đau khổ cho biết bao nhiêu người dân Việt Nam vô tội, mà còn làm cho chính con trai và cháu nội ông cũng bị nhiễm chất độc màu da cam”.

Năm 1984, từ phán quyết của quan tòa Jack Weinstein, 7 công ty hóa chất Mỹ đã phải bồi thường 180 triệu đô la cho các cựu chiến binh Mỹ nhưng các công ty này bác bỏ trách nhiệm về tác hại của chất diệt cỏ mà họ đã cung cấp cho quân đội[6].

Đô đốc Zumwalt, từ năm 1994 đã trở lại Việt Nam, kết hợp với Hội Cựu chiến binh Việt Nam với mong muốn làm một điều gì đó bù đắp lại mất mát cho các nạn nhân của ông. Khi được hỏi cảm nghĩ, đô đốc Zumwalt nói: “Để có thể vĩnh viễn xếp lại quá khứ một cách yên ả, tốt nhất là Chính phủ Mỹ phải có thiện chí hợp tác với Việt Nam, trả lại món nợ lớn lao mà các công ty hóa chất Mỹ đã gây ra. Nhân chứng sống chính là tôi đây. Tôi cũng có bổn phận góp phần bù đắp. Cũng thế, tại Mỹ, quan điểm của đoàn thể lớn nhất nước Mỹ là Hội Cựu binh Mỹ, là vấn đề người Mỹ mất tích (MIA) chỉ là việc của 2.000 gia đình người Mỹ, còn nạn nhân chất độc dioxin là của 3 triệu người Mỹ.” Con trai ông, luật sư Jim với nhiều hoạt động yểm trợ tư vấn tố tụng quốc tế cho nhiều nhóm nạn nhân, đã giải thích: “Năm 1984, 68.000 cựu binh Mỹ, Úc và New Zealand đã phát đơn kiện 11 công ty hóa chất Mỹ, nhưng các nhà tài phiệt chiến tranh rất quỷ quyệt, đã khôn khéo dàn xếp, chịu bồi thường một ngân khoản chung là 184 triệu USD, để nguyên đơn ký vào thỏa thuận, từ đấy không còn đi kiện nữa. Việc bồi thường này không nhắc gì tới nạn nhân Việt Nam và Hàn Quốc, đó là một điều phi lý và phi nhân”.

Cho tới nay, chính phủ Mỹ và các công ty hóa chất vẫn không công nhận chất dioxin gây dị tật thai nhi với lý do là thiếu bằng chứng thực nghiệm trên người (điều mà sẽ không thể có do dioxin bị cấm thí nghiệm trên người). Chỉ có các cựu binh nữ sinh con dị tật là được bồi thường (nhưng cựu binh nữ chỉ có 10 ngàn người trong tổng số 3 triệu quân nhân Mỹ chiến đấu ở Việt Nam), các cựu binh nam sinh con dị tật thì vẫn không được bồi thường. 30 năm sau cuộc chiến, vẫn không có cuộc điều tra lớn nào với các cựu binh bị nhiễm dioxin. Paul Sutton, cựu chủ tịch của Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, cho rằng chính phủ Mỹ muốn trì hoãn các nghiên cứu để ỉm đi chuyện này bởi chi phí đền bù sẽ rất cao, họ chỉ cần chờ tới khi tất cả các cựu binh của cuộc chiến đều đã qua đời thì sẽ chẳng còn bằng chứng để nghiên cứu nữa[7].

Từ toà án

Hai mươi mục trong phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein ngày 10 tháng 3 về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đối với các công ty hoá chất đã được phân tích của Mandrew Wells-Dang, đại diện Quỹ Hoà giải và Phát triển.[8][9], và [10]).

Danh sách các nạn nhân tham gia kiện

  1. Phan Thị Phi Phi
  2. Nguyễn Văn Quý
  3. Dương Quỳnh Hoa (đã mất tháng 2-2006)
  4. Nguyễn Thị Ngọc Phượng

Những nguyên đơn này đại diện cho khoảng 3 triệu nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam [11]

Các vụ kiện liên quan

Vụ kiện của cựu binh Mỹ tham gia Chiến tranh Việt Nam

Năm 1984 từ phiên tòa của quan tòa Jack Weinstein, một số công ty sản xuất hoá chất đã chi khoảng 180 triệu Mỹ kim cho các gia đình nguyên cáo mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái. Hàng năm, chính phủ Hoa Kỳ chi khoảng 1,5 tỷ USD cho các cựu binh Mỹ tham chiến trong chiến tranh Việt Nam bị ảnh hưởng của chất độc da cam.[12]

Vụ kiện cựu binh Úc

Vụ kiện cựu binh Canada

Vụ kiện cựu binh Hàn Quốc

Ngày 26 tháng 1 năm 2006, toà án dân sự cấp cao Seoul đã đưa ra phán quyết yêu cầu hai công ty sản xuất thuốc diệt cỏ Hoa Kỳ là Dow Chemical tại Midland, MichiganMonsanto tại St. Louis phải bồi thường 62 triệu đô la dành cho phí bồi dưỡng sức khoẻ các cựu binh Hàn Quốc đã từng tham chiến tại Việt Nam. Phán quyết nêu rõ: “bên bị đơn không đảm bảo an toàn khi họ đã sản xuất ra loại hóa chất có nồng độ doxin cao hơn tiêu chuẩn”. Phán quyết này cũng trích dẫn báo cáo của Viện hàn lâm Hoa Kỳ (U. S. National Academy) cho rằng có “một mối quan hệ nhân quả” giữa Chất độc da cam và 11 căn bệnh, bao gồm cả ung thư phổi, ung thư thanh quản cũng như ung thư tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, phán quyết này đã không nhận “mối quan hệ giữa chất độc này đối với căn bệnh về thần kinh ngoại vi, căn bệnh rộng rãi nhất trong các nạn nhân chất độc dioxin.[13]

Các hoạt động xã hội liên quan

Ở Việt Nam

Hành trình cam: hành trình đi bộ xuyên Việt của cựu chiến binh Mỹ Bernie “Doc” Duff và người bạn đời Việt Nam của ông Nguyễn Thị Bảo Anh khởi xướng, nhằm gây dư luận ủng hộ các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam và để gây quỹ giúp họ trở lại cuộc sống bình thường[14]

Trang web ký tên vì công lý do ông Len Aldis lập đã nhận được 700.000 chữ ký ủng hộ.[2]

Ở Hoa Kỳ

Giữa tháng 11 năm 2005, đoàn nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đã thực hiện một chuyến đi vòng quanh nước Mỹ để kêu gọi sự ủng hộ của dư luận Mỹ đối với vụ kiện. Họ đã đi đến các thành phố lớn của Mỹ như: Thành phố New York, Washington D.C., San Francisco.[15]

Các nơi khác

Hội cựu chiến binh Hàn Quốc là nạn nhân chất độc da cam đã có tuyên bố ủng hộ các nạn nhân dioxin Việt Nam.[16]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă “Agent Orange victims battle new front: chemical giants”. Vietnamnews. 26 tháng 7 năm 2004.
  2. ^ a ă “Support for Agent Orange victims”. greenleft. 12 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2012.