LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ – HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG

 

LM_NguyenVanLy_02df5e3-tc394iphe1baa2ise1bb90ng

HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG CỦA LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ

01.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 1 VÀ 2

 *
 *
 *

05.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 9 VÀ 10

06.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 11 VÀ 12

07.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 13 VÀ 14

08.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 15 VÀ 16

09.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 17 VÀ 18

10.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN19 VÀ 20

11.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 21 VÀ 22

12.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 23 VÀ 24

13.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 25 VÀ 26

14.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 27 VÀ 28

15.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 29 VÀ 30

16.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 31 VÀ 32

17.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 33 VÀ 34

18.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 35 VÀ 36

19.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 37 VÀ 38

20.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 39VÀ 40

21.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 41 VÀ 42

22.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 43 VÀ 44

23.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 45 VÀ 46

24.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 47 VÀ 48

25.  TÔI PHẢI SỐNG – LM NGUYỄN HỮU LỄ – PHẦN 49 VÀ 50

26.  PHẦN TỘI ÁC CỦA BÙI ĐÌNH THI

01-Nguyen-Van-Ly-1080-1024x576

PHẦN VIẾT VỀ TỘI ÁC BÙI ĐÌNH THI TRONG TRẠI TÙ THANH CẨM (Phần I + Phần II)
Dưới 2 phần này là phần nói về cái chết của Bùi Ðình Thi

Tội Ác Bùi Ðình Thi Tại Trại Tù Thanh Cẩm – Phần I

2 vụ án bi thảm trong trại tù Thanh Cẩm hay  – Một vấn đề của lương tâm

Theo tin tức của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, hiện Sở Di Trú Hoa Kỳ đang tiến hành thủ tục trục xuất Ông Bùi Ðình Thi, một cựu tù cải tạo, vì tội đã hợp tác với chính quyền Việt cộng, ngược đãi các bạn tù tại trại Thanh Cẩm trong những năm 1978 và 1979. Trong trại cải tạo, Thi đã đánh chết cựu dân biểu Ðặng Văn Tiếp và ông Lâm Thành Văn, và đã tra tấn nhiều tù nhân khác như đại tá Trịnh Tiếu, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, ông Nguyễn Sỹ Thuyên và nhiều người khác. Nhiều nạn nhân sau này đã đi định cư Hoa Kỳ trong chương trình HO dành cho cựu tù cải tạo. Ông Thi cũng đã đến Hoa Kỳ cuối năm 1994 theo chương trình tị nạn này và hiện định cư ở Quận Cam.

Theo luật tị nạn quốc tế, những ai đã vi phạm nhân quyền của người khác thì không được hưởng quyền tị nạn. Chính phủ Hoa Kỳ đã không biết về việc làm của Ông Thi thời gian trong tù cải tạo khi chấp nhận cho ông nhập cảnh Hoa Kỳ. Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều nhân chứng, tháng 12 năm 1999, Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển đã cung cấp tài liệu, hình ảnh, và danh sách nhân chứng cho văn phòng Cố Vấn Pháp Lý của Sở Di Trú và yêu cầu tiến hành điều tra sự vụ. Hồ sơ sau đó được chuyển về Văn Phòng Di Trú tại Los Angeles để xử lý. Văn phòng này đã liên lạc với nhiều nhân chứng để phối kiểm và tuần qua đã được lệnh của văn phòng trung ương tiến hành thủ tục trục xuất. Bước đầu của thủ tục này là thu hồi thẻ xanh. Hồ sơ của ông Thi sẽ được đưa ra toà án di dân vào tháng 5 tới đây. Ngoài trường hợp của ông Thi ra, Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển đang quan tâm đến đường dây đánh tráo hồ sơ để gài cán bộ cộng sản xâm nhập Hoa Kỳ theo các chương trình tị nạn. Nếu bị phát hiện, những trường hợp này cũng sẽ bị thu hồi thẻ xanh hay quốc tịch Hoa Kỳ và bị trục xuất.

Việc gài cán bộ cộng sản qua con đường tỵ nạn là việc làm được chính phủ CS Hà Nội theo đuổi trong suốt nhiều thập niên không riêng với quốc gia Hoa Kỳ mà còn nhiều quốc gia khác trong đó có Úc Ðại Lợi. Hy vọng, việc Bùi Ðình Thi bị Mỹ trục xuất và sự quan tâm của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển tại Mỹ đối với các cán bộ cộng sản xâm nhập Hoa Kỳ theo chương trình tỵ nạn, sẽ là bài học qúy giá giúp cộng đồng người Việt tại Úc có những việc làm cầp thiết tương tự.

Sau đây, chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng qúy qúy độc giả bài viết của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, một nạn nhân từng bị Bùi Ðình Thi đánh đập vô cùng dã man, đồng thời là nhân chứng, chứng kiến Bùi Ðình Thi giết chết thiếu tá dân biểu Ðặng Văn Tiếp và ông Lâm Thành Văn tại trại cải tạo Thanh Cẩm, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa.

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã viết bài viết này từ năm 1995, và chúng tôi đã nhận được bài viết vào năm 1996. Thời điểm đó, sau khi cân nhắc, chúng tôi thấy việc gợi lại một bi kịch thương tâm trong lòng độc giả là điều không cần thiết, nên đã không đăng tải. Nay, trước sự việc Bùi Ðình Thi bị Mỹ trục xuất, chúng tôi thấy tội ác của Thi cần phải được bạch hóa để có thể đạt ba mục đích:

Thứ nhất, những ai trong quá khứ đã chứng kiến những tội ác của cộng sản, dù ít, dù nhiều đều có trách nhiệm làm sáng tỏ sự thưởng phạt của công lý.

Thứ hai, những người cộng sản đã gây tội ác, hoặc đang ở vị thế quyền lực có thể gây tội ác, hãy lấy Bùi Ðình Thi làm gương. Thời đại hôm nay, cùng với những phát triển về khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí thế giới về tự do dân chủ gia tăng, và khả năng thực thi công lý có tính toàn    cầu, chắc chắn những hành động độc tài, những tội ác phi nhân, cụ thể như Milosevic, Pinochet, Bùi Ðình Thi… không sớm thì muộn đều phải đền tội. Lãnh tụ Nelson Mandela, khi trở thành tổng thống Cộng Hòa Nam Phi đã chấp thuận cho thành lập tòa án công lý, xét xử những cá nhân vi phạm những tội ác diệt chủng, đã tuyên bố: Một tội ác, dù xảy ra ở bất cứ đâu, trong bất cứ giai đoạn nào, núp dưới bất cứ danh nghĩa nào, cũng vẫn là tội ác. Chỉ khi nào tội ác đó được xét xử và trừng phạt một cách quang minh, khi đó, kẻ phạm tội và người bị tội mới thực sự thoát khỏi những ràng buộc ân oán, hận thù truyền kiếp, và trật tự xã hội, phúc lợi của những thế hệ tương lai mới được bảo đảm.

Thứ ba, Bùi Ðình Thi là người đã có những hành động tàn nhẫn, vi phạm nhân quyền, nhưng đã núp dưới danh nghĩa tỵ nạn chính trị, để được nhập cảnh Hoa Kỳ. Sự tỵ nạn thành công của Bùi Ðình Thi trong thời gian qua đã khiến những người cộng sản Việt Nam hy vọng, tương lai, một khi tình hình chính trị tại VN có những biến chuyển bất lợi cho cộng sản, họ sẽ đào thoát khỏi VN, và xin tỵ nạn chính trị tại các quốc gia tự do trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những người cộng sản nên hiểu, ngay cả trường hợp Bùi Ðình Thi không phải là gián điệp cộng sản, tư cách tỵ nạn của Thi cũng bị bác bỏ. Bằng chứng, Thi đang bị chính phủ Mỹ trục xuất. Những người cộng sản nên nhớ, tỵ nạn chính trị là đặc quyền dành riêng cho những người vì lý do chính trị mà bị bạc đãi, bị hành hạ. Tuyệt nhiên không dành cho những kẻ như Milosevic, như Bùi Ðình Thi, hoặc những người cộng sản có tội ác khác. Vì vậy, mọi mưu toan của cộng sản Việt Nam, coi “tỵ nạn chính trị” như là một giải pháp trốn tránh công lý một khi tình hình trị và xã hội tại Việt Nam có những biến chuyển bất lợi cho cộng sản, đều là ảo tưởng.

Sau đây, mời qúy độc giả theo dõi phần một bài viết của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ.

Trong suốt 17 năm qua, nhiều lần tôi định ngồi ghi lại một vụ sát nhân dã man đã làm nhiều người phải kinh ngạc, mà tôi vừa là một nhân chứng vừa là một trong những nạn nhân may mắn còn sống sót. Nhưng mỗi lần cầm bút để ghi lại, tôi vẫn phân vân tự hỏi: Có ích lợi gì đâu việc khơi lại đống tro tàn của quá khứ? Việc ghi lại này sẽ có tác dụng như thế nào đối với thủ phạm, đối với các bạn tù, đối với thân nhân và những người quen biết tôi, đối với thân nhân và những người quen biết thủ phạm…, và cả đối với những người sẽ đọc câu chuyện này? Với tư cách là một linh mục, tôi có nên ghi lại những điều mà tôi biết sẽ gây nên những sự đau xót hay công phẫn nơi nhiều người hay không? Tuy nhiên, mỗi khi nhớ tới câu chuyện kinh hoàng này là tim tôi đau nhói như có ai đang rạch lại vết thương lòng tuy đã lâu năm nhưng còn rướm máu của tôi.

Sau nhiều năm tháng suy nghĩ và nói chuyện với nhiều người quen thân, tôi thấy đã đến lúc phải nói lên tất cả sự thật của vụ sát nhân đó để làm sáng tỏ những khúc mắc đang âm ỉ làm nhức nhối tâm hồn của nhiều người, trong số đó có tôi, và để rút ra một bài học cho những người vì những suy nghĩ nông nổi đã hành động bất chấp lương tri để mưu cầu những lợi ích thấp hèn. Ðây là câu chuyện về vụ giết người thật dã man trong nhà tù CS mà thủ phạm không phải là cán bộ CS hay một can phạm hình sự, mà là một chiến hữu đã từng chiến đấu trong QLVNCH, sau đó là một người bạn tù trước khi trở thành kẻ sát hại người đồng cảnh ngộ như mình. Ðiều đau lòng hơn nữa đối với tôi, thủ phạm lại là một tín đồ Công giáo.

Khi phải ngồi viết lại những dòng này, lòng tôi đau đớn vô cùng. Tôi dùng chữ “phải ngồi viết lại” vì trước đây tôi đã cố chôn vùi câu chuyện kinh hoàng này vào dĩ vãng. Tôi nghĩ rằng người chết thì đã chết rồi, còn thủ phạm thì ung dung sống dưới sự che chở của chế độ CS, nên viết lại cũng chẳng ích lợi gì. Nay thủ phạm đã được đến Hoa Kỳ theo chương trình HO và hiện đang sống ung dung tại một đất nước tự do, ở ngay bên cạnh những nạn nhân của mình, những người thân yêu của nạn nhân và những đồng bào đã phải bỏ nước ra đi để thoát khỏi chế độ bạo tàn của CS. Sự có mặt của thủ phạm đã khơi lại nỗi đau đớn cho nhiều người, trong đó có tôi. Nhiều anh em bạn tù đã thúc giục tôi phải nói lên sự thật để xác định một thái độ, dù đó là một thái độ bao dung, vì đây là vấn đề của lương tâm.

Thủ phạm là Bùi Ðình Thi, một cựu Ðại úy của QLVNCH. Khi được chuyển đến trại Thanh Cẩm, một trại nằm sát biên giới Việt – Lào thuộc tỉnh Thanh Hóa, Bùi Ðình Thi đã lập nhiều “công trạng” với ban giám thị trại nên đã được ban giám thị cho giữ chức Trật Tự, một chức có nhiệm vụ canh chừng và theo dõi mọi hoạt động của các tù nhân trong trại. Với trách vụ này, Bùi Ðình Thi đã không từ chối bất cứ hành động nào, kể cả đánh đập và giết chết người đồng cảnh, để lấy lòng Công an VC với hy vọng được về sớm. Nạn nhân của Bùi Ðình Thi rất nhiều, trong đó có một cựu Thiếu tá phi công và là Dân Biểu của VNCH ngày trước. Anh đã bị đánh đập dã man cho đến chết. Một nạn nhân khác là một bạn tù thuộc tổ chức Phục Quốc đã bị đánh đập và bỏ cho chết đói. Và rất nhiều nạn nhân khác, trong đó có một số linh mục, đã bị đánh đập và hành hạ bằng đủ mọi hình thức. Bùi Ðình Thi và gia đình mới được đến định cư tại Hoa Kỳ theo danh sách HO trong vòng 2 năm nay (vào thời điểm 1995).

Trong chuyến đi Âu Châu tháng 7/1995, tôi có ghé qua California một thời gian để thăm các bạn bè, đa số là các bạn cựu tù nhân chính trị và những người tôi quen biết khi tôi phục vụ trong trại tị nạn tại Thái Lan. Các bạn cựu tù thuộc trại Thanh Cẩm khi vừa gặp tôi, ai cũng hỏi: “Cha đã gặp Bùi Ðình Thi chưa? Bùi Ðình Thi hiện ở Santa Ana”. Từ đó Bùi Ðình Thi trở thành đề tài chính trong các câu chuyện giữa các anh em cựu tù nhân chính trị chúng tôi. Sau đó, tôi sang Pháp và một số nước Âu Châu. Tại đây, tôi có dịp gặp một số anh em cựu tù nhân chính trị, họ cũng lôi Bùi Ðình Thi ra làm đề tài khi nói chuyện, mặc dầu có người không hề ở chung trại Thanh Cẩm với tôi. Trên đường về Tân Tây Lan vào trung tuần tháng 8/95, tôi có ghé lại Orange County một lần nữa. Trong lần thăm viếng anh em này, tôi đã có dịp nói chuyện với Bùi Ðình Thi qua điện thoại. Thành thật mà nói, với tâm tình và cuộc sống đời linh mục của tôi, trong thâm tâm tôi đã tha thứ cho Bùi Ðình Thi. Nhưng những hậu quả mà Bùi Ðình Thi đã gây ra khi còn ở trong trại Thanh Cẩm vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Tôi và một số anh em vẫn nghĩ rằng tôi có trách nhiệm phải tường thuật mọi chuyện đã xảy ra để giúp Bùi Ðình Thi có sự sám hối thật sự ở trong lòng, và những người khác khi ở vào hoàn cảnh của Bùi Ðình Thi, đừng vì những suy nghĩ nông cạn mà gây đau khổ cho đồng loại. Trước hết tôi muốn dùng những hàng chữ này như một nén hương lòng thắp lên trước bàn thờ 2 anh Ðặng Văn Tiếp và Lâm Thành Văn, 2 nạn nhân đã bị Bùi Ðình Thi sát hại, để cầu cho vong linh 2 anh được nhẹ nhàng nơi thế giới bên kia, nơi mà tôi nghĩ rằng không còn có hận thù hay khổ ải như cái địa ngục trần gian Thanh Cẩm mà chúng tôi đã một thời phải sống ở đó. Tiếp đến, qua bài này, tôi xin gởi đến những anh em tù nhân đã từng bị Bùi Ðình Thi hành hạ, đánh đập như tôi để chia xẻ những tổn thương mà chúng ta phải gánh chịu trong suốt cả cuộc đời còn lại. Tôi cũng xin gởi đến thân nhân của các nạn nhân lời phân ưu của chúng tôi về những đau thương mà quí vị phải gánh chịu qua cái chết tức tưởi của người thân. Tôi cũng hy vọng rằng câu chuyện này sẽ góp phần vào việc làm đồng bào và thế giới biết rõ hơn cái gọi là “trại cải tạo” của CS và những phương thức bạo tàn mà CS đã xử dụng để xây dựng và củng cố quyền bính. Tôi ước mong rằng bài hồi ký này sẽ được ghép vào phần cuối của các hồi ký về trại cải tạo mà các anh em cựu tù nhân chính trị đã và đang viết ra.

Chức vụ trật tự

Như tôi đã trìng bày ở trên, Bùi Ðình Thi, một tù nhân chính trị, đã lập được nhiều “công trạng” để VC tin tưởng và cho giữ chức Trật Tự ở trong trại tù Thanh Cẩm, và đã lợi dụng chức vụ đó để tiếp tục lập công bằng cách hành hạ, đánh đập và hạ sát các người tù đồng cảnh. Do đó, trước tiên tôi xin trình bày qua vài dòng về chức Trật Tự ở trong một trại tù CS.

Các trại tù do Công an quản lý thường được tổ chức như sau: Ðứng đầu trại là một Ban Giám Thị gồm Trại trưởng, Trại phó và các Ban, Ngành lo về các phần vụ chuyên môn như Ban Giáo Dục, Ban An Ninh, Ban Hồ Sơ… Những người bị giam giữ được phân thành từng đội, mỗi đội do một tù nhân làm Ðội trưởng và một cán bộ quản giáo trông coi. Ðội trưởng do Ban Giám Thị trại chỉ định theo đề nghị của Ban An Ninh. Mỗi khi các tù nhân được di chuyển ra khỏi trại, như đi lao động sản xuất chẳng hạn, phải có 1 hoặc 2 cán bộ võ trang vác súng dài đi theo canh giữ. Ban đêm, các cán bộ võ trang này thay nhau tuần tra trong và ngoài vòng rào của trại để ngăn ngừa tù nhân trốn trại. Trực tiếp lo về sinh hoạt và đời sống của tù nhân có Ban Trưc Trại, đứng đầu là một cán bộ trực trại. Ðể điều hành công việc trong trại, cán bộ trực trại thường chọn một số tù nhân được trại tín nhiệm để phụ trách các công tác trật tự, y tá, văn hóa, thi đua, v.v… Những người phụ trách các công tác này cũng do Ban Giám Thị chỉ định theo đề nghị của Ban An Ninh và Ban Trực Trại. Trong các công tác nói trên, công tác trật tự được coi là quan trọng nhất, do một Trật Tự điều hành. Anh này có quyền hành nhất trong trại, chỉ sau cán bộ CS mà thôi. Muốn làm chức Trật Tự phải có nhiều công trạng với trại, được trại tín nhiệm, và cũng phải có sức mạnh. Ngoài nhiệm vụ trông coi trật tự trong trại, Trật Tự còn phụ giúp cán bộ trực trại trong coi khu kiên giam, như khoá còng các còng các tù nhân bị kỷ luật vào buổi tối và tháo ra vào buổi sáng. Những tù nhân được coi là nguy hiểm, bị cùm cả ngày lẫn đêm, có khi hết tháng này đến tháng khác, năm nọ sang năm kia. Trật tự cũng có nhiệm vụ gánh khẩu phần cho các tù nhân bị kiên giam mỗi ngày 2 lần, đi diểm danh với cán bộ trực trại mỗi buổi tối và khóa cửa buồng, mở cửa các buồng vào buổi sáng, v.v… Trật tự còn được giao cho nhiều công tác linh tinh khác. Mỗi lần Trật tự lên làm công tác trên khu kiên giam thường có cán bộ đi theo. Cũng có những người tuy không có “công trạng” nhiều đối với trại, nhưng nhờ đút lót tiền của cho cán bộ trực trại và cán bộ an ninh nên được cho làm Trật Tự, vì làm Trật Tự không phải đi lao động vất vả như các tù nhân khác và được tự do hơn.

Tôi đã sống qua nhiều trại, kể cả những trại do một phạm nhân hình sự làm Trật Tự, tôi thấy đa số các anh Trật Tự chỉ là nhiệm vụ mà Ban Trực Trại giao phó, có khi còn lợi dụng chức vụ này để giúp đỡ anh em đồng cảnh như anh Nguyễn Văn Bảy (thường được gọi là Bảy Chà) ở trại Thanh Cẩm chẳng hạn. Có những anh tù hình sự làm Trật Tự thường hống hách đối với cá tù nhân hình sự, nhưng ít khi đối xử tệ các anh em tù nhân chính trị. Cũng có những anh lợi dụng chức vụ Ban Trực Trại giao phó để sách nhiễu, chửi bới hay đánh đập anh em, nhưng hung bạo và tàn ác như Bùi Ðình Thi chỉ là trường hợp họa hiếm.

Trại tù Thanh Cẩm

Ðầu tháng 8/1978, khi chiến tranh biên giới giữa VN và Trung Quốc sắp sửa bùng nổ, nhóm tử tù “48 Quyết Tiến” chúng tôi được di tản khỏi trại trừng giới Quyết Tiến, thường được gọi bằng biệt danh là trại “Cổng Trời”, và đến trại Thanh Cẩm thuộc tỉnh Thanh Hoá, vì trại “Cổng Trời” nằm ở tỉnh Hà Tuyên, chỉ cách biên giới Trung Quốc có 10 km đường chim bay. Sở dĩ trại này có cái tên là trại “Cổng Trời” vì 2 lý do. Lý do thứ nhất là không mấy khi tù nhân bị đày lên trại này còn có ngày trở về. Họ thường đến đây để chờ ngày đi qua thế giới bên kia. Lý do thứ hai là trại này nằm ở độ cao hơn 2000m trên mặt biển (cao gần đụng Trời), ở đó quanh năm giá rét, mây mù che phủ, đất trời âm u, chẳng khác gì cảnh âm ty địa ngục. “Cổng Trời” là nơi VC dành riêng cho các tử tội. Có không biết bao nhiêu thành phần phản kháng chế độ CS bị chết ở đây, như linh mục Nguyễn Văn Vinh thuộc nhà thờ chánh tòa Hà Nội chẳng hạn. Chỉ sau một thời gian bị giam ở đó, chúng tôi đã thấy bóng Thần Chết lảng vảng một bên. Các linh mục già yếu càng thấy rõ hơn. Vì bị đặt vào một hoàn cảnh bi thảm như thế, nên ngày được vui mừng và sung sướng nhất trong suốt 13 năm tù tội của tôi lại là ngày được di chuyển ra khỏi trại Quyết Tiến “Cổng Trời” vào đầu tháng 8/78, sau đó mới đến ngày tôi được tuyên bố tha ra khỏi trại vào cuối năm 1988. Việc Trung Quốc chuẩn bị tấn công vào vùng biên giới Việt Bắc được coi là một cơ hội may mắn đối với các tù nhân được đưa đến lưu đày tại trại này, vì chính nhờ cơ hội đó, chúng tôi mới được chuyển về miền xuôi và nhờ vậy một số anh em chúng tôi còn được sống sót đến ngày hôm nay.

Sau 2 ngày đi đường thật vất vả, chiều tối hôm ấy, dưới cơn mưa tầm tã, nhóm 48 người chúng tôi lang thang lếch thếch, tay xách nách mang, bước vào cổng trại Thanh Cẩm, một nơi hoàn toàn xa lạ với chúng tôi, nằm sâu trong vùng rừng núi của huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Chưa biết những gì đang chờ đợi trước mắt, nhưng anh em chúng tôi bảo nhau: “Bất cứ điều gì sẽ xảy ra, ở đây cũng còn tốt hơn Cổng Trời!” Vừa vào cổng trại, đang tiến tới một hội trường bằng tre lợp tranh ở giữa sân trại, một cảnh tượng lạ lùng đã đập vào mắt làm tất cả chúng tôi phải ngạc nhiên và vẫn còn nhớ mãi cho đến ngày hôm nay, đó là hình ảnh cán bộ trực trại, chân mang ủng cao gần tới đầu gối, 2 ống quần kaki vàng của Công an xắn một cách vô trật tự lên tới bẹn, để lộ một khúc đùi từ đầu gối trở lên, đen đen mốc mốc. Con người của anh ta trông bẩn thỉu và bèo nhèo như một cái nùi giẻ, loại nùi giẻ của thợ máy xe; “cái nùi giẻ” đó đang say rượu, chân nam đá chân chiêu, tay cầm một cây trúc cao quá đầu, vừa quơ lung tung vừa quát tháo ầm ĩ, như muốn dằn mặt “bọn lính” mới chúng tôi. Nhìn anh cán bộ Thượng úy trực trại này tôi liên tưởng đến một bức tranh biếm họa vẽ hình Táo quân, một Táo quân đang say rượu. Hai anh tù mặc đồng phục màu xanh đang lăng xăng chạy trước mặt và chung quanh chúng tôi, múa tay chỉ trỏ để lùa chúng tôi vào chỗ chỉ định. Chúng tôi biết ngay đây là 2 anh Trật Tự, vì khi từ trại Nam Hà đến trại “Cổng Trời” vào ngày Giáng Sinh năm 1977, chúng tôi cũng thấy có một anh tù hình sự làm Trật Tự giúp cán bộ khám xét nhóm 20 anh em chúng tôi như vậy. Nhưng anh Trật Tự ở trại “Cổng Trời” làm việc từ tốn và chậm rãi, chứ không có lăng xăng như 2 anh này.

Nhìn 2 anh Trật Tự, chúng tôi thấy 1 anh độ ngoài 40 tuổi, trông có vẽ lầm lì ít nói. Anh kia trẻ hơn, khoảng chừng 30 tuổi, mập tròn béo tốt, da mặt bóng láng, chân hơi bị tật. Anh ta mập đến nỗi mông tròn và căng lên dưới lớp quần xanh của tù trông như đàn bà, khác hẳn với những thân hình xanh xao và gầy còm của nhóm anh em chúng tôi vừa mới nhập trại. Anh này đang cố gắng làm mặt”ngầu” để thị uy bọn “lính mới” chúng tôi. Miệng anh lúc nào cũng la hét, tay anh chỉ hết bên nọ đến bên kia, nhưng không bao giờ nhìn thẳng vào mặt ai trong bọn chúng tôi. Nhóm chúng tôi di chuyển rời rạc, vì những người còn trẻ đi nhanh tới chỗ tập trung ngay, còn những người ốm yếu bệnh tật lò mò theo sau. Tôi nhớ lúc đó anh Nguyễn Sỹ Thuyên gần kiệt sức, vừa tới nơi tập trung đã vất phịch cái bao áo quần và chăn màn bẩn thỉu xuống nền hội trường, rồi nằm ngửa người trên đó. Tôi cũng quá mệt nên tới ngồi cạnh bên anh. Sau một lúc, anh Thuyên lấy lại được sức và dùng cùi chỏ thúc nhẹ vào tôi, hất mắt hướng về tên cán bộ trực trại, rồi nói nhỏ: “Mẹ ! Cái thằng trông như ở lỗ cống mới móc lên !”. Tôi chưa kịp ra dấu phát biểu đồng tình thì giật mình vì một giọng quát từ sau lưng: “2 anh này không lo thu xếp dồ đạc, còn ngồi nói chuyện chi đây? Bộ muốn chống đối hả?” Tôi quay lại nhìn thì chạm ngay cặp mắt trắng dã của tên Trật Tự trẻ mà từ lúc đầu tôi đã gườm hắn. Tôi đứng dậy bỏ đi vì biết rằng đây không phải là chỗ tốt để bày tỏ một thái độ nào khác. Tôi vừa đi vừa nghĩ bụng là mình phải cẩn thận với tên này.

Tất cả chúng tôi đã bị nhốt lên khu kiên giam ngay chiều hôm sau. Khu kiên giam gồm những căn nhà xây cất rất kiên cố, được chia ra nhiều phòng nhỏ, dùng để giam các tù nhân bị coi là nguy hiểm hay bị trừng phạt vì kỷ luật. Có những tù nhân phải bị còng chân ban đêm hay suốt cả đêm ngày. Tất cả 48 anh em chúng tôi đều được xếp vào loại nguy hiểm, nên bị đưa lên giam ở đây. Hàng ngày chúng tôi không được đưa đi lao động, không được liên lạc với các tù nhân khác bên ngoài. Thông thường, 2 tuần một lần, những người ở nhà kiên giam được di tắm giặt dưới sông trước mặt trại giam một lần và bị canh gác rất cẩn thận.

Tuy bị đưa vào giam ở nhà kiên giam, nhưng nhờ một số tù nhân cũ đang bị giam tại đây, chỉ độ vài ngày sau chúng tôi đã nắm vững vị trí của trại và tình hình trong trại này. Trại Thanh Cẩm lúc đó được chia làm hai K (Khu), chúng tôi đang ở K1 gồm toàn tù nhân chính trị miền Nam khoảng 400 người, đa số là các cựu viên chức hành chánh của chế độ miền Nam cũ và một số anh em thuộc tổ chức Phục Quốc hay vượt biên bị bắt. Không có thành phần cựu quân nhân. K2 nằm cách K1 khoảng 3 km, được dùng để giam tù hình sự.

Một số anh em tù nhân chính trị đã kể lại cho chúng tôi biết, khi họ từ trại Long Thành đến đây vào tháng 12/76, trại này có đến 3 K. K1 là phân trại mà chúng tôi đang bị giam, gồm một nửa là tù chính trị miền Nam và một nửa là tù hình sự. Phân trại này trước đây là nhà tranh, có hàng rào bằng tre nhiều lớp bọc xung quanh, dùng dể giam tù hình sự. Sau khi chiếm được miền Nam, Bộ Nội Vụ ra lệnh xây cất gấp những căn nhà gạch và một vòng tường kiên cố để đón các tù chính trị miền Nam, vì tù chính trị miền Nam được coi là thành phần nguy hiểm, phải canh giữ rất cẩn thận, không cho liên hệ với bên ngoài. Khi các anh em từ trại Long Thành ở trong Nam được chuyển ra đây thì phía bên phải của trại đã có 4 căn nhà ngói, còn bên trái 3 căn nhà tranh, và một căn nhà kiên giam xây bằng đá tối om, có lỗ thông hơi rất nhỏ, được dùng dể giam những người Việt gốc Trung Hoa bị coi là gián điệp của Trung Quốc và những người bị kỷ luật. Chúng tôi thường gọi nhà kiên giam này là Nhà Ðen. Khu kiên giam mà chúng tôi đang bị giam là khu mới xây cất để đón chúng tôi.

Trật Tự Bùi Ðình Thi

Vào một buổi chiều, sau một cơn mưa, nước đọng thành vũng chung quanh khu nhà kiên giam, cũng được gọi là nhà vì có mái bằng, anh em chúng tôi đang ngồi bó gối trong buồng nhìn ra cửa sổ nói chuyện trên trời dưới đất như thường lệ cho qua thời giờ, bỗng nghe tiếng chìa khóa lách cách bên ngoài. Việc cửa khu kiên giam được mở vào giờ bất thường như thế này bắt buộc chúng tôi phải theo dõi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Nhìn qua cửa sổ, chúng tôi thấy một anh tù lạ mặt vác cuốc bước vào sân. Chúng tôi đoán với nhau rằng anh này là anh Trật Tự mới.

Chúng tôi đoán như vậy vì không một anh tù nào được vào khu vực này, trừ ra các anh có chức vụ như Trật Tự, văn hóa và y tá. Việc thay đổi một anh Trật Tự có ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của chúng tôi, nên tất cả 5 người trong phòng tôi đều dí mặt vào song cửa để quan sát. Anh tù lạ mặt này tướng tá coi bộ cao ráo, gân guốc, mạnh mẽ. Anh ta đang đào rãnh khai thông vũng nước mưa đọng ngay bên ngoài cửa sổ buồng chúng tôi (buồng 1). Anh vung những nhát cuốc trông thật “chất lượng” và thành thạo. Lúc anh quay mặt vào buồng chúng tôi, tôi quan sát kỹ lưỡng hơn. Anh ta khoảng 40 tuổi, tay chân dài lều khều, cái tướng mà người Nam chúng tôi thường gọi là “chân chòi củ loi”. Mặt anh ta hơi dài, tóc thưa, cặp mắt tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Ðiểm đặc biệt nhất nơi anh là cái miệng. Tôi không biết tướng số nên không biết diễn tả như thế nào, chỉ biết là có một cái gì không ổn nơi cái miệng đó. Ðôi môi hình như chưa được cấu tạo đầy đủ. Môi trên và môi dưới không giáp mí nhau, đúng ra không phải là cái môi theo nghĩa thông thường mà là 2 mảng thịt mỏng lúc nào cũng nhơm nhớp nước bọt. Thỉnh thoảng anh ta ngoái lưỡi liếm nước bọt bám ở 2 bên mép. Anh mặc bộ đồng phục màu xanh của tù, cạp quần 2 bên hông được lận lên cao, chân mang dép râu. Cảm nghĩ đầu tiên của tôi sau vài giây phút quan sát là tên này không phải là một tay vừa. Nếu quả thật anh ta được cử làm Trật Tự thì không dễ thở đâu. Anh ta có một cái gì khác với cả Phạm Ðình Thăng lẫn Trương Văn Phát. Một “cái gì khác” đó có lẽ không hứa hẹn “một tương lai sáng sủa” nào cho anh em tù kiên giam chúng tôi.

Từ bên trong song sắt cửa sổ chúng tôi cố gợi chuyện với anh ta. Rõ ràng là anh không muốn trả lời, nhưng nhiều người hỏi quá buộc lòng phải trả lời vài câu, nhưng theo lối đáp nhát gừng. Sau một cuôc phỏng vấn chớp nhoáng và được trả lời một cách miễn cưỡng, chúng tôi được biết anh ta từ trại quân đội mới được chuyển về đây ít lâu và vừa được trại cử làm Trật Tự thay cho Phạm Ðình Thăng đã được về. Anh ta là một người công giáo, ở xứ Gia Cốc, Hố Nai, gốc Ðịa phận Hải Phòng. Nghe tới 2 tiếng Hải Phòng, cha Chu Văn Oanh, một linh mục lớn tuổi trong buồng tôi mừng rỡ:

– Anh gốc Ðiạ phận Hải Phòng hả? Tôi cũng Hải Phòng nè, thế anh có biết cha nào gốc Hải Phòng không?

– Cha Bình.

Cha Oanh vội rước lời:

– Cha Bình làm Quản lý của Ðịa phận Hải Phòng, bây giờ thuộc Giáo phận Long Xuyên chứ gì?

– Ðúng rồi.

Cha Oanh hớn hở:

– Cha Bình là bạn thân của tôi, 2 người thân nhau lắm.

Thinh lặng một lúc khá lâu như để lựa lời, một lúc sau anh nói ngắn gọn:

– Cha Bình là chú tôi.

Cha Oanh vui mừng ra mặt:

– Thế thì may quá, không ngờ được gặp cháu cha Bình ở đây. Nếu anh có viết thư nói tôi là cha Oanh, không, phải nói cha Oánh, vì lúc bấy giờ tên tôi là Oánh, gửi lời hỏi thăm người nhé. Thế anh tên là gì nhỉ?

– Thi

– Cái gì Thi?

Anh ta ngập ngừng tỏ vẻ hơi khó chịu trước cái cách “thấy sang bắt quàng làm họ” một cách quá lộ liễu của ông linh mục già này, nhưng cũng đáp gọn:

– Bùi Ðình Thi

Tôi cũng có chút hơi ngượng trước thái độ cầu thân thái quá của cha Oanh, nhưng trong lòng cũng mừng thầm vì từ nay có một người công giáo làm Trật Tự, anh ta lại có chú làm linh mục bạn của cha Oanh, chắc từ nay cảnh sống kiên giam sẽ đỡ hơn, không như tên Phát “vô đạo”, hỗn láo, đối xử với chúng tôi thật chẳng ra gì. Ngon đà, cha Oanh còn hỏi thêm mấy câu nữa nhưng anh ta vác cuốc bỏ đi nơi khác làm cha Oanh hơi cụt hứng.

Khi Bùi Ðình Thi đi rồi, bầu không khí trong buồng chúng tôi trở nên vui vẻ lạ thường. Chúng tôi gọi sang các buồng khác để báo tin vui, vì 4 buồng kiên giam sát vách nhau nên tin tức gì một buồng biết là các buồng kia đều biết. Sau khi nghe chúng tôi thông báo về lai lịch của anh Trật Tự mới, anh em các buồng kia cũng phấn khởi và nghĩ là phen này tù kiên giam chắc sẽ dễ thở hơn. Từ mấy tháng qua, tên Phát làm mưa làm gió nên anh em chúng tôi cảm thấy cuộc sống trong tù vốn đã khổ lại càng khổ hơn. Trong buồng tôi, cha Oanh vui vẻ ra mặt, cười nói liên hồi như vừa lập được chiến công lẫy lừng, luôn miệng lập đi lập lại câu nói: “Chuyến này thì ăn thua rồi! Chuyến này thì ăn thua rồi!” Oanh đang vui vẻ nói năng, tự nhiên tôi đâm ra tự trách mình đã nhận xét không tốt về anh Bùi Ðình Thi lúc nãy. Mới trông qua bộ mặt anh ta, tôi thấy có vẻ hắc ám, nhất là cái miệng trông thấy ghê sợ…, nhưng biết đâu chừng anh là người tốt, anh là một con chiên, là một giáo hữu, dân”Bắc Kỳ Hố Nai”, nơi giáo dân nổi tiếng ngoan đạo. Anh ta lại là cháu của một linh mục bạn của cha Oanh, dù gì chắc cũng không đến nỗi tệ.

Ðọc tới đây chắc có bạn thắc mắc tại sao lúc bấy giờ anh em kiên giam chúng tôi lại quá bận tâm về một anh tù làm Trật Tự như vậy. Xin nói ngay vì sau cán bộ, Trật Tự là người nắm giữ quyền hành trong khu vực này. Thông thường, đến giờ điểm danh hay phát khẩu phần cho khu kiên giam, cán bộ cùng đi với Trật Tư, vì Trật Tự cũng là tù nên không được hoàn toàn tin tưởng. Nhưng phát cho ai bao nhiêu, phát nhiều hay phát ít, cán bộ không hề hay biết. Trật Tự trù ai bằng cách bớt phần ăn thì người đó khốn khổ ngay. Chính vì cái quyền này, Bùi Ðình Thi đã để anh Lâm Thành Văn chết đói mà chúng tôi sẽ kể dưới đây. Ngoài ra, nếu Trật Tự dễ dàng một chút, khi làm vệ sinh và lãnh khẩu phần, anh em sẽ được thoải mái hơn, có chút thời giờ trò chuyện hay thở không khí trong lành một chút. Trật Tự gắt gao thì chúng tôi làm không kịp thở. Nói một cách tổng quát, cuộc sống của nhà kiên giam và kỷ luật tùy thuộc khá nhiều vào anh Trật Tự, anh dễ dàng thì dễ thở, anh ta khó khăn thì khốn khổ. Cán bộ chỉ nghe lời Trật Tự chớ không nghe lời tù kiên giam. Xin các bạn hãy kiên nhẫn, đọc hết bài này các bạn sẽ thấy vai trò của Trật Tự quan trọng thế nào.

Giờ cho ăn chiều hôm đó, ngoài cán bộ và Phát còn có thêm anh Trật Tự mới là Bùi Ðình Thi. Cửa mở, chúng tôi ra ngoài lo các việc vệ sinh như thường lệ. Cha Oanh vì lớn tuổi nên không phải làm gì, ngài ra sân quơ tay đá chân mấy cái xong vui vẻ bước lại chỗ Bùi Ðình Thi đang ngồi chia thức ăn gạ chuyện. Không biết 2 người đã nói những chuyện gì, có lẽ cha Oanh muốn nối tiếp câu chuyện còn dở dang lúc nãy. Bất ngờ chúng tôi nghe Bùi Ðình Thi gắt lên thật to và dứt khoát: “Ði vào buồng, đừng hỏi lôi thôi”. Tội nghiệp cho cha Oanh, không kịp có phản ứng vì “cháu người bạn thân” có thái dộ quá bất ngờ, miệng ngài há hốc có vẻ sửng sốt, rồi cúi đầu lủi thủi vô buồng. Câu nói đó của Bùi Ðình Thi cũng làm tan biến hy vọng của chúng tôi. Trong lúc ngồi ăn, tôi nghĩ rằng nhận xét ban đầu của tôi về Bùi Ðình Thi có lẽ đúng, mặc dù lúc nào tôi cũng mong là mình đã lầm.

Mấy ngày tiếp theo sau, có mấy anh em dưới “làng” mới bị đưa lên kiên giam cho biết Bùi Ðình Thi đã từng là một hung thần khi làm Trật Tự ở trại cũ, có người còn nói anh ta đã có lần tuyên bố thẳng thừng: “Tôi sẵn sàng bước qua xác chết của bất cứ ai vì hạnh phúc của vợ con tôi”. Có thật anh ta đã nói câu đó hay một câu nào khác có ý tương tợ như thế hay không, tôi không biết, nhưng qua cách anh ta đối xử với chúng tôi trong thời gian sau đó, tôi nghĩ là họ nói đúng, hoặc có sai thì cũng không sai bao nhiêu.

Bùi Ðình Thi làm Trật Tự vào khoảng 1979. Càng ngày anh ta càng trở nên hung ác hơn, một phần là do bản chất, phần khác muốn tỏ ra là một đầy tớ trung thành và tận tụy của VC để mua cho được 2 chữ “tiến bộ” mong được về sớm, mà cách tiến bộ nhanh nhất là phản bội anh em để tỏ ra mình đã thuộc về chế độ mới. Nhắc tới trung thành và tận tụy, tôi còn nhớ một hình ảnh trông thật khó coi.

Mỗi chiều nghe tiếng kẻng, các đội phải xếp hàng chờ điểm danh vào buồng. Dưới “làng” được điểm danh trước, kiên giam và kỷ luật sau. Trong các khu kiên giam, tất cả chúng tôi đang ở trong buồng, nên chỉ phải ngồi ngay ngắn trên bệ nằm đợi cán bộ tới phiên điểm danh. Bỗng nhiên chúng tôi nghe tiếng khua rỏng rẻng của các xâu chìa khóa và 2 anh Trật Tự Thi – Phát chạy vụt vào sân, lục soát các ngõ ngách. Cán bộ trực trại theo sau, tay cầm gậy khua lung tung, la hét chỉ chỏ, y như cảnh người thợ săn đang xua cặp chó săn chạy sục sạo đánh hơi tìm con mồi. Lúc ở các trại khác cũng như trại “Cổng Trời”, chúng tôi đều thấy có cán bộ và Trật Tự đi điểm danh như thế, nhưng tôi chưa hề thấy có anh Trật Tự nào, kể cả các anh hình sự, chạy nháo nhác trước mặt chủ như thế bao giờ.

Khi Bùi Ðình Thi được đưa lên làm Trật Tự, Trương Văn Phát vẫn được làm phụ tá. 2 tên này khi đi cặp với nhau đã gây không biết bao nhiêu kinh hoàng cho anh em chúng tôi. 4 chữ “thằng Thi thằng Phát” trở thành cách gọi quen thuộc trong trại tù Thanh Cẩm để biểu thị cho một thứ gì vừa đáng sợ vừa đáng kinh tởm.

Tội Ác Bùi Ðình Thi Tại Trại Tù Thanh Cẩm – Phần II

Gặp lại “cố nhân”:

Cho tới những tháng đầu của năm 1979, chúng tôi vẫn chưa được phép liên lạc với gia dình nên không có tiếp tế. Cuộc sống thiếu thốn về vật chất và những khổ ải mà cuộc sống tại nhà kiên giam đem lại đã làm cho một số anh em bị sa sút cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói nó hành hạ thân xác chúng tôi một cách triền miên. Với khẩu phần 9 kg khoai sắn một tháng mà sống còn được thì phải coi là phép lạ. Thái độ của bọn Công an áo vàng và 2 tên tù áo xanh tay sai làm cho chúng tôi lúc nào cũng ngột ngạt khó thở. Chúng tôi sống mà không có gì trước mắt để hy vọng.

Nói chung, các anh em tù chính trị miền Nam bị đưa ra giam tại miền Bắc, không ai biết được ngày mai sẽ ra sao cả. Riêng số anh em thuộc nhóm 48 Quyết Tiến chúng tôi từ “Cổng Trời” về đây đều biết rõ số phận của chúng tôi đã được nhà cầm quyền CS định như thế nào rồi. Họ không dám giết chúng tôi, nhưng tìm cách làm cho chúng tôi chết lần chết mòn trong ngục. Trước tình trạng như vậy, mỗi anh em có cách suy nghĩ khác nhau. Ða số an phận và để mặc cho số mệnh dưa đẩy tới đâu thì tới. Một vài người cố lập công với VC để được về sớm bằng cách làm mật báo sinh hoạt của anh em đồng cảnh trong buồng và trong đội, nịnh hót đám cán bộ. Có anh đã bày ra chuyện lếu láo hại anh em. Một số khác nghĩ rằng phải tìm cách thoát ra khỏi trại mới mong sống còn, trong đó có tôi. Chúng tôi đều biết rõ trại Thanh Cẩm nằm trên một ốc đảo, chung quanh núi sông bao bọc, đường ra là độc đạo, nên thoát ra khỏi chốn này không phải là chuyện dễ dàng. Mấy anh Tàu “gián điệp” bị giam ở nhà kỷ luật, rất giỏi về phương hướng và mưu sinh, nhưng lần nào thoát ra cũng bị bắt lại. Tuy nhiên, trong số tù hình sự trốn trại mà chúng tôi biết từ ngày đến trại Thanh Cẩm, cũng có vài người thoát được. Như vậy việc trốn khỏi trại Thanh Cẩm không phải là hoàn toàn vô vọng. Chúng tôi biết nếu bị bắt lại, chúng tôi sẽ bị đối xử dã man, nhưng trong cảnh khốn cùng, tôi nghĩ rằng phải chấp nhận mọi rủi ro.

Ðầu năm 1979, chiến tranh Việt – Trung tới điểm cao, đêm đêm cái loa của đài phát thanh trong trại vang lên inh ỏi tin tức chiến sự và những lời chửi bới Trung Quốc. Tiếng chửi cứ ra rả ngày đêm rót vào tai chúng tôi. Họ dùng đủ mọi kiểu và mọi hình thức để chửi, từ tin tức, bình luận, kịch nghệ, đến âm nhạc! Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao các thợ viết kịch của chế độ đã sáng tác được những vỡ kịch chửi Trung Quốc nhanh và hay đến thế! Những khẩu hiệu “Trung Quốc vĩ đại” hay “Núi liền núi, sông liền sông” đã hô hào mấy chục năm qua, nay không còn nữa.

Cuộc sống của tôi đang đều đều trôi qua một cách nặng nề như thế thì một ngày kia, vào khoảng tháng 2/79, có phái đoàn Cục Cảnh Sát vào thăm khu kiên giam trong giờ cho ăn trưa. Phái đoàn chừng bốn năm người, mặc áo sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ra ngoài quần, vai mang sắc-cốt, mới nhìn qua trông như một tốp thợ sửa điện hay mấy ông thợ thiến lợn mà lúc còn nhỏ tôi thường thấy đi vào làng thiến heo. Họ chỉ chỏ nói năng gì đó với ông Trại Trưởng. Ông có vẻ khép nép khi nói năng. Nhìn thái độ của ông ta đối với mỗi phái đoàn khi đến thăm, chúng tôi có thể đoán được tầm quan trọng của từng phái đoàn. Thỉnh thoảng có những phái đoàn khác nhau vào thăm trại nhưng không phải lần nào Trại Trưởng cũng hướng dẫn, có khi chỉ là một sĩ quan cấp nhỏ đi theo, khi đó tôi biết ngay đó là phái đoàn “dỏm”.

Như thường lệ, sau khi Bùi Ðình Thi mở cửa buồng, chúng tôi ra ngoài, người lấy cơm, kẻ quét tước dọn dẹp… Nhưng hôm nay, mọi chuyện được làm trong bầu không khí yên tịnh và trang nghiêm khác với ngày thường vì đang có phái đoàn của Cục quan sát. Lấy thức ăn xong, chúng tôi phải vào buồng ngaỵ Trong lúc anh em đang chia thức ăn với nhau trong buồng, nhìn ra ngoài tôi chợt thấy một người cao lớn mặc sắc phục Công an đi vào sân. Tôi giật mình khi nhận ra đó là Ðại tá Hoàng Thanh, một thứ “khắc tinh” của tôi từ nhiều năm qua. Tôi lẩm bẩm một mình: “Gặp lại “cố nhân” nữa rồi!”

Ðại tá Hoàng Thanh làm Cục Trưởng Cục Cảnh Sát thuộc Bộ Nội Vụ, lúc ấy khoảng ngoài 50, người cao lớn dềnh dàng nhưng không mập, lưng tôm, mặt bẹt, đôi gò má nhô lên cao, miệng rộng, các kẽ răng đen sì, có lẽ vì thuốc lào và chè (trà) đặc. Ðiểm trái ngược trên khuôn mặt rộng bèn bẹt này là cặp mắt ti hí, thật nhỏ và tròn như loài chồn cáo, lúc nào cũng liếc qua liếc lại. Cho dù có thiện ý đến đâu tôi cũng không thể hình dung được một sự lương thiện tối thiểu nào ẩn nấp đằng sau đôi mắt ấy. Tôi đã từng chạm mặt với Hoàng Thanh nhiều lần ở trại Nam Hà trước khi bị đi “Cổng Trời”.Khi nói chuyện với tôi, thỉnh thoảng ông ta có cười bằng miệng, còn đôi mắt không dự phần chút nào vào tiếng cười ấy. Tôi vẫn ngại tiếng cười của ông ta, nó được phát ra qua kẽ răng khép kín tạo thành một hơi gió như tiếng rít của loài rắn lục trong đêm. Dưới cái nhìn của tôi, Hoàng Thanh là một mẫu cán bộ VC điển hình, được sinh ra đời chỉ để làm cán bộ VC, hay ngược lại nếu không có VC thì con người ấy đã không được sinh ra đời làm người, tuy có một điểm hơi khác các hình vẽ cán bộ VC ở miền Nam một chút, đó là thiếu hàm răng vẩu.

Hoàng Thanh dừng lại nói gì đó với cán bộ trực trại một lúc rồi đi thẳng tới cửa buồng 1. Tôi đoán là ông ta đọc bảng tên 5 người dán trên cửa sắt và thấy những tên nào đó được ông chú ý. Linh tính báo cho biết là sắp có chuyện liên hệ đến tôi, nên tôi lo chuẩn bị tinh thần, vì từ trước tới nay, chưa lần nào gặp tôi mà Hoàng Thanh để tôi yên bao giờ. Tôi đoán không sai, ông ta vẫy tay gọi Bùi Ðình Thi lại mở cửa buồng. Nghe tiếng chìa khóa lách cách, trong buồng ngưng chia thức ăn và ngồi cả lên bệ nằm xi măng. Cửa buồng mở ra, ông ta bước vào và đi dọc theo lối đi ngắn trước mặt chúng tôi. Sau khi lên tiếng chào cán bộ theo quy định của trại, chúng tôi ngồi yên. Ông ta bước chậm rãi, 2 tay chấp ra sau mông và nhìn thẳng vào mặt từng người chúng tôi như một ông tướng đang duyệt qua trước hàng quân. Bầu không khí trong phòng nặng nề và căng thẳng. Khi tới cửa cầu tiêu ông ta quay trở ra. Tôi mừng thầm nghĩ bụng chắc như vậy là xong, lần này chẳng có việc gì xảy ra. Nhưng bất ngờ ông ta quay lại chỉ thẳng vào tôi và hất hàm hỏi bằng cái giọng khàn khàn quen thuộc:

– Anh mang kính ngồi trong cùng kia có phải là anh Nguyễn Hữu Lễ không?

– Báo cáo cán bộ, đúng, tôi là Nguyễn Hữu Lễ.

Ông ta nhếch mép cười, vẫn tiếng cười cố hữu mà tôi e ngại, nhẹ nhàng nói:

– Tôi cũng định hôm nào rảnh mời anh lên để chúng ta nói lại một chút về vụ tàu Sông Hương, anh Lễ nhé!

Nói xong ông ta bỏ đi ra, không đợi tôi trả lời. Lúc ấy tôi ngồi lặng yên và bàng hoàng khi nghe Hoàng Thanh nhắc tới vụ tàu Sông Hương. Tôi nghĩ bụng: “Thế là tên cáo già này chưa buông tha mình”.

Tôi không kể lại vụ tàu Sông Hương ở đây vì đó là câu chuyện rất dài và nhiều chi tiết. Tôi xin chỉ nói vắn tắt rằng đây là vụ dự mưu đánh cướp tàu Sông Hương chở 1200 tù binh chúng tôi từ Nam ra Bắc vào đầu tháng 4/1977. Kế hoạch này do tôi và anh Dương Văn Lợi chủ trương với một số đông bạn tù tham dự, nhưng mọt cơn bão trái mùa buộc chúng tôi phải bỏ cuộc. Cán bộ trên tàu không hay biết chuyện này, nhưng khi ra miền Bắc và vào trại Nam Hà, các tên “ăng-ten” đã báo cáo với trại. Tôi đã nhiều phen điêu đứng về vụ này. Ðại tá Hoàng Thanh đã nhiều lần từ Hà Nội về Nam Hà hạch sách tôi, vì ông ta cũng có mặt trên tàu Sông Hương và là đại diện của Bộ Nội Vụ từ Bắc vào Nam nhận số tù nhân trong chuyến đó. Vụ tàu Sông Hương cũng là nguyên nhân chính khiến 20 anh em chúng tôi ở trại Nam Hà bị đày lên “Cổng Trời”. Tôi có ghi lại chi tiết các việc này trong Bút Ký “Tôi Phải Sống”, trong đó có nói về vai trò của anh Dương Văn Lợi. Sau khi được phóng thích vào năm 1980, kỹ sư Dương Văn Lợi cũng đã làm điên đầu bọn VC qua vụ đánh cướp thành công chiếc trực thăng của Bộ Chính Trị ngay tại sân bay Nội Bài, Hà Nội, bay sang Trung Quốc. Tại đây anh ta từ chối lời mời gọi hợp tác lập chính phủ lưu vong của Hoàng Văn Hoan và vượt biển trốn sang Phi Luật Tân, rồi xin sang định cư tại Pháp. Hiện nay anh là Chủ Tịch Hội Bạn Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Pháp. Tác phẩm “Hà Nội Báo Ðộng Ðỏ” của anh đã được dịch ra tiếng Pháp, gây sự nể phục nơi chính giới Pháp và Âu Châu. Anh Dương Văn Lợi là một người tranh đấu không mệt mỏi, theo đúng tinh thần của “Nhóm 48 Quyết Tiến”. Trong năm qua, anh đã cho ra đời tờ báo “Ý Dân” tại Paris làm phương tiện đấu tranh cho tự do và nhân quyền tại VN.

Cuộc vượt ngục đẫm máu

Tối hôm đó tôi cảm thấy một sự bất an ở trong lòng sau cuộc chạm mặt bất ngờ với Hoàng Thanh. Tôi bàn riêng với anh Ðặng Văn Tiếp, một người anh kết nghĩa với tôi, về thái độ của Hoàng Thanh. Chúng tôi đều nghĩ rằng một viễn ảnh đen tối đang chờ đợi tôi. Những ngày tiếp theo, cả 2 anh em tôi bàn đi tính lại với nhau và thấy không còn cách nào hơn là vượt ngục. Nếu thoát được, cuộc đời của tôi sẽ có nhiều thay đổi. Nếu không thoát được, tôi cũng chỉ phải đi tiếp con đường mà những người cầm đầu ở Bộ Nội Vụ đã quyết định cho tôi.

Anh Ðặng Văn Tiếp nguyên là Thiếu tá Không Quân của QLVNCH, sau đó giải ngũ và ứng cử Dân biểu Quốc hội đơn vị Tân Bình, Gia Ðịnh và giữ chức vụ Dân biểu cho tới 30/4/75. Anh thuộc phe đối lập trong Quốc hội. Tôi có gặp anh một vài lần khi hoạt động trong Phong trào Chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh. Vào tù, chúng tôi gặp nhau ở trại “Cổng Trời”, anh bị đày từ trại Hà Tây đến trại này trước tôi vài tháng. Lúc bấy giờ anh là một trong những người mà tôi mến phục vì anh là người có tư cách đàng hoàng, hiểu biết rộng, từng trải và có khí phách hiên ngang. Anh với tôi cũng có một điểm tương đồng là đều quan niệm rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải tỏ ra kiên cường và bất khuất, không hàng phục. Từ một số điểm tương đồng và luôn có thái độ tương kính nhau, chúng tôi dần dần đi đến chỗ thân thiết nhau và kết nghĩa anh em. Tôi nhận Tiếp là anh vì anh lớn hơn tôi đúng 10 tuổi. Con người ấy cũng thường tỏ ra quan tâm đến mẹ già và người tình của anh. Anh hay nói chuyện với tôi về người mẹ mà anh rất yêu quý và những kỷ niệm thật đẹp giữa anh và chị Huyền Thanh, người mà anh đã chuẩn bị cưới làm vợ.

Từ ngày bị đưa đi đày ở trại “Cổng Trời”, 2 chúng tôi đều nghĩ rằng chỉ có một cách duy nhất để sống còn là vượt ngục, vì chúng tôi biết nhà cầm quyền CS đã quyết định chúng tôi phải chết lần chết mòn trong trại tù. Câu nói ngắn gọn của Ðại tá Hoàng Thanh càng tô đậm thêm cái tương lai đen tối của tôi. Ý định vượt ngục luôn lảng vảng trong đầu óc chúng tôi, có khi rất thúc bách. Chúng tôi đều biết rằng vượt ngục là đi vào cõi chết để tìm cái sống và tôi đã từng chứng kiến cái giá mà những người vượt ngục thất bại đã phải trả như thế nào. Nhưng chúng tôi thấy không có cách nào khác hơn là phải chấp nhận cái giá đó.

Ðang ở nhà kiên giam mà dự tính vượt ngục là một chuyện quá khó khăn. Phá được cửa phòng để ra thì còn phải vượt ra hàng rào của khu kiên giam, sau đó mới tìm cách vượt ra bức tường cao và dày chung quanh trại. Tường nhà kiên giam dày và kiên cố, rất khó phá, trong khi chúng tôi không được giữ bất cứ thứ gì bằng kim loại trong buồng. Có quá nhiều vấn đề phải giải quyết trước khi bắt tay vào việc này. Trước tiên là phải làm sao để tất cả 6 người trong phòng đều dồng ý. Người nào yếu quá, không thể vượt qua các tường rào cao và kiên cố, phải làm sao bảo đảm cho họ ở lại mà không bị hành hạ, ngược đãi. Giải quyết xong khâu này mới tính đến các khâu tiếp theo được. Tôi và anh Tiếp đã phải thăm dò tư tưởng của từng người, rào trước đón sau rồi mới dám gợi ý, vì nhỡ có anh nào không đồng ý và báo cáo cho cán bộ để lập công thì lúc đó tai họa sẽ không lường được.

Trong buồng chúng tôi lúc bấy giờ ngoài anh Tiếp và tôi ra còn có các anh sau đây:

– Anh Nguyễn Sĩ Thuyên, đã ngoài 50 tuổi, giáo sư dạy Toán.

– Anh Trịnh Tiếu, khoảng 45 tuổi, Ðại tá Quân lực VNCH, Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2.

– Anh Lâm Thành Văn, 40 tuổi, dân sự, lái xe hành khách Saigon Ðà Lạt, bị bắt vì tham gia tổ chức Phục Quốc.

– Linh mục Nguyễn Công Ðịnh, 45 tuổi, Tuyên úy Quân đội Cần Thơ.

– Tôi là người trẻ nhất, lúc đó mới 36 tuổi và anh Tiếp, 46. Anh tuổi con gà, còn tôi tuổi con dê!

Chúng tôi không gặp trở ngại gì trong việc mời anh Thuyên và anh Tiếu tham gia, nhưng anh Văn còn lưỡng lự vì anh dang đau dạ dày khá nặng. Nhưng cuối cùng anh Văn cũng đồng ý sau khi anh em hứa sẽ nâng đỡ nhau trên đường trốn thoát. Về phần cha Ðịnh, ngài dứt khoát không tham gia. Ngài nói:

– Chừng nào được gọi lên là tôi về, tôi không đi đâu cả, dù cửa mở tôi cũng không đi chớ đừng nói trốn.

Tôi hỏi lại:

– Nhưng nếu 5 người chúng tôi đi cả thì bác tính sao?

Tưởng là tôi nói đùa, ngài trả lời:

– Các anh đi thì các anh cứ đi, tôi ở lại một mình chứ sao!

– Rồi bác trả lời sao với cán bộ?

– Trả lời sao kệ tôi!

Thấy câu chuyện đã đi vào ngõ cụt, tôi cười vả lả:

– Không đơn giản như bác nói đâu! Nhưng mà này! Nói chơi đấy nhá!

Chúng tôi thấy vấn đề trở nên khó khăn khi cha Ðịnh quyết tâm ở lại. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn lén lút chuẩn bị mọi thứ. Chúng tôi đề phòng bọn cán bộ và trật tự bên ngoài, vừa phải làm cho cha Ðịnh trong buồng thấy không có chuyện gì sắp xảy ra cả. Chúng tôi nghĩ rằng cha Ðịnh không hại chúng tôi, nhưng một thái độ có vẻ lo lắng hay một lời nói vô tình nào đó của ngài có thể làm cho bọn cán bộ và Trật Tự nghi chúng tôi muốn trốn trại thì mọi chuyện sẽ hỏng. Họ sẽ có biện pháp đề phòng ngay, như phân tán chúng tôi ra nhiều phòng khác nhau hay nhốt chúng tôi ở nhà kỷ luật, bị còng ngày đêm.

Khoảng sau Tết vài tuần, chúng tôi đã đồng ý với nhau chọn ngày N là đêm mùng 1/5/79, vì ngày đó là ngày Lễ Quốc Tế Lao Ðộng, cả trại được nghỉ, cán bộ được “bồi dưỡng” sẽ đánh chén say sưa và chểnh mảng trong việc canh gác ban đêm. Như vậy chúng tôi có 2 tháng để điều nghiên kế hoạch vượt ngục từng chi tiết và lén lút chuẩn bị các thứ. Suốt 2 tháng trời đó chúng tôi cố gắng tìm hiểu và dự trù tất cả mọi chuyện có thể xảy ra vì trong canh bạc lớn này chính mạng sống của mình được dặt xuống chiếu để chơi. Vì cùng là linh mục với nhau, tôi được các anh giao nhiệm vụ thông báo cho cha Ðịnh 2 ngày trước trước ngày chúng tôi hành động. Chúng tôi đã tiến hành công cuộc vượt ngục như mọi kế hoạch đã vạch ra.

Trong đêm 1/5/79, chúng tôi đã cùng nau đào tường để ra khỏi nhà kiên giam và leo tường ngoài để ra khỏi trại. Nhưng chuyện bất ngờ đã xảy ra. 2 anh Trịnh Tiếu và Lâm Thành Văn đã không thể leo lên để nhảy ra khỏi tường ngoài của trại. Anh Tiếp, anh Thuyên và tôi đã ra ngoài trước phải ngồi chờ 2 anh còn lại. Khi thấy trời gần sáng, 3 chúng tôi đành phải bỏ kế hoạch thứ nhất là chạy trốn vào rừng ẩn nấp rồi tìm cách làm bè để xuôi sông Mã đi về hướng Thanh Hóa.

Từ chỗ tạm ẩn nấp ở một cái đồi cao rậm rạp gần bên trại, một bên là đường cái và một bên là sông Mã, 3 anh em chúng tôi nhận thấy không thể đi ra ngả đường cái được vì sẽ bị phát hiện ngay, nên đành phải bơi dọc theo bờ sông nước dâng cao vì trận mưa to suốt đêm qua để tìm một nơi ẩn nấp. Bơi được một lúc, chúng tôi gặp một hốc đá thật kín đáo, bên trên có một cây to, rễ cây tua tủa ra bao trùm kín cả miệng hang, tạo thành một nơi ẩn nấp lý tưởng, cả 3 người lặn xuống nước và chui vào ẩn trong đó.

Khi nghe 3 tiếng súng báo động có tù vượt ngục của công an võ trang, chúng tôi yên lặng thu mình trong hang, hồi hộp nghe ngóng và chờ đợi. Chúng tôi biết rằng chúng tôi đang ở trong tình trạng nguy hiểm, nhưng vẫn nuôi hy vọng sẽ thoát đi được khi đêm tối đến, một thứ hy vọng rất mỏng manh. Không bao lâu, chúng tôi nghe rõ tiếng chân người chạy rần rần ngay bên trên, tiếng la hét, tiếng chó sủa… Chúng tôi biết bọn cán bộ đang dắt chó săn đi truy lùng chúng tôi.

Tiếng chân người mỗi lúc một xa dần khiến tôi mừng thầm và nghĩ rằng họ không khám phá ra chúng tôi đang ở đây nên đã đi lùng ở những nơi khác. Nhưng không bao lâu, chúng tôi lại nghe tiếng ồn ào trở lại, rồi tiếng la hét và tiếng chó sủa càng lúc càng gần hơn. Biết chắc là không thể thoát được, chúng tôi đón nhận cái chết. Tôi khoát nước sông Mã làm phép rửa tội cho anh Tiếp. Khi vừa rửa tội xong, anh ôm tôi hôn một cách vô cùng tha thiết như muốn bày tỏ một sự vui mừng và biết ơn, nhưng tôi đâu có ngờ đó là cái hôn vĩnh biệt anh gởi lại cho tôi trước lúc từ giã cuộc đời.

Nằm trong hang tối om vạch cỏ nhìn ra, tôi thấy tên Thượng sĩ Hoàn mặc áo thun, quần đùi trắng, khẩu súng lục có dây đeo quàng ngang vai, đang đứng trên chiếc xuồng nhỏ, cầm cây tầm vông dài chừng 3 thước, trên đầu có cây sắt nhọn mà tiếng miền Nam chúng tôi gọi là cây “xà no” dùng để đâm chuột, đâm rắn trong các lùm bụi Hắn vừa chống xuồng vừa chọc cây sắc nhọn một cách điên cuồng vào các bụi rậm bên bờ sông mà hắn nghi có người ẩn nấp trong đó.

Chúng tôi thấy chiếc xuồng đang từ từ trôi xuống chỗ chúng tôi ẩn nấp.

Chúng tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng. Bỗng có tiếng một người đàn bà đứng trên thuyền đánh cá từ bên kia sông gọi vọng sang, giọng nói lanh lảnh:

– Chúng nó vừa ở ngay đấy thôi !

Tên Hoàn quay mặt sang hỏi:

– Ở mô?

– Ðâu trong bụi rậm trước mặt ấy, tôi vừa nom thấy chúng ngay trong bụi ấy!

Theo sự chỉ dẫn của người đàn bà, tên Thượng sĩ Hoàn đã tìm thấy chúng tôi. Thật khó mà diễn tả tâm tư của anh em chúng tôi lúc đó. Chúng tôi biết là đã hoàn toàn thất bại! Chúng tôi có thể hình dung ra được chuyện gì sẽ xảy ra, vì chúng tôi đã được chứng kiến cảnh tù nhân vượt ngục thất bại đã bị đối xử như thế nào. Ða số đã bị đánh đập và hành hạ như một con thú. Một số đã bị đánh chết một cách thê thảm. Tôi bảo anh Tiếp: “Thôi! Ra đi! Anh em mình không ra, chúng nó bắn chết đó”.

Khi khám phá ra chúng tôi, bọn công an võ trang lồng lộn lên, chúng vừa chạy vừa la hét như một toán thợ săn đang bao vây con mồi và chờ hạ thủ. Anh Nguyễn Sỹ Thuyên ở bên ngoài đã lội ra trước, trong khi anh Tiếp và tôi ôm nhau ghì cứng trong hang nhất định không ra. Sau khi la hét một hồi không thấy chúng tôi lội ra, tên Hoàn đã chống thuyền đâm vào, vừa dí mũi súng vào phía chúng tôi, vừa la hét một cách man dại:

– Lễ  Mày có ra hay không hay đợi tao bắn nát đầu mày ra?

Thực tình mà nói, lúc bấy giờ tôi chỉ mong cho hắn siết cò, vì đó là cách giải quyết tốt nhất. Tôi đã chuẩn bị đón nhận cái chết khi chúng tôi quyết định trốn trại. Nhưng tên Hoàn đã quay súng ngược lên, bắn chỉ thiên 4 phát. Ðó là dấu hiệu báo cho các nhóm đang truy lùng chúng tôi ở các vùng xung quanh biết là đã bắt được tù vượt ngục rồi.

Thấy la hét không kết quả gì, hắn liền chọc mạnh cây “xà no” vào hang, mũi sắt nhọn trúng vai anh Tiếp. Qua ánh đèn pin hắn dọi vào, tôi thấy máu anh Tiếp tuôn ra đỏ thẫm một vùng nước. Trước tình thế này, chúng tôi thấy là không còn cách nào khác là phải lội ra. Anh Tiếp ra trước, tôi theo sau và chờ đợi những gì sẽ xảy ra với chúng tôi khi lên bờ.

Cái giá phải trả

Tôi vừa lóp ngóp bò lên tới bờ sông, gặp ngay tên Chuẩn úy Lăng, Sĩ Quan An Ninh của trại đang cầm trở ngược đầu cây súng AK đứng chực sẵn. Khi tôi bò lên vừa đúng tầm, hắn dọng báng súng cực mạnh vào giữa ngực tôi, tôi ngã lăn xuống nước. Ðó là cú đánh mở màn cho một thảm kịch sắp diễn ra trong dây lát. Tên Thượng sĩ Hoàn dùng “xà no” thọc vào lưng bắt tôi leo lên bờ. Tên Lăng vẫn đứng chờ tôi, nhưng lần này không đánh nữa mà túm tóc kéo lên bờ. Vừa bò lên tới bờ tôi thấy một đám người đông đúc đứng gần kín cả đồi sắn mới lú lên cao chừng hơn gang tay. Cách đó không xa, một toán chừng 10 tên cán bộ đang vây quanh anh Tiếp đánh đấm túi bụi. Vừa trông thấy tôi, một bọn khác xông vào nga. Tôi cũng phải chịu số phận như anh Tiếp. Lúc đó anh Thuyên ở đâu tôi không biết.

Những cú đấm đầu tiên làm tôi đau điếng cả người, nhưng chúng đấm đá một lúc thì tôi không còn nghe đau đớn gì nữa mà nghe những tiếng phình phình như ai đang đá banh dội vô tường. Tôi không còn biết cảnh vật chung quanh, nhắm mắt cắn răng chịu đòn, không hề kêu la một tiếng. Ðánh đập chán chê, họ đẩy tôi về phía trại. Mở mắt ra tôi không còn thấy anh Tiếp ở đâu nữa. Tôi loạng choạng lê bước đi trước, một lũ cán bộ ồn ào theo sau. Gần tới cầu ván bắc qua con suối cạn gần trại mộc, tên Thượng sĩ Khải là một võ sĩ huấn luyện viên vũ thuật cho cán bộ, đang đứng thủ thế ở phía trước chờ tôi tới. Khi vừa đúng tầm, hắn nhún người nhảy vọt lên cao, tống nguyên gót chân vào mặt tôi khiến tôi lộn nhào xuống cái suối cạn ở gần đó, máu mũi và máu miệng chảy ra lênh láng. Phải công nhận đây là một cú đá rất đẹp, đúng bài bản và có rèn luyện. Bị cú này, tôi cảm thấy thấm thía hơn là bị trận đánh đấm vừa rồi của những con ngựa non háu đá. Lúc đó tôi vẫn còn tỉnh nhưng chợt nghĩ là phải giả vờ chết, bằng không sẽ chết thật. Tôi nằm yên bất động. Bọn cán bộ đứng trên bờ gọi giục, tôi cũng nằm yên. Có mấy tên nhào xuống đánh tiếp, tôi cứ mặc kệ và nằm ngửa ra như một xác chết. Có lẽ chúng tưởng tôi đã chết nên gọi 2 anh Trật Tự Thi và Phát xuống suối kéo tôi lên và mang về trại.

Bùi Ðình Thi nhập cuộc:

Bùi Ðình Thi và Trương Văn Phát, mỗi anh một bên nắm lấy cổ tay tôi kéo lê về trại, lưng và mông tôi lết trên đường đá cục, đau đớn không chịu được, nhưng biết làm gì hơn? Chúng kéo tôi thẳng vô sân trại, vất nằm ngửa trên nền xi măng của hội trường. Nằm yên một chốc, tôi mê đi không còn biết gì nữa. Chẳng biết mê man như thế bao lâu vì tôi đã mất ý niệm về thời gian. Lúc chợt tỉnh lại, tôi mở mắt ra thấy Bùi Ðình Thi đang cầm sô nước lạnh giội lên mặt tôi. Vừa thấy tôi tỉnh lại, anh ta vội đặt cái sô xuống và nhanh như con hổ sợ con mồi vuột chạy mất, nhảy chồm lên, 2 tay túm lấy một cánh tay tôi kéo thẳng lên, đồng thời dùng gót chân đạp một cái điên cuồng vào ngực, vào bụng tôi, miệng anh ta sùi bọt mép, nghiến răng trợn mắt nói như muốn hụt hơi: “Ð.M. mày Lễ, ăn cơm không muốn mày muốn ăn cứt, mày muốn chết tao cho mày chết!”

Lúc đó nằm ngửa nhìn lên, tôi bắt gặp cặp mắt của Bùi Ðình Thi, một hình ảnh mà tôi còn cảm thấy kinh hãi cho tới giờ, một cặp mắt đỏ ngầu như máu, 2 tròng con mắt lồ lộ ra ngoài như mắt của một người treo cổ tự tử mà vì bổn phận có lần tôi đã chứng kiến. Chưa bao giờ và tôi nghĩ là cũng chẳng bao giờ tôi thấy đôi mắt của ai như đôi mắt Bùi Ðình Thi lúc đó. Ðánh đập chán chê, anh ta bỏ tôi nằm yên. Sau này tôi mới biết anh ta bỏ tôi quay sang “thăm” 2 anh Ðặng Văn Tiếp và Nguyễn Sỹ Thuyên đang nằm rải rác gần đó. Tôi lại đi vào cơn hôn mê lần nũa. Khi tỉnh lại, tôi thấy Bùi Ðình Thi đang cầm 2 chân tôi kéo lê lên các bậc thang đúc bằng xi măng từ sân hội trường lên khu kiên giam. Lưng và đầu tôi va chạm vào các bậc thang (12 bậc) làm tôi bừng tỉnh lại và nhờ đó tôi mới chưng kiến cảnh tượng hãi hùng khác: Cảnh Ðại úy Bùi Ðình Thi giết chết Thiếu tá Ðặng Văn Tiếp!

Mạng người thứ nhất

Bùi Ðình Thi kéo tôi vào lại buồng cũ, nơi mà chúng tôi vừa đào tường vượt ngục đêm qua. Chắc chắn một điều là Bùi Ðình Thi tưởng tôi đã chết rồi nên mới lôi đầu tôi vào phòng trước, đặt tôi nằm quay mặt nhìn ra sân, nhờ thế tôi mới có cơ hội nhìn thấy tội ác tày trời của anh ta. Nếu biết tôi còn sống, có lẽ Bùi Ðình Thi đã ban cho tôi một “cú ân huệ” rồi.

Vừa quẳng tôi vô buồng, Bùi Ðình Thi vội quay trở ra cửa khu kiên giam đẩy mạnh anh Tiếp vào. Từ lúc thấy anh Tiếp bị đánh ở bờ sông cho đến lúc đó là bao lâu, tôi cũng không thể đoán được vì trí nhớ tôi lúc đó rối loạn. Anh bị đòn nhiều ít thế nào tôi cũng chẳng hay. Tôi chỉ biết là lúc đó tôi trông anh còn có vẻ khá hơn tôi, tuy dáng anh trông tả tơi, nhưng anh còn đi đứng được. Chung quanh anh lố nhố bọn cán bộ. Tôi nghe có cả tiếng phụ nữ chắc là vợ con cán bộ nghe tin cũng đã chạy lên xem cảnh hành hạ tù vượt ngục. Tôi không biết ai đã quật anh Tiếp ngã xuống, nhưng tôi thấy rõ Bùi Ðình Thi, và chỉ có một mình Bùi Ðình Thi mà thôi, nhảy chồm tới cầm tay anh Tiếp kéo lên, rồi dùng ngón chân dậm lên một cách điên cuồng lên ngực, lên bụng anh giữa tiếng chửi bới và cổ võ của một lũ cán bộ.

Nằm nhìn ra cảnh ấy, tôi biết là anh Tiếp không thể chịu nỗi cú đòn hiểm độc này của Bùi Ðình Thi. Không rõ Bùi Ðình Thi hành hạ anh Tiếp trong bao lâu cho tới khi tôi nghe anh kêu lên thật to:”Chắc con chết mất Mẹ ơi!” Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của đời anh. Ðặng Văn Tiếp đã chết. Không ai ngờ được một cuộc đời đã từng ngang dọc oai hùng của anh đã bị chấm dứt một cách tức tưởi như thế này vào một buổi sáng âm u ngày 2/5/79 trong nhà tù Thanh Cẩm, lúc anh vừa 46 tuổi. Bùi Ðình Thi đã giết chết anh một cách dã man. Nếu tôi không sống sót thì ai biết được ghi thêm một thảm trạng trong nhà tù CS?

Hôm nay ngồi viết lại cảnh tượng này lòng tôi đau nhói. Tôi có cảm tưởng như đang xem một đoạn phim chiếu những hình ảnh méo mó, bệnh hoạn. Ruột tôi co thắt lại và tôi cảm thấy buồn nôn! Trong cả cuộc đời của tôi, không cảnh nào làm tôi đau xót bằng cảnh một Ðại úy QLVNCH đang trợn trừng cặp mắt đỏ ngầu như máu, điên cuồng đánh đập, chà đạp một Thiếu tá QLVNCH đang nằm vật xuống đất, dở sống dở chết, mình đầy máu me, trước sự chứng kiến của một lũ cán bộ VC đứng vây quanh vừa chửi bới vừa hò hét cổ võ. Cảnh tượng này không khác gì cảnh tượng trong một đoạn phim của cuốn phim “quo Vadis” mà tôi đã xem, đó là cảnh một đám khán giả khát máu tập trung trong một hí trường thời cổ đại La Mã đang là hét điên cuồng cổ võ những con ác thú cắn xé các nạn nhân bị kết án tử hình được vất cho chúng. Ðiều đáng tiếc là “Chắc con chết mất Mẹ ơi!” lại không phải là một con thú, anh ta là một con người. Hơn thế nữa, anh đã từng là chiến hữu của Bùi Ðình Thi, và 2 người chưa hề có thù oán gì với nhau, anh được chúng tôi coi là một người anh em, một người bạn tù đồng chung cảnh ngộ. Viết tới đây, cảm giác kinh hoàng của 17 năm về trước bừng sống dậy làm tim tôi se thắt lại, nước mắt tôi bỗng dưng tuôn trào xuống, những ngón tay tôi không còn giữ nỗi cây viết. Tôi phải ngừng lại để nói chuyện với anh Tiếp.

“Anh Tiếp ơi! Giờ này oan hồn anh ở đâu? Anh có biết người em này đau xót như thế nào khi ngồi ghi lại những dòng này không? Nước mắt của người em này cứ tuôn trào ra, chảy xuống ướt cả áo… Mỗi năm, vào ngày giỗ của anh, khi thắp nén hương đứng cầu nguyện trước bàn thờ anh, lòng em đau xót vô cùng, nhưng chưa bao giờ em khốn khổ như lúc em đang viết lại từng chi tiết về cái chết của anh. Tháng 8/1995 vừa rồi, khi qua Mỹ, em đã thay anh tới nghĩa trang Arlington viếng mộ của Mẹ anh vào một buổi sáng tinh sương, khi không khí còn trong lành. Em đi với Thụ. Khi nhìn làn khói hương bay tỏa lên cao, tự nhiên em nhớ lại câu nói của anh trước khi Bùi Ðình Thi đưa anh về bên kia thế giới: “Chắc con chết mất Mẹ ơi!”. Người em này bồi hồi xúc động, quay đi để gạt nước mắt, trong khi Thụ đang lúi húi lau chùi mộ bia của Mẹ…”

Giết chết anh Tiếp xong Bùi Ðình Thi lôi xác anh vào buồng vất chồng lên người tôi đang nằm như một thây ma bất dộng dưới lối đi, nơi mà mấy tháng trước đây tên Ðại tá Công an VC Hoàng Thanh đã đi qua để nhìn mặt chúng tôi. Lúc này tôi nằm ngửa còn xác anh Tiếp mềm nhũn nằm sấp áp lên người tôi. Trong tư thế đó, tôi là người thân cuối cùng có mặt để tiễn đưa anh về thế giới bên kia.

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ

Nhóm Quyết Tiến 48  Viết tại Auckland,  New Zealand  Ngày 2/1/1995

Posted by KÝ TẾ at 23:30

Source : http://viteuu.blogspot.com/2013/03/phan-viet-ve-toi-ac-bui-inh-thi-trong.html

20052016chaly_2
LM Nguyễn Hữu lễ được ra khỏi tù

Đọc thêm : Bùi Đình Thi – người làm “ăn ten” trong tù CS – đã chết

Tù cải tạo, đi H.O, ra tòa ở Mỹ, ở tù, chết trên đảo xa

Kính chào bà,

Xin lỗi đã chậm trễ trong việc phúc đáp thư bà hỏi về tình trạng của ông Bùi Đình Thi.
Nỗ lực tìm ra người còn nhớ đến ông Thi thật ra rất khó khăn. Ông Bùi Đinh Thi đã sống ở Marshall Islands trong một thời gian vài năm, nhưng chưa bao giờ bị giam cầm, và đã qua đời. Tôi không rõ ông qua đời lúc nào. Tất cả những gì tôi có thể xác định với bà trong lúc này là ông Bùi Đình Thi đã sống trên quần đảo này, và nay đã tạ thế.

Alan E. Fowler
Bộ Nội Vụ
Thủ Đô Majuro
Republic of the Marshall Islands

Bằng email với nội dung trên, ông Alan E. Fowler, viên chức làm việc tại văn phòng Đặc Trách Biển Đảo, thuộc Bộ Nội Vụ, nước Cộng Hòa Quần Đảo Marshall (Republic of the Marshall Islands) xác nhận với nhật báo Người Việt, rằng ông Bùi Đình Thi đã qua đời.

buidinhthi-400
Tấm hình chụp năm 1996, tại tư gia ông Bùi Đình Thi, do gia đình ông cung cấp cho nhật báo OCRegister năm 2003. Từ trái: Bà Bùi Đình Thi, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, người làm chứng chống lại ông Thi. Người đứng giữa là ông Bùi Đình Thi.

 

“Vụ Bùi Đình Thi”

Người đàn ông có tên Bùi Đình Thi từng bị Tòa Án Di Trú San Pedro ở California công bố lệnh trục xuất về Việt Nam vào cuối tháng 4, năm 2004. Nhưng sau đó, không ai biết ông trôi dạt về đâu, và nhiều nguồn tin nói rằng trên thực tế ông không phải về Việt Nam. Sở dĩ mọi người thắc mắc không biết ông Thi được đưa đi đâu sau khi bị trục xuất ra khỏi Hoa Kỳ là vì thời điểm đó giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chưa có Thỏa Hiệp Trục Xuất, vì thế Việt Nam có quyền từ chối không cho ông Thi nhập cảnh (Thỏa Hiệp Trục Xuất được hai bên ký kết vào ngày 22 tháng 1 năm 2008, và có hiệu lực 60 ngày sau).
Ông Bùi Đình Thi là ai, và tại sao lại bị trục xuất?
Bùi Đình Thi là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, sinh năm 1943, bị cáo buộc phạm tội tra tấn và giết tù nhân chính trị trong thời gian bị tù ở trại tù Thanh Cẩm ở Việt Nam sau 1975, nơi ông Thi cũng là một tù nhân. Nhiều cựu tù nhân Thanh Cẩm tố cáo ông Thi hoạt động như “tay chân” cho các giám thị cai tù từ năm 1978 đến năm 1981.

Sau khi được ra tù, ông Thi cùng gia đình đến Mỹ, theo diện H.O., và định cư tại Garden Grove, CA, USA, từ năm 1994. Ở đây gia đình ông sống âm thầm, ít giao du với cộng đồng trong một thời gian được khoảng ba, bốn năm.

Thế nhưng những gì xảy ra tại trại tù Thanh Cẩm, ở miền Bắc Việt Nam, bắt đầu đuổi kịp ông. Các nhân chứng, đa số là quân dân cán chính của VNCH, sau 1975 trở thành tù nhân chính trị và tôn giáo, bị giam cùng với ông dần dà lên tiếng tố cáo những hành vi của ông trong tù.

Ông Thi bị cáo buộc đã đánh Thiếu Tá Đặng Văn Tiếp, nguyên dân biểu Quốc Hội VNCH, đến chết, sau khi ông Tiếp tìm cách vượt ngục. Ông Thi cũng bị tố cáo đánh một tù nhân khác tên là Lâm Thành Văn, và sau đó để cho ông Văn chết đói.

Đặc biệt, một người tù tìm cách vượt ngục khác, là Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, cũng lên tiếng rằng ông bị ông Bùi Đình Thi đánh đập dã man trong tù, và kể lại chi tiết những hành động này trong cuốn hồi ký có tên “Tôi Phải Sống.”

Một đoạn trong hồi ký viết: “Lúc ấy nằm ngửa nhìn lên, tôi bắt gặp cặp mắt của Bùi Đình Thi, một hình ảnh mà tôi còn cảm thấy kinh hãi cho đến giờ này: một cặp mắt đỏ ngầu như máu, hai tròng con mắt lồ lộ ra ngoài như mắt của một người treo cổ tự tử mà vì bổn phận có lần tôi đã chứng kiến. Chưa bao giờ và tôi nghĩ là cũng chẳng bao giờ, tôi thấy cặp mắt của ai như mắt Bùi Đình Thi lúc đó. Đánh đập chán chê anh ta bỏ tôi nằm yên. Sau này tôi mới biết anh ta bỏ tôi để quay sang ‘thăm’ hai anh Đặng Văn Tiếp và Nguyễn Sĩ Thuyên đang nằm gần đó. Tôi lại đi vào cơn hôn mê một lần nữa. Khi tỉnh lại, tôi thấy Bùi Đình Thi đang cầm hai chân tôi kéo lê lên các bậc thang đúc bằng xi-măng từ sân hội trường sang khu kiên giam. Lưng và đầu tôi va mạnh vào những bậc thang (12 bậc), làm tôi bừng tỉnh lại và nhờ đó tôi mới chứng kiến cảnh tượng hãi hùng khác: Cảnh ‘Đại úy’ Bùi Đình Thi giết chết Thiếu Tá Đặng Văn Tiếp.”

Vào năm 1997, sau khi hồi ký “Tôi Phải Sống” ra mắt tại hải ngoại, làn sóng cáo buộc ông Thi về tội tra tấn dâng cao qua những bài viết lưu truyền trên mạng lưới toàn cầu.

Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, một người chuyên tranh đấu cho nhân quyền, cũng là Giám đốc BPSOS trụ sở tại Virgina, sau khi đọc cuốn “Tôi Phải Sống” và những bài viết trên mạng, tìm cách kiểm chứng câu chuyện với nhiều cựu tù cải tạo khác ở trại Thanh Cẩm rồi quyết định tố cáo các hành vi của ông Thi với Sở Di Trú Hoa Kỳ.

Trong cuộc điều tra bắt đầu từ năm 2001 của nhà chức trách Hoa Kỳ, nhiều cựu tù cải tạo đứng ra làm nhân chứng về các hành động mà người ta cáo buộc rằng ông Bùi Đình Thi đã làm trong lúc ở trong trại tù Thanh Cẩm.

Tháng 8 năm 2003 ông Bùi Đình Thi bị Sở Di Trú Hoa Kỳ khởi tố.

Vào cuối tháng 4, năm 2004, ông Bùi Đình Thi bị kết án, và thẩm phán D.D. Sitgraves thuộc tòa án liên bang Hoa Kỳ ra lệnh trục xuất khỏi Mỹ, tuyên bố rằng ông Thi “vi phạm luật di trú Hoa Kỳ.”

Công tố viên John Salter, thuộc cơ quan Chấp Pháp Di Dân và Hải Quan, phát biểu sau khi tòa án công bố phán quyết đối với ông Bùi Đình Thi, rằng các luật sư của ông đã tốn hàng trăm giờ đồng hồ để truy tố ông Thi, và rằng “chúng tôi sẽ không đứng yên và để Hoa Kỳ trở thành nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ đã phạm trọng tội đối với loài người.

Vụ án Bùi Đình Thi khiến giới truyền thông cả địa phương lẫn quốc tế, cả Việt ngữ lẫn Anh ngữ, sôi nổi một thời.

Trong bài “Tòa Án Mỹ Xử Xong Vụ Bùi Đình Thi,” đăng ngày 6 tháng 5, 2004, BBC đưa tin: “Lần đầu tiên, Hoa Kỳ trục xuất một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa vì các cáo buộc phạm tội tra tấn và giết tù nhân chính trị trong trại cải tạo ở Việt Nam sau 1975.”

Cùng ngày đó, đài VOA, trong bài “Ông Bùi Đình Thi sẽ không kháng án quyết định trục xuất của Hoa Kỳ,” cho biết luật sư của gia đình ông Thi quyết định không kháng cáo, và nói với tờ Los Angeles Times rằng gia đình ông “cảm thấy không muốn phí thời giờ và tiền bạc” vào việc kháng án, mà “chỉ muốn cho mọi chuyện qua đi.”

Marshall Islands

Thấm thoát đã 7 năm!

Vụ án ông Bùi Đình Thi dần dà đi vào quên lãng. Ngoại trừ gia đình ông, ít ai biết chính xác ông Bùi Đình Thi rời Hoa Kỳ từ bao giờ.

Cho đến cách đây không lâu, tin ông Thi qua đời được người ta truyền tai nhau. Không ai biết chính xác ông qua đời bao giờ, ở đâu.

Phóng viên nhật báo NV tìm đến vài chung cư mà theo một số người cho biết từng là nơi ở cũ của gia đình ông. Vẫn biệt tăm.

Sau nhiều điện thoại lẫn emails cho Sở Kiểm Soát Di Trú và Thuế Quan (ICE), Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Marshall Islands, cuối cùng, Người Việt nhận được lời xác nhận từ Bộ Nội Vụ Republic of the Marshall Islands, tại thủ đô Majuro, là ông Bùi Đình Thi qua đời.

Marshall Islands, tên chính thức là Republic of the Marshall Islands, là một đảo quốc của người Micronesia, nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, phía Bắc Nauru và Biribati, phía Đông Liên Bang Microsesia, phía Nam đảo Wake, thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ.

Theo bài viết có tên “Marshall Islands Helps Out US with Vietnamese Deportee”, đăng trên website www.yokwe.com, một tờ báo mạng của đảo quốc này, thì ông Bùi Đình Thi được đưa sang Marshall Islands vào đầu tháng 11 năm 2005, trong khuôn khổ của “Compact of Free Association” (Thỏa ước Liên kết Tự do) ký kết giữa Hoa Kỳ và Marshall Islands năm 1986, đánh dấu một tương quan mới giữa Hoa Kỳ và Marshall Islands, qua đó, Marshall Islands có một chính phủ tự trị, nhưng nhận trợ giúp của Hoa Kỳ, và dành quyền kiểm soát quân sự cho Hoa Kỳ.

Ông Thi sở dĩ đã cư ngụ ở Marshall Islands cho đến ngày qua đời vì Việt Nam không chấp nhận cho ông nhập cảnh.

Người cũ nói gì?

Tiếp xúc với phóng viên qua email, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cho biết ông “đã biết tin,” và với tư cách một linh mục, ông luôn cầu nguyện cho ông Bùi Đình Thi, và tin tưởng rằng thời gian ở đảo Marshall, ông Thi “có thì gìờ suy nghĩ về những gì mình đã làm và ăn năn sám hối.”

Linh Mục Lễ, một nạn nhân của ông Bùi Đình Thi trong thời gian ở trại Thanh Cẩm, từng gây tranh cãi khi ra tòa làm chứng chống lại ông Thi sau khi nói lời tha thứ ông này.

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ nói sẽ “dâng lễ cầu nguyện cho linh hồn người quá cố,” và “tiếp tục cầu nguyện cho một con người, về mặt này hay mặt khác, đã để lại trong lòng tôi một kỷ niệm trong thời gian tôi đi tù Cộng Sản.”

Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc BPSOS, phát biểu: “Buồn cho một người đã ra đi, mạng sống con người rất quý, bất kỳ người đó là ai và đã làm gì.”

Ông Đỗ Tăng Bí, một cựu tù khác, từng ở trại Thanh Cẩm, cho biết các anh em cựu tù Thanh Cẩm vẫn sinh hoạt với nhau, “riêng ông Bùi Đình Thi thì vì hoàn cảnh riêng không sinh hoạt được.”

“Riêng tôi vẫn xem ông Thi như một bạn tù, mặc dù có biết đến dư luận này kia về ông ta. Từng chia sẻ từng miếng cơm nên tin anh ta chết, tất nhiên tôi cũng ngậm ngùi.”

Nhà báo Lữ Giang, một người từng có nhiều bài viết về vụ án Bùi Đình Thi, nói với Người Việt, rằng chính ông cũng là một cựu tù bị giam cầm tại trại Thanh Cẩm, và “đã chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của ông Bùi Đình Thi.”

Nhà báo Lữ Giang phát biểu: “Ông Thi kể ra thì cũng tệ quá, cho nên qua đây không dám gặp ai cả. Tôi hồi đó không là nạn nhân của ông Thi, tuy nhiên những điều mà ông hành hạ người khác thì tôi có chứng kiến hết. Nghe tin ông chết thì thấy cũng thường thôi, vì hai bên không liên lạc gì.”

Trong khi đó, ông Phạm Phú Minh, một cựu tù khác ở trại Thanh Cẩm, tác giả bài viết “Một số suy nghĩ nhân vụ Bùi Đình Thi,” trong đó ông tìm cách lý giải rằng “hiện tượng Bùi Đình Thi” là vì hoàn cảnh khắc nghiệt của các trại tù Cộng Sản, cho biết ông thấy “bùi ngùi” khi biết ông Thi qua đời, “vì đó là người cùng cảnh ngộ” với ông trong cảnh tù đày sau 1975.

Ông nói: “Mặc dù anh ấy có phạm một số lỗi lầm trong cách đối xử với anh em cùng tù, nhưng cuối cùng anh ấy cũng đã trả giá cho các việc mình làm, và sự kiện anh Thi qua đời trong khi còn đang ở tù xa gia đình người thân thì cũng là việc đáng thương. Tôi mong sẽ quên hết mọi chuyện đen tối trong quá khứ, và cầu chúc anh Thi được thảnh thơi ở cảnh giới bên kia.”

 

BVN-TH

từ NV

Ông Bùi Đình Thi đã qua đời

Ngày cuối cùng của tháng 8, tôi đọc được cái tin ông Bùi Đình Thi qua đời. Trong giới HO, cái tên của ông không xa lạ gì, thậm chí còn quen thuộc không thua gì tên của một vị cựu VNCH vừa mới qua đời. Đọc cái tin với một thóang bùi ngùi cho số phần của ông với những điều không may. Không may vừa vì vận mệnh đất nước mà ông không thể thóat khỏi, vừa vì những hệ lụy do chính ông chủ động lựa chọn, mà những bí ẩn đằng sau sự lựa chọn ấy nay đã theo ông xuống dưới đáy mồ. Gia đình ông thì vì mặc cảm, đã cùng bảo nhau im tiếng, thậm chí cố tìm cách ẩn mặt , giấu tên giữa nước Mỹ mênh mông.
Khi ngồi xuống bàn viết cho những dòng ghi chép này, tôi vẫn còn băn khoăn tự hỏi mình: Liệu cái chết của ông có đáng được nhắc đến, trong khi bao cái chết của những con người có lựa chọn tốt hơn cho đời mình, cho xã hội, cho cộng đồng vẫn mỗi ngày chìm trong sự quên lãng của dòng sống bất tận? Liệu có công bằng không khi những kẻ làm điều không tốt cho đồng lọai, cho đồng cảnh (ngộ) lại luôn được nhắc đến, kể cả khi họ nằm xuống, còn những người lúc nào cũng ra sức góp phần mình cho những hòai vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn ở ngày mai cho đồng lọai, cho đồng cảnh, cho đồng bào cho đất nước thì cứ mãi bị bỏ mặc trong quên lãng?
Cùng lúc, một ý tưởng khác trong tôi xuất hiện, tìm cách “biện minh cho sự quan tâm quá mức“ đến cái chết của ông Bùi Đình Thi, kẻ đã được một nhà văn “ưu ái” đặt cho cái danh hiệu Tù Gian.
Mới tháng trước, cái chết của ông NCK đã làm tốn khá nhiều “điện “ (giấy mực – chúng ta đang sống trong thời kỳ ngự trị của thế giới ảo nên khái niệm về “giấy mực“ đã được thay bằng khái niệm về “điện“). Tại sao thế?
Thiết tưởng không cần nhắc lại những gì ông NCK đã làm lúc sinh thời (sau biến cố 1975) ở đây để khiến cái tên của ông được “ưu ái“ khắp nơi, kể cả khi ông chết. Theo tôi, người ta nhắc đến cái chết của ông trước hết là vì những “tác động có tính cách lịch sử trong một giai đọan có quá nhiều điều cần được nói đến, mổ xẻ, tranh cãi“ mà những hành vi, lời nói của ông đã tạo nên. Chứ chẳng phải vì “thương tiếc“ một con người, dù vì tình đồng lọai, nhiều kẻ vẫn giấu kín trong lòng nỗi ngậm ngùi cho thân phận con người và mường tượng ra một viễn ảnh không xa lắm trong tương lai sẽ lại tới phiên của mình.
Có lẽ, theo tôi, cái chết của ông Bùi Đình Thi – nếu có được nhiều người, nhiều nơi nhắc tới – cũng mang ý nghĩa tương tự như cái chết của vị cựu VNCH nói đến ở trên. Với những cựu tù nhân của các trại cải tạo mọc lên như nấm sau mưa trải suốt nước Việt Nam từ Nam chí Bắc sau biến cố 1975 thì trường hợp của “tù gian“ Bùi Đình Thi là biểu trưng cho một đọan đời không bao giờ phai nhòa trong trí óc, trong tâm hồn và trong thể xác của họ. Và, đọan đời ấy, với nhiều người, ở nhiều nơi khác nhau, không phải chỉ có một Bùi Đình Thi, tuy mức độ “tội ác“ có khác nhau, hoặc nhẹ hơn, hoặc tinh vi hơn. Nhưng chỉ có một Bùi Đình Thi phải ra trước công luận trả lời cho những hành vi của mình đối với đồng lọai, đồng cảnh. Vì thế, khó lòng mà không có “một chút suy nghĩ nào đó“ khi nghe tin ông qua đời.
Cũng như vị cựu VNCH vừa nằm xuống, rồi đây cái tên của ông Bùi Đình Thi hẳn cũng sẽ một “chỗ đứng“ trong lịch sử, trong những ghi chép về một đọan đời oan nghiệt bao gồm kẻ tốt người xấu, kẻ hèn người hùng, và những sự kiện đọc để chiêm ngưỡng hay đọc để phỉ nhổ, đọc để cảm hòai hay đọc để nén tiếng thở dài v..v…

T.Vấn    (Ngày 1 tháng 9 năm 2011)

Source : http://www.banvannghe.com/a814/bui-dinh-thi-nguoi-lam-an-ten-trong-tu-cs-da-chet

Tòa án Mỹ đã xử xong vụ Bùi Đình Thi

Lần đầu tiên, Hoa Kỳ trục xuất một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa vì các cáo buộc phạm tội tra tấn và giết tù nhân chính trị trong trại cải tạo ở Việt Nam sau 1975.

Ông Bùi Đình Thi, một cựu đại úy VNCH năm nay 62 tuổi, đã bị bắt giam từ năm ngoái nhưng nay sẽ không kháng án sau khi một thẩm phán di trú ra lệnh trục xuất ông ta khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ.

Luật sư của ông Thi là Louis Piscopo nói với báo chí tại Mỹ rằng gia đình ông Thi cảm thấy có kháng án cũng chỉ tốn tiền bạc và thời gian mà thôi.

Các quan chức tư pháp Mỹ cho biết ông Thi còn hạn đệ đơn phúc thẩm đến ngày 27 tháng Năm này. Nếu không ông sẽ bị trục xuất vào tháng Giêng năm sau.

Ông Bùi Đình Thi đến Mỹ định cư cùng cả gia đình vào năm 1994. Nhưng vào ngày 27.04 vừa qua ông đã bị một thẩm phán cấp liên bang ra lệnh trục xuất khỏi Mỹ vì vi phạm luật nhập cư.

Thẩm phán D.D. Sitgraves đã tuyên bố rằng ông Thi vi phạm luật di trú Hoa Kỳ.

Lời khai và luật pháp

Theo các nhân chứng thì thời gian bị giam trong trại Thanh Cẩm ở miền Bắc Việt Nam, một trong những nơi giam giữ các tù nhân chính trị và tôn giáo sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, ông Thi đã trở thành tay chân cho các giám thị từ 1978 đến 1981.

Ông bị cáo buộc đã đánh tù nhân Đặng Văn Tiếp đến chết sau khi ông Tiếp tìm cách vượt ngục. Ông cũng bị buộc tội đã đánh một tù nhân khác và sau đó để nạn nhân chịu chết đói.

Ông cũng bị buộc tội đã đánh dã man người tù vượt ngục nữa là linh mục Công Giáo Nguyễn Hữu Lễ.

Trong cuốn ‘Tôi phải sống’ , cha Lễ đã kể chi tiết về hành vi của Bùi Đình Thi và những chuyện khủng khiếp khác trong các trại cải tạo ở Việt Nam thời hậu chiến. Cuốn sách được in ra năm 1997 ở hải ngoại đã mở đầu cho những cáo buộc ông Thi về tội tra tấn.

Theo luật Hoa Kỳ, ông Bùi Đình Thi không thể bị xử như một tù hình sự vì những hành vi ông bị cáo buộc xảy ra từ 1978 đến 1981. Luật Mỹ chỉ cho phép xử những tội dù gây ra ở nước ngoài sau tháng 11.1994.

Đây là luật Hạ viện thông qua, công nhận các hành vi như tra tấn là tội hình sự kể cả khi thủ phạm gây ra ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ.

Theo luật thì ông Bùi Đình Thi chỉ là nghi can phạm các tội hình sự vì mọi căn cứ cho cơ quan pháp luật ra quyết định dựa trên những lời khai của các nhân chứng.

Nhưng luật di trú Mỹ cho phép tòa trục xuất những người như ông Thi. Một trong những cơ sở pháp lý cho quyết định này là hành vi vi phạm nhân quyền của người bị cáo buộc và lời khai che dấu các hành vi đó khi nhập cư hay khi xin vào quốc tịch Mỹ.

Ông Bill Odencrantz, giám đốc pháp lý vụ của Cục An ninh Quốc Nội Hoa Kỳ nói với báo Los Angeles Times rằng ‘Luật Mỹ không thể để nước Mỹ trở thành nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ đã gây tội sát nhân tàn bạo như vậy”.

Vụ Bùi Đình Thi đã được báo chí Việt Ngữ ở nước ngoài nói đến nhiều trong một thời gian.

Bản thân cha Nguyễn Hữu Lễ, nay định cư ở New Zealand, đã đến thăm gia đình ông Bùi Đình Thi trong một lần đến Hoa Kỳ.

Hiện chưa rõ Việt Nam có đồng ý nhận ông Bùi Đình Thi về nước hay không.

 Source: http://www.bbc.com/vietnamese/regionalnews/story/2004/05/040506_buidinhthi.shtml

Đọc thêm :
http://www.vietnamdaily.com/?c=article&p=70072
https://vietbao.com/a76467/toi-ac-bui-dinh-thi-tai-trai-tu-thanh-cam-phan-cuoi
http://www.art2all.net/tho/tho_sn/nuathekyvietnam/nuathekyvietnam_chuong9.htm
https://hoanghaithuy.wordpress.com/2007/10/31/tu-gian-bui-dinh-thi/


Những Sĩ Quan  
 (viết về những tên “ăn ten” khác như Bùi Đình Thi)

TRẦN YÊN HÒA

Tôi tới phòng phòng tập thể dục có thể nói là hằng ngày. Mỗi ngày không tới là tôi cảm thấy bức rức, khó chịu. Đó là một thói quen từ mười năm nay. Tới để chạy bộ trên máy ba mươi phút, vừa chạy vừa đọc sách hay xem TV, hay ngằm mấy em Mỹ, Mễ, Việt, Đại Hàn…khoe thân thể. Các bà các cô vào phòng tập thể dục cũng là dịp để khoe thân thể một cách hợp pháp. Trong phòng tập có hồ bơi, có phòng spa, phòng tắm hơi, phòng xông hơi. Các bà, các cô mặc sức khoe thân hình, xấu đẹp «tùy người đối diện». Nào áo tắm hai mảnh khoe bờ vai tròn lẵng và cả tấm thân trần mượt mà. Có bà tuổi cũng gần năm, sáu bó, nhưng cũng bikini hai mảnh, nhìn đến rợn người. Hãy tưởng tượng cái thân hình béo phì bị co thắt bởi bộ áo quần tắm chật chội, trông như đòn bánh tét bị bó quá chặt. Những cũng có những em mười tám đôi mươi, thân hình thon thả gợi cảm không chê vào đâu được. Tuy nhiên, dù xấu, dù đẹp, thế nào đi nữa thì tôi cũng cám ơn những vóc dáng đó. Nhờ nó, tôi đi tập khá đều đặn.

Nơi đây là nơi tập trung đủ hạng người trong xã hội, từ luật sư, bác sĩ, học giả, nhà văn, nhà báo, họa sĩ, nhạc sĩ, học sinh, du học sinh, thợ neo, sinh viên, sư ông, linh mục, mục sư, giáo sư…đủ cả, nên câu chuyện cũng «tả pín lù». Vào đây con người thật bình đẳng, không còn nghèo, giàu, sang, hèn. Ai khi đi tắm cũng ở truồng, hay khi vào xông hơi, chỉ còn trơ cái quần xà lỏn hay cái «sịp», thì cái hào nhoáng, cái bảnh choẹ, hãnh tiến, từ nghề nghiệp ngoài đời cũng trở thành vô nghĩa…

Buổi chiều khoảng từ 4 giờ, thường là đông người tập nhất, tại vì lúc này các hãng, xưởng tan tầm, nên công nhân tấp vào đây, trước khi về nhà. Vào «xã xú bắp» trên máy chạy bộ, trong hồ bơi, trong phòng spa, cho khoẻ thêm được chút nào tốt chút đó, để đối diện với cuộc sống bù đầu trong công việc. Công nhân vào tập, bơi, spa, xông hơi thì huyên thuyên đủ mọi chuyện, nào là thằng supervor Hùng hồi hôm vợ cho ra ngủ sofa hay sao mà hôm nay vào hãng trông mặt ngầu dữ, sắc thái sát khí đằng đằng. Thằng litđơ «Sáu bọ chét» la hét tùm lum, nó la lối, hãy làm nhanh tay lên, phải làm đủ chỉ tiêu…như là đang sống trong trại tù cải tạo cộng sản. Tổ cha nó chớ, toàn người Việt «đì» người Việt thôi, chứ mấy thằng Mỹ cũng đàng hoàng lắm.» Đó là ý kiến của bà Hiền , một công nhân làm assembly trong một hãng điện tử.

Đám HO sồn sồn thì thường ngồi chung quanh phòng spa hay quanh hồ nước nóng. Mấy ông ngồi ngâm chưn hay ngâm thân thể, cho vòi nước đấm vào lưng, vào bụng, cũng mê tơi. Chuyện mấy ông HO sồn sồn cũng chỉ xoay quanh ba chuyện quốc gia, cộng sản, chuyện đánh giặc hồi còn chiến tranh và chuyện tù cải tạo. Chuyện tù cải tạo của mấy ông là chuyện dài, kể hoài cũng không bao giờ dứt.

Nhờ thế, tôi là người chỉ đi tù trong Nam, không đi tù ở Bắc, mà tôi cũng thấy được cảnh khổ của tù nhân ngoài bắc ra sao. Nhất là các tù nhân ờ trại Hoàng Liên Sơn hay trại Vĩnh Phú. Cuộc tù tội trâu ngựa làm những người tù ghi ở quả tim mình những vết hằn rướm máu, không thể nào quên. Cho nên gọi đây là pho truyện dài hay là truyện sử ca ngàn người viết cũng không ngoa, không sai chạy chút nào.

Một hôm tôi vô tập sớm, buổi trưa, sau khi đã chạy bộ ba mươi phút, tôi vô xông hơi và ngồi trên hồ nước nóng, thả chân xuống nước cho nước đánh vào chân cũng nghe khoái tỉ. Độ này tôi thấy hay đau nhức đôi chân, hay tê tê dưới lườn bàn chân nên tôi hay đến ngồi đây để cho nước ấm dội vào.

Buổi trưa nên khu spa hơi vắng, chỉ có đối diện tôi một người đàn ông không quen mặt. Có lẽ ông này mới vào phòng tập thể dục hay sao? Nơi đây biết bao người đã đến rồi đi. Hệ thống tập thể dục này có cả toàn thế giới, ghi danh ở đây nhưng có thể tập ở bất cứ chi nhánh nào. Còn chuyện đến rồi «đi» của mấy ông sồn sồn, ông già, cũng là chuyện thường, họ có thể ngã quỵ ở nhà hoặc ở đâu đó, rồi được gia đình an táng, mà người quen ở khu thể dục này không thấy mặt nhiều tháng, là biết có thể là họ đã «đi đong».

Ông sồn sồn ngồi đàng kia cũng đang thả chân xuống hồ nước nóng ngâm chân. Mắt ông lim dim như thả hết tâm hồn vào cái khoái cảm, khi những tia nước nóng bắn mạnh vào chân. Tôi tôn trọng ông dù buồn miệng nhưng không dám hỏi. Tôi cũng đang ngồi lan man, lim dim như ông.

Tự dưng ông mở mắt ra, rồi hỏi tôi:

– Anh tập ở đây lâu chưa?

– Cũng mười năm rổi.

– Lâu dữ hén.

– Ừ, thì lâu, từ ngày khu tập thể dục này còn ở bên kia, sau này đổi sang bên đây, mới có hồ bơi, hồ nước nóng…

– Thế à, tôi vào đây mấy ngày, hồi trước tôi tập bên Balỳ.

– Sao anh không tập bên đó nữa?

– Bên đó 11 giờ đêm đã đóng cửa nên tôi thấy không tiện, nhiều đêm ngủ không được tôi muốn vào đây, có khi mười hai, một giờ sáng, tôi cũng vào.

Tôi thấy ông sồn sồn này nói cũng là chuyện lạ, nhìn kỷ ông, dáng dấp ông còn khoẻ mạnh, chỉ mái tóc hơi bạc lác đác, thân hình tương đối còn cứng cáp, tuy nhiên nét mệt mỏi như đọng lại trên khuôn mặt.

Tôi nghĩ có lẽ ông sồn sồn này có tâm sự buồn sao đây mà muốn vô tập thể dục những lúc vắng người, nhất là đêm hôm khuya khoắc khi mọi người đều an giấc. Như để phá vỡ suy nghĩ của tôi, ông tiếp:

– Tôi độ rày sao khó ngủ dữ, mà ban đêm khó ngủ là một nổi khổ, nên tôi thường vào đây, tắm hơi, xông hơi, ngồi spa này, về là nằm xuống ngủ êm đến sáng, khỏi nghĩ ngợi viễn vông.

Tôi trả lời ông:

– Tôi rất may là không mất ngủ, có lẽ cũng nhờ hằng ngày đi tập thể dục nên tôi đến lên giường là ngủ ngay.

Ông sồn sồn lại nhắm mắt, cả thân hình ông chìm trong nước chỉ chừa lại cái đầu. Bọt nước bắn vào mặt ông, ông cũng mặc. Ông ngồi im như tận hưởng những cảm giác êm dịu, nhẹ nhàng từ nước dội vào người. Tôi cũng thường thích những cảm giác như thế.

*

Ngày hôm sau tôi cũng đi vào giờ trưa. Tự nhiên tôi thích ông sồn sồn này. Ông có cái gì đó rất riêng tỏa ra mà tôi không hiểu được, có lẽ là một nỗi u uất nào đó, mà ông giữ kín trong lòng.

Buổi trưa khu tập thể dục thường vắng. Tôi đến thì ông sồn sồn đã ngâm nước xong, ông đứng lên ra chiếc ghế dài kê gần đó ngồi.

Tôi mon men lại hỏi:

– Hôm nay anh đi sớm?

– À, sớm chút, tôi thích đi giờ này vì vắng.

– Tôi cũng vậy.

Tôi bước xuống hồ nước, nước nóng khiến tôi rùng mình. Tôi rà chân đến chỗ có vòi nước dội mạnh nhất và ngồi xuống.

Ông sồn sồn đột nhiên hỏi:

– Hồi trước anh có đi lính không?

Tôi đáp ngay:

– Có chứ, lớp tuổi mình sao tránh khỏi. Đi sĩ quan, sau đi tù cũng sáu năm mới qua được đây đó chứ.

– Thế à, anh ở trại nào, có ra Bắc không?

– Không, tôi ở trong Nam. Anh có đi tù không?

– Có chớ, tôi “bọ tam” nên gần mười niên. Ra tận bắc.

– Ồ, vậy anh cũng đi HO.

– Không, tôi đi Ô Đi Ghe.

– Anh vượt biên?

– Vượt biên thừa sống thiếu chết. May mà đến nơi chứ không cũng bỏ mạng ngoài biển khơi cho cá ăn rồi.

Chỉ như vậy mà tôi khoái ông sồn sồn. Ông Thịnh. Có lúc tôi thấy ông cô đơn quá đổi, có lúc ông vui vẻ không cùng. Thế nên tôi hay la cà nói chuyện với ông riết rồi thành thân.

*

Khi toán tụi tôi lên tàu đi Bắc, gồm những tay có máu mặt, dân Võ Bị, dân CTCT chiếm đa số, phần đông nắm đại đội trưởng trở lên, hay an ninh quân đội, cảnh sát, Phượng Hoàng.

Phải nói là cái tàu chở chúng tôi đi bắc là tàu chở súc vật. Đám tù nằm ngồi la liệt lúc nhúc như những thây ma, sống dỡ chết dỡ. Thật là khốn nạn không thể tưởng tượng được. Nhưng sự sinh tồn của con người cũng thật lạ lùng, có những cái tưởng mình không vượt qua được mà mình cũng vượt qua. Cuối cùng rồi chúng tôi cũng cập bến và lên bờ. Những chiếc molotova cũ kỹ ì ạch chở tôi đến trại Hoàng Liên Sơn.

Khi vào trại, bọn tôi có 4 đứa họp làm một toán, chúng tôi ăn cơm chung với nhau, thề quyết không bỏ nhau, dù có chuyện gì xảy ra, thằng Cường, nhảy dù, Chiến, Thủy Quân Lục Chiến, Thịnh là tôi, Biệt động quân, và Tuấn, sư đoàn bộ binh. Trước đó ở trong Nam, chúng tôi đã nằm gần nhau, “ca cóng” cùng nhau, ăn uống cùng nhau nên trở nên thân thiết. Khi chuyển ra bắc vào trại Hoàng Liên Sơn, may mắn là chúng tôi lại cùng ở chung đội, ba thằng kia nằm đầu dãy lán, tôi nằm đàng phía trong, nhưng chúng tôi vẫn ăn cơm chung, dù lúc đó cơm tù chẳng có gì, nhưng ngồi nhai mấy miếng cơm hẩm với nước muối, mà có những thằng bạn cùng mình nói chuyện thì cũng đỡ buồn. Khi vào trại Hoàng Liên Sơn, tôi thấy đời mình đến đây đã là ngày tàn, không biết bao giờ thoát khỏi khu rừng núi thâm sơn cùng cốc này. Nơi khỉ ho cò gáy mà ngày còn ngồi học lớp nhất bậc tiểu học, tôi đã biết rặng Hoàng Liên Sơn là núi cao nhất VN và ngọn Păng Xi Păng cũng là ngọn núi cao nhất nước. Bọn CS đem chúng tôi nhốt vào nơi đây chắc chắn là chúng tôi sẽ phơi xương nơi chốn này, không có một ngày về với gia đình.

Chúng tôi vào rừng đón tre, đón gỗ lập thành lán trại. Tù tự lập nhà tù nhốt mình là thượng sách, thằng nào lên cai trị cũng lấy phương châm này là kim chỉ nam, tù cai quản tù, mà CS dùng một danh từ là “hệ thống tự quản”, trên có Ban Thi Đua, do một tên tù tổ sư, có nghề “cong lưng”, làm tay sai, la hét anh em, dưới sự chỉ bảo của bọn quản giáo. Những tên Trưởng Ban Thi Đua qua các trại tôi biết, những tên này hồi trước cũng một thời hò hét với lính lác, cấp bậc có thể là trung tá, thiếu tá, đại uý, đủ cả. Bọn cai tù cũng có nghề coi tướng, thấy tay nào có tính lăng xăng, nịnh bợ, kiếm điểm, là bọn nó nối kết ngay, trước là cho làm ăn teng, báo cáo vài chuyện vặt vãnh, sau nâng lên cho làm trong tổ tự quản, khỏi đi lao động tại hiện trường, được ăn cơm no, thỉnh thoảng lại được bọn cai tù cho vài cọng rau, củ khoai, gọi là bồi dưỡng, là bọn nó mừng húm lên, quyết chí làm tay sai, ra sức đàn áp anh em tù bên dưới.

Bọn tôi bốn người, cùng ăn cơm chung, ai đi lao động tại hiện trường kiếm được nắm lá giang, hay cải tau bay thì mang về nấu lên cho có chút rau tươi, chia nhau mà húp nước. Cũng có thể đó là những ngày hạnh phúc của bọn tù chúng tôi.

Một hôm, bốn chúng tôi đang ngồi nhai mấy miếng bo bo, vừa nói chuyện, thì ở đâu, tay Biển cùng lán, xăm xăm lại:

– Mấy “toa” nói chuyện gì mà vui quá vậy, cho tôi mượn ống điếu hút ké một điếu thuốc lào thử coi.

Thuốc lào là môn giải trí độc nhất vô nhị ở đây, một năm qua, không có thuốc lá, thuốc rê, vì chúng tôi chưa được gia đình thăm và tiếp tế lần nào, nên chỉ một số ít người còn chút tiền đem theo, nhờ mấy tay vệ binh mua cho thuốc lào, nên thuốc lào còn quý hơn vàng. Tay Biển sà tới, xởi lởi lấy trong túi áo bọc ny lông có chứa một bịch thuốc lào. Chúng tôi ai cũng sáng mắt lên, trước tiên Biển làm một điếu, hít đầy buồng phổi và thở ra một cách khoái trá, đến các bạn tôi, rồi tôi, ai cũng được hít “chùa” đến phê, một bi thuốc lào cở bự, thiệt khoái không sao kể siết.

Biển vừa nằm lim dim đôi mắt, vừa kể lễ:

– Tôi là Navy lieutenent colonel, hồi tháng 4 bảy lăm, tôi chỉ huy chiếc tàu đi từ Nha Trang ra Đà Nẵng để yểm trợ cho quân đoàn 1 tái chiếm Đà Nẵng, không ngờ theo lệnh Mỹ, “tông tông” nhà ta bỏ Ban Mê Thuột, rồi bỏ vùng 2, lúc đó tôi ra đi dễ dàng, nhưng mình là sĩ quan chỉ huy, mình không thể bỏ chiến hữu của mình lại được, cuối cùng tôi lên bờ nên bị kẹt lại, mẹ kiếp!.

Thật ra chuyện Biển nói với chúng tôi, tôi cũng nghe nhiều lần rồi, đi đâu, tay này cũng oang oang cái lỗ miệng về cái back round của mình, cái back round đó thì mỗi người mỗi vẻ, dĩ nhiên khi còn quyền hành trong tay, tôi cầm quân trong binh chủng “cọp ba đầu rằn”, tôi cũng hách xì xằng lắm chớ bộ, nếu mà quân đội một mực chiến đấu thì chưa chắc ai thắng ai. Chúng tôi bỏ súng là do lệnh trên, điều này ai cũng biết vậy, nên nay đành phải “ngậm một mối căm hờn bên củi sắt.”

Biển đổi giọng, nói tiếp:

– Mấy “toi” cho tớ ngồi ăn cơm chung với nhé, đàng kia, bọn nó hổn quá, tớ chịu không nỗi. Ăn chung trò chuyện cho vui cửa vui nhà mà. Có gì đâu.

Thiệt ra, chúng tôi nghĩ, bọn tôi bốn tên là vừa, nhiều quá gây ồn ào, mà tên Biển này nghe anh em tù cũng lao xao bàn tán là một tay hay bốc phét, lại mỗi khi gặp “quản giáo” hay “vệ binh” thì y một điều “thưa cán bộ”, hai điều “thưa cán bộ”, nên đám tù không ưa. Nhưng mà chúng tôi đã mắc quai “mấy bi thuốc lào” của tên Biển, nên biết ăn làm sao nói làm sao bây giờ. Chúng tôi đành ậm ự cho qua.

Thế là từ đó, cứ mỗi lần chia cơm xong, thì tên Biển mang qua ngồi với chúng tôi, chúng tôi cũng chỉ coi gã như một bạn đồng tù.

*

Qua mùa đông u ám của năm bảy sáu, mùa xuân hé mở với chúng tôi một mùa xuân tươi rói của đất trời, nhưng khi nhìn đi nhìn lại, chúng tôi vẫn thấy không có một hứa hẹn của ngày về. Điều mà trên thông cáo, ai cũng nghĩ là chúng tôi đi học tập chỉ một tháng thôi. Chuyện “thăm thẳm chiều trôi” này làm nãn lòng anh em chiến hữu đồng tù không ít. Ai cũng có hoàn cảnh riêng, ai cũng lo cho ngày về của mình xa tít vời vợi, còn vợ dai con thơ ở nhà ra sao đây?

Một hôm, Cường “dù” nói nhỏ với tôi:

– Tau phải dọt thôi, không thể chôn vùi đời trai mãi ở đây được, trước sau gì tau cũng tìm cách dọt, mày có tính “đi” cùng tau không?

Thật ra, nhìn quang cảnh trại tù với rừng núi mênh mông bạt ngàn tôi quá ngại, nên tôi nói nhỏ với Cường “dù”.

– Tau thấy bọn nó nhốt mình ở đây thâm sơn cùng cốc quá, biết đường đâu mà đi.

Cường cương quyết:

– Bắt đầu từ bây giờ, tau quyết chí phải dọt khỏi nơi này. Vợ con tau đang đói ở nhà, tau chịu không nỗi nữa. Chuyện này tau chỉ nói riêng với nhóm mình thôi, tụi bay đừng hé môi cho ai biết nhé.

Tôi gật đầu.

Có lẽ, trong bốn đứa còn lại, Cường “dù” cũng nói riêng cho từng đứa, nên tôi thấy sau đó thằng nào cũng tỏ ra nhấp nhỏm, ăn miếng cơm hẩm trong miệng cũng cố nhai cho thật lâu để khỏi phải nhìn thằng kia. Chúng tôi im lặng sống trong lúc Cường “dù” cũng im lặng lo cho cuộc vượt thoát của mình.

Thằng Biển, sau đó một tháng, nó rời bỏ nhóm, về lại bên kia, nó nói, bây giờ nó muốn ăn một mình để ngẫm nghĩ sự đời. Nó đi rồi, tụi tôi lại thong thả hơn, vui vẻ hơn, nói năng khỏi phải giữ mồm, giữ miệng. Có tin đồn râm rang, nó hay lên nhà của mấy tay quản giáo một mình. Nó lên làm gì ai mà biết, tuy nhiên anh em cũng chỉ bàn ra bàn vào, vậy thôi.

Hôm Cường “dọt” là một đêm khuya, khu trại tù Hoàng Liên Sơn sương mù phủ dày đặc, đưa bàn tay sát mắt mà không thấy. Hôm đó tình cờ sao buổi chiều có thằng Biển qua ngồi hút thuốc lào. Cường thì thầm vào tai bốn đứa:

– Tối nay tau dọt, một chết, một tự do. Tau có chết bọn mày có về nhớ báo cho vợ con tau biết.

Biển rít xong điếu thuốc lào rồi đứng dậy ra về.

Đêm xuống mịt mùng tối đen bao quanh khu trại tù Hoàng Liên Sơn.

Tôi nằm lơ mơ cầu nguyện cho bạn mình vướt thoát, rồi ngủ quên đi lúc nào không hay, đến khi đâu nửa khuya, nghe ầm vang lên tiếng nổ của những lọat đạn AK, chúng tôi mới giựt mình tỉnh giấc.

Chúng tôi bị đánh thức cả lán trại. Cường dù bị bắn gục ngay khi vướt qua hàng rào. Cường dù là một sĩ quan chỉ huy, một đại đội trưởng dù nỗi tiếng, tại sao anh bị bắn ngay từ phút đầu vượt trại. Tôi nghĩ, có bị bắt, hay bị bắn, ít ra cũng ra khỏi nơi này, ngoài kia núi rừng thâm u, chứ ở đây, đã biết giờ giấc lịch trình của vệ binh canh gác, Cường dù đâu có dại để bị bắn ngay từ đầu như vậy.

Tụi tôi sau cái chết của Cường dù, đã bị bọn quản giáo kêu lên kêu xuống biết bao nhiêu lần. Tuy nhiên, riết rồi chúng tôi cũng thoát. Thằng Biển sau đó được anh em chuyền tai là một tên “ăn teng hạng nặng”, nó đã báo cho quản giáo biết bao nhiêu chuyện của anh em trong lán. Sau vụ Cường dù bị bắn, Biển được chuyển lên trên khung gác nhà máy điện, nên sau cái tên Biển “hói”, Biển “an teng”, nó còn có tên Biển “điện”.

*

Chúng tôi trở về sau gần mười năm ở tù, quyết chí trả thù cho Cường dù, một chiến sĩ quân lực VNCH xuất sắc và kiên cường đã bị thằng “ăn teng mạt hạng” Biển “hói” báo cáo khi vượt trại. Nhưng tin tức của thằng Biển ra trại ở đâu vẫn biệt vô âm tín.

Qua đây chúng tôi lần mò tìm tin tức thằng Biển, nhưng nó cũng vô tăm vô tích. Chúng tôi ba thằng bạn đồng tù cũ đã lên lịch, thông báo với những anh em khác cố tìm cho ra tung tích thằng chó đẻ. Khi nghe thoáng đâu nó cũng được qua Mỹ, không giám ở khu người Việt đông, có anh em H.O đông, nó trốn như chạch ở đâu bên PA, rồi cũng thay đổi hình tích nhân dạng liên tiếp.

Nghĩ đến Cường dù gục ngã trước làn đạn đạn của thằng vệ binh Việt cộng, do thằng Biển báo cáo, chúng tôi tức sôi gan lên, muốn băm vằm nó ra từng mảnh.

Sau cái chết của Cường dù một tháng, thằng sáu Đờn, quản giáo, lên giọng dạy bảo, lên lớp đám tù: Các anh muốn về sớm không. Các anh còn tinh thần phản động quá lắm mà, các anh đừng hòng vượt thoát ra khỏi nơi này, cái chết của thằng Cường là một tấm gương tày líp, các anh hãy phản tỉnh lại đi, về đoàn tụ với gia đình sớm hay muộn là tự các anh thôi. Như anh Biển, cấp bực hơn các anh, vậy mà ảnh là người gương mẫu, học tập tốt lao động tốt, các anh hãy lấy anh Biển làm gương.

Thế đó, thằng Biển chó đẻ, nó đã giết thằng Cường dù, bạn thân nhất của tôi, của Chiến, của Tuấn, những thằng ăn cơm chung suốt mấy năm, làm sao không đau lòng và uất hận cho được. Khi ở tù, nói sợ thì ai cũng sợ cái uy lực của bọn Việt cộng đè xuống đầu mình, gia đình mình, nhưng khi nỗi căm phẫn đã lên đến đến tột đỉnh, nói “lên gân” một chút là chúng tôi sẽ “biến đau thương thành hành động”.

Sau khi qua Mỹ, chúng tôi đã mua mỗi đứa một khẩu súng, thủ sẳn trên xe, hễ gặp mặt “thằng chó đẻ” đó bất cứ ở đâu, bất cứ nơi nào là chúng tôi sẽ “bùm” ngay. Thằng Chiến, thằng Tuấn và tôi đồng lòng như vậy. Tôi biết luật pháp nước Mỹ này không chấp nhận điều này, chúng tôi có thể bị tử hình hoặc chung thân, gia đình chúng tôi sẽ khổ sở trăm bề, nhưng tôi nghĩ đến đôi mắt trợn trừng không khép đươc của thằng Cường “dù” khi bị bọn cai tù bắn gục, tôi không thể nhẫn nhục được. Thằng Chiến thủy quân lục chiến, trong một cuộc nhậu, nó đã cầm khẩu súng lên rồi tuyên bố một câu xanh rờn:

– Tìm được thằng cho đẻ, tau sẽ xử nó thế này, kê khẩu súng này vào ngay cái trán hói của nó, cái trán hói chứa chất bên trong cái não bộ, vận hành toan tính cách hãm hại anh em tù, tạo phải “đoành” một phát vào trúng trung tâm não bộ của nó, cho văng tung toé óc não của nó ra, thì tau mới hả giận. Thằng Tuấn đại đội trưởng bộ binh thì nói:

– Tau dùng khầu súng này nhắm vào cái miệng tham ăn, tham nói, tham báo cáo hãm hại anh em, viên đạn sẽ xé toạt cái miệng nó ra, cho nó hết thời ăn cứt.

Còn tôi thì trong lúc ngà ngà say, cơn giận thằng chó đẻ hãm hại bạn tù này cũng lên cực độ, tôi nói:

– Tau sẽ kê súng ngay hạ bộ thằng cho đẻ, bắn tanh bành nó ra, để nó về chầu diêm vương hết thời làm điếm đực, làm chỉ điểm.

Thế mà thằng Biển chó đẻ vẫn biệt vô âm tín.

*

Nghe chuyện kể của ông sồn sồn tôi cũng nổi da gà, chuyện “ăn teng” trong tù cũng là chuyện dài nhiều tập, tôi cũng nghe nói nhiều người có tiếng tăm của chế độ cũ, khi vào tù cũng cam tâm làm “ăn teng” mạt hạng cho bọn quản giáo, vệ binh, để được chút ưu tiên. Tuy nhiên chuyện báo cáo cho bọn cai tù biết ngày giờ của người bạn mình vượt trại, để bạn mình bị bắn chết gục ngay dưới hàng rào kẽm gai, cũng là một điều không thể tha thứ. Nợ máu phải trả bằng máu là chuyện đương nhiên, là đúng. Nghĩ vậy, tôi hỏi tiếp ông Thịnh:

– Vậy cuối cùng, đến nay nhóm bọn anh có tìm ra tông tích thằng “ăn teng chó đẻ” đó không?

Ông Thịnh mỉm cười, nụ cười ông trở nên hiền hòa vô kể:

– Không, à mà có. Suốt mười mấy năm tụi tôi mai phục, tìm kiếm tông tích nó, đến độ cây súng tôi bỏ trong thùng xe bị hoen rỉ đi. Thằng chó đẻ vẫn biệt vô âm tín. Sau nhiều năm cư ngụ ở vùng tây bắc, tôi quyết chí đưa gia đình về CA, vì tôi nghe thằng chó đẻ đã dời về ở đây. Bỗng một hôm, vào buổi sáng, tôi đọc trên một tờ báo Việt ngữ, thấy ở Las Vegas, tiểu bang Nevada, có tin một tai nạn xe hơi khủng khiếp, làm chết một người đàn ông và một người đàn bà. Xem kỹ tin này thì biết, chính người đàn ông chết đó là thằng Biển “ăn teng”, Biển “điện”. Nó từ PA về Cali, vì sợ quá nên trốn chui trốn nhũi, vợ bỏ nên nó tấp vào con mẹ chủ chợ cá ở Bolsa, con mẹ này hay lên đài ban đêm chữi bới đủ thứ. Thằng Biển “cặp” con mẹ này nhắm vào cái chợ con mẹ có hùn hạp làm ăn, nào ngờ cái chợ đang đà phá sản. Hai tên này buồn tình hay sao mà sa vào trò đỏ đen ở Las Vegas. Không biết làm sao, có phải là oan hồn của Cường “dù” nhập vào, để trả thù món nợ chết oan năm xưa hay không, mà thằng Biển lái xe chạy quá tốc độ, khiến xe đâm phải vào cột đèn, làm 2 đứa chết không toàn thây.

“Thằng chó đẻ” chết đã hai năm rồi. Ba tụi tôi họp nhau lại nhậu một bữa đã đời, để ăn mừng chiến thắng, cũng mừng may mắn là tay chúng tôi chưa nhúng vào máu. Sau đó chúng tôi quẳng súng xuống biển, coi như ông trời đã thay tụi tôi “tính sổ” thằng cho đẻ.

Suy cho cùng, cái gì cũng có nhân quả của nó hết, phải không ông? 

Trần Yên Hòa