XỨ BẮC HÀ THỜI LÊ MẠT – HỒI 2

Phim Xứ Bắc Hà thời Lê mạt - Đêm hội Long TrìPhim Xứ Bắc Hà thời Lê mạt – Đêm hội Long Trì

KIẾN HÀO


Vụ án năm Canh Tý (1780)

Lại nói về Thế tử Trịnh Tông do Thái phi họ Dương tên Ngọc Hoan đẻ ra. Nguyên bà được tuyển vào cung đã lâu mà không được chúa đoái hoài tới, một hôm đem việc nằm mơ thấy hình rồng kể cho viên quan hầu là Khê Trung hầu nghe, vị này biết chắc là điềm sinh thánh [1] . Đêm sau, khi Trịnh Sâm cho vời cung tần Ngọc Khoan vào hầu, Khê Trung hầu cố ý nghe lầm, đưa thái phi Ngọc Hoan vào. Thấy bà, chúa có vẽ không thích, nhưng đã trót gọi đến, không nỡ đuổi ra. Sau đó Khê Trung hầu bị gọi vào trách mắng, mới cúi đầu tạ tội và kể lại chuyện nằm mơ trên. Sau cơn mưa móc, Thái phi sinh ra một trai là Trịnh Tông (có sách chép là Trịnh Khải), nhằm năm Quý Mùi, Cảnh Hưng thứ 24 (1763).

Thói thường ghét mẹ giận lây con, nên chúa Trịnh viện cớ con thứ phi, không phải chính thất; Thái phi lại có gốc là dân làng Long Phúc (Trịnh Cối, Trịnh Lệ là hai vương tử mưu đồ soán ngôi chúa, đều do người Long Phúc đẻ ra) nên không nhận lời chúc mừng (sinh con trai) của các quan. Việc chăm sóc học hành của Thế tử cũng qua loa, đại khái ít nhận được sự quan tâm của chúa Trịnh. Năm Thế tử 15 tuổi, đúng lệ phải được mở phủ đệ riêng, nhưng Trịnh Sâm lờ đi, có ý chờ người khác. Năm ấy cũng là năm vương tử Cán ra đời, nên lòng người phân vân chia hai phe, mầm họa bắt đầu nảy nở từ đó.

Mấy năm sau, chứng bệnh cũ của Trịnh Sâm tái phát, có lúc thuyên giãm, có lúc nguy kịch, lại hạn chế người ra vào thăm viếng nên tin đồn đoán lan ra ngoài kinh thành rất nhiều. Trịnh Tông nhiều lần muốn vào tẩm thất để thăm hỏi bệnh tình, nhưng Tuyên phi  (Thị Huệ) sai người ngăn trở không cho vào. Trịnh Tông lo lắng bàn với bọn gia thần :

-Vương thượng mắc bệnh mà ta không được vào chầu. Vạn nhất nếu xảy ra biến cố như ở Sa Khâu (Tần Thủy Hoàng chết đột ngột, hai cố mệnh đại thần Lý Tư, Triệu Cao âm mưu sửa di chiếu, tráo người nối ngôi), thì ta phải toan tính trước như thế nào ?

Bọn này bèn khuyên Thế tử nên ngấm ngầm sắm sửa binh khí, chiêu mộ binh lính : nếu trong phủ có chuyện chẳng lành, thì lập tức đóng cửa thành, giết Quận Huy Hoàng Đình Bảo (sau đổi là Hoàng Tố Lý), bắt giam mẹ con Thị Huệ rồi báo hai viên trấn thủ Kinh Bắc, Sơn Tây đem quân về hộ vệ, gây áp lực buộc các đại thần phải tôn phò Thế tử lên ngôi chúa. Thế tử nghe lời, bèn chu cấp tiền bạc cho bọn chúng mộ quân, lại sai người đi mật báo cho hai viên Trấn thủ. Sắp xếp vừa xong thì bệnh Trịnh Sâm cũng vừa thuyên giảm, âm mưu của Thế tử hơi bị lộ.

Nguyên hồi ấy có tên Nguyễn Huy Bá, người ở Gia Lâm, tính tình nham hiểm giảo hoạt , trước đó do tham ô mà bị bãi chức, nay chuyên nghề tố cáo người khác để kiếm bổng lộc, quan tước. Hắn cho con dâu vào làm thị tỳ cho Thị Huệ, hàng ngày kể xấu Trịnh Tông để lấy lòng; một mặt cài người vào làm môn hạ cho hai viên trấn thủ Sơn Tây, Kinh Bắc để dò xét tình hình, chính nhờ vậy mà Huy Bá biết được cơ mưu của Thế tử, bèn báo ngay cho Thị Huệ.

Thị Huệ đem việc đó bàn với Quận Huy, Huy nhận đơn tố cáo của Huy Bá bỏ vào ống tay áo, tự mình đến phủ chúa, đuổi hết mọi người chung quanh rồi đem thư trình chúa.
Trịnh Sâm muốn trị tội ngay nhưng Quận Huy can rằng :

– Sở dĩ Thế tử dám làm chuyện đại nghịch này là do có sự giúp sức của hai viên Trấn thủ kia. Ném chuột sợ vỡ đồ, nay xin hãy ban lệnh triệu hồi hai người kia về Kinh trước đã, sau mới bắt giam và luận tội, như vậy sẽ tránh được những biến cố khác.

Trịnh Sâm cho là phải. Hôm sau Thế tử Trịnh Tông bị đòi vào cung, Trịnh Sâm giả cách quở mắng việc sao nhãng học hành rồi bắt ở riêng ra một nơi, cho người đến giảng dạy, không cho ra ngoài (thực chất là giam lỏng). Trấn thủ Sơn Tây Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Lệ (Khản) vâng lịnh về triều, không ngờ tay chân thân tín đã bị bí mật bắt hết, bản thân ngồi chờ định tội ở nhà Tả xuyên. Kịp khi Trấn thủ Kinh Bắc Khê Trung hầu Nguyễn Khắc Tuân về tới Kinh, cả hai lập tức bị bắt giam, cùng a bảo Hân Quận công Nguyễn Phương Đỉnh là thầy dạy của Thế tử. Bọn gia thần của Thế tử là Đàm Xuân Thụ, Thế và Thẩm bị đem ra tra khảo đều nhận tội. Vụ án được giao xuống cho các quan tra xét.

Lại nói, lúc ấy ở trấn Kinh Bắc có viên Đốc đồng [2] là Ngô Thì Nhậm, tiến sĩ khoa Ất Mùi (1775) vốn là gia thần và tuỳ giảng của Thế tử, một hôm tiếp tên học trò đang giữ sách cho Thế tử là Hà Như Sơn (Sơn Thọ), do Thế tử cử lên thông báo cơ mưu và lịnh cho Thì Nhậm lên vùng Cao Bằng Lạng Sơn lùng mua ngựa tốt để dùng vào việc binh. Thì Nhậm hoảng sợ, vội đem hết câu chuyện kể cho Khắc Tuân, nhưng viên trấn thủ Kinh Bắc này gạt đi (do đã biết trước), khuyên Thì Nhậm nên giữ kín việc này. Cùng về Kinh theo lệnh triệu hồi, tuy không bị giam nhưng tình thế của Thì Nhậm cũng rất nguy kịch. Nhận lời khuyên của Huy Bá và để giữ mình, Thì Nhậm bèn làm tờ khải tố cáo hết mọi âm mưu của Thế tử. Nhận được tờ khải, Trịnh Sâm nổi giận giao cho Thì Nhậm tra xét vụ án đó, chưa kịp làm thì được tin cha mất, Thì Nhậm phải về chịu tang. Vụ án được giao lại cho Nghĩa Phái hầu Lê Quý Đôn, Bảng nhãn khoa Nhâm Thân (1752 ) tra xét.

Theo Việt sử Thông giám Cương mục, khi nghe con là Ngô Thì Nhậm bàn việc tố cáo Thế tử, Ngô Thì Sĩ đã cố sức can ngăn nhưng Nhậm vẫn không nghe. Đến khi hay tin Nhậm đã phát giác việc ấy, Thì Sĩ bèn uống thuốc độc tự vận. Nhờ có công tố giác tội phạm, Thì Nhậm được thăng Hữu Thị lang Bộ Công (thứ trưởng bây giờ), trong dân gian mới có câu :“ Sát tứ phụ nhi thị lang ”, nghĩa là giết bốn người để được làm Thị lang, tứ phụ gồm Thì Sĩ (cha), Khắc Tuân, Chu Xuân Hán và Nguyễn Phương Đỉnh (bạn của cha).

Kết quả, hai viên trấn thủ phải chịu tội chết nhưng gia ân cho tự xử (uống thuốc độc ), viên a bảo Nguyễn Phương Đỉnh bị kết tội nuôi dưỡng Thế tử không nên người, phải bị cách hết quan chức đuổi về quê; bọn Thụ , Thế, Thẩm đều chịu tội trảm, bọn liêu thuộc của Hồng Lĩnh hầu và Khê Trung hầu vì liên đới với chủ nên phải chịu tội chết cũng nhiều. Thế tử Tông bị truất xuống làm con út, suốt đời giử đạo làm tôi, ở trong gian nhà kín không được tiếp xúc với người bên ngoài. Như vậy ngôi Thế tử kể như bỏ không, nhưng mọi người đều biết sớm muộn sẽ được trao về tay Trịnh Cán, nên thế lực Thị Huệ ngày càng thêm mạnh, trong khi bọn bầy tôi của Trịnh Tông đều xa lánh chủ cũ, mỗi người lẩn trốn đi mỗi nơi.

Tháng 10 năm Tân Sữu (1781), nghe tin Trịnh Sâm có ý lập Trịnh Cán làm Thế tử, bà Thái Phi Nguyễn thị (tức bà nội Trịnh Tông) bèn vào cung nói với Trịnh Sâm :

Tông với Cán đều là cháu nội già này, thực không xem ai hơn ai. Nhưng nghĩ rằng Tông đã trưởng thành còn Cán thì nhỏ tuổi lại hay đau yếu luôn, khuyên vương thượng hãy nghĩ đến tông miếu xã tắc, tạm thời để trống ngôi Thế tử, chờ xem Tông có ăn năn hối lỗi hay không. Bằng không thì chờ khi Cán lớn khôn rồi lập, tưởng cũng không muộn gì.

Trịnh Sâm đáp :

– Việc lớn của nước nhà, cốt sao tìm được người xứng đáng để phó thác. Tên Tông và Cán, đối với mẹ là cháu, chưa bằng đối với tôi là con. Người xưa đã nói: “ Biết con không ai ngoài cha”, nay nếu không sớm định người nối ngôi, bọn tiểu nhân đâm ra dòm nom, trông chờ, tôi e tai họa sẽ xảy ra không biết lúc nào. Nếu như bệnh tình của Cán không khỏi thì thà lập Côn Quận công (Trịnh Bồng – KH ), trả lại cơ nghiệp cho nhà bác [3] chứ không thể phó thác cho đứa con bất hiếu , để nó làm hỏng cơ nghiệp của tổ tiên được.

Thái phi không dám nói thêm gì nữa. Trịnh Sâm bèn làm tờ tâu, xin vua cho lập Vương tử Cán làm Thế tử. Lúc ấy Trịnh Cán mới 5 tuổi. Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782), bệnh chúa Trịnh trở nặng. Thường ngày chúa ở luôn trong cung để tránh nắng gió, thắp nến suốt ngày đêm. Các quan muốn trình báo việc gì đều do quan hầu đem tờ khải vào, Chúa muốn phán việc gì cũng do quan thị truyền chỉ ra. Thái phi và các công chúa cũng ít khi được diện kiến, chỉ đứng ngoài cửa buồng hỏi thăm qua bọn thị thần mà thôi. Trừ có Quận Huy và Thị Huệ là được ra vào thường xuyên. Nhân đó, Thị Huệ bèn nói với Trịnh

Sâm rằng :

– Thiếp thờ chúa thượng, nhờ ơn được quá yêu thương thành ra nhiều kẻ thù ghét, không biết rồi đây mẹ con thiếp gởi thân vào đâu.

Trịnh Sâm an ủi rằng :

– Danh vị Thế tử đã định rõ, nước là nước của nó, sau này khanh sẽ là mẹ của thiên hạ, kẻ nào còn thay đổi được ?

Bấy giờ Quận Huy cũng ở đó, Trịnh Sâm bèn ủy thác cho Huy làm phụ chính, nhân đó Quận Huy đề cử thêm sáu phụ chính đại thần cùng nhận cố mệnh : Khanh Quận công Trịnh Kiều, Hoàn Quận công Nguyễn Hoàn, Tứ Xuyên hầu Phan Lê Phiên, cùng bọn hoạn quan là Châu Quận công, Diễm Quận công và Thùy Trung hầu. Quận Huy liền sai Tứ Xuyên hầu thảo tờ cố mệnh (di chiếu) cho Trịnh Cán lên thay, Thiêm sai Nhữ Công Điển làm tờ sắc sách phong Tuyên phi cho Thị Huệ, dấu trong tay áo mà vào cung. Nhưng khi ấy Trịnh Sâm đã quá yếu không thể tự điền tên Cán vào tờ cố mệnh nên Quận Huy xin cho Trịnh Kiều ghi thay. Trịnh Sâm gật đầu đồng ý, ghi xong dâng lên thì Trịnh Sâm mắt nhắm nghiền không biết gì nữa, chỉ một lát sau là mất, thọ 44 tuổi (1739 –1782). Bữa ấy là nhằm ngày 13 tháng 9 năm Nhâm Dần (1782).

Tờ cố mệnh và sắc sách phong được dâng lên vua Lê, ngay hôm ấy vua hạ sắc dụ lập Thế tử Trịnh Cán làm Điện Đô Vương. Trăm quan đồng lạy chào chúa mới, xong tất cả thay triều phục mặc áo trở để làm lể phát tang. Kể từ đó, Huy Quận công Hoàng Đình Bảo quyết định mọi việc lớn nhỏ trong triều chính, vì chúa còn nhỏ nên người trong nước ngờ rằng sớm muộn sẽ có “Lê Hoàn thứ hai” xảy ra [4] . Ngoài chợ người ta bàn tán xôn xao, lại có kẻ đặt câu ca dao :

“ Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy Quận vào sờ chính cung”

Lại cũng có câu :

“Đục cùn thì giữ lấy tông
Đục long cán gãy còn mong nỗi gì”

Huy nghe tin bèn sai quan Đề Lĩnh đem móc sắt và kéo treo khắp chợ, dọa rằng ai còn tụ

tập bàn chuyện phiếm thì sẽ cắt lưỡi đi. Từ đó mọi người chỉ lấy mắt nhìn nhau chứ không dám nói chuyện công khai như trước nữa. Lòng người ly tán, ai ai cũng ghét Quận Huy và Thị Huệ nhưng vì sợ uy nên chỉ dám lén đồn đoán chổ riêng tư mà thôi.

(còn tiếp)

KIẾN HÀO


Chú thích :

  1. Thực ra vai trò của hoạn quan trong hậu cung rất quan trọng, các cung phi muốn được biết tin tức đều phải mua chuộc họ. Trường hợp này có khi cũng vậy, nghĩa là Khê Trung hầu có thể đã nhận “ bồi dưỡng ” rồi nên cố tình tráo người !
  2. Đốc đồng : chức quan coi việc hình (xét xử, ngục tụng) ở trấn.
  3. Năm 1740, Trịnh Doanh (cha Trịnh Sâm) làm binh biến, cướp ngôi chúa của anh là Trịnh Giang. Như vậy Trịnh Sâm và Trịnh Bồng là anh em chú bác.
  4. Năm 980, lợi dụng vua Đinh còn nhỏ tuổi, Lê Hoàn thông dâm với Thái hậu Dương Vân Nga và làm binh biến soán ngôi, lập ra triều (Tiền) Lê. Dương Vân Nga được lập làm Hoàng hậu, Đinh Toàn bị phế làm Vệ Vương, sau đó bị Lê Hoàn giết đi.

Trở về Trang Kiến Hào  * HOME