PHỎNG VẤN VÕ KỲ ĐIỀN VỀ “KẺ ĐƯA ĐƯỜNG” / TƯỞNG NĂNG TIẾN

TNT: _Ở phần kết của truyện ngắn Con Đường Phải Đi trong tập Kẻ Đưa Đường, anh đưa ra một quan niệm như sau: “trang báo quí báu nên dành viết những cay đắng khổ nhục của cuộc sống ngày nay tại quê nhà, rồi hướng dẫn người đọc đến cuộc tranh đấu chống bạo tàn cường ngược… ” Bằng vào quan niệm nầy thì anh nhận xét ra sao về những trang báo mà chúng ta có ở hải ngoại. Liệu chúng ta có trật đường rầy không?

VKĐ: _Hiện nay có những tờ báo thật tốt. Họ đã làm những công việc bổ ích cho tập thể tỵ nạn chúng ta. Ít ra cũng trình bày trung thực được những gì xảy ra trên cái quê hương khốn khó, ít ra cũng kêu lên được cái nỗi đau đứt ruột của 60 triệu nạn nhân của độc tài, áp bức, vô nhân đạo. Nếu họ chưa làm được những gì lớn lao thì họ cũng bắt đầu bằng những cái nhỏ vậy. Rất đáng quí trọng. Tuy nhiên cũng có vài tờ báo vì mục đích thương mại, vì quyền lợi hoặc vì sở thích cá nhân riêng tư, họ không còn nghĩ tới quê hương đất nước nữa. Đó là cái quyền của họ. Nếu họ có “trật đường rầy” là do chúng ta, những người không dứt bỏ được quá khứ khổ đau, đồng bào ruột thịt, chớ không phải họ. Họ là những người tiến bộ, hội nhập dễ dàng vào đời sống mới. Nếu phải chia khuynh hướng, họ là những người thuộc khuynh hướng tiến bộ, chúng ta thuộc đảng bảo thủ.  Đối với tôi, tuyệt đối không phán đoán ai đúng ai sai, ai hay ai dở. Mà chỉ có vấn đề ưa hay không ưa mà thôi.

TNT: _Theo sự nhận xét của chúng tôi thì điểm thành công nhất trong tác phẩm của anh là sự điềm đạm, chân thành và giản dị khi trình bày mọi vấn đề; tuy nhiên, đôi khi anh vẫn “bắt” nhân vật của mình nói lên những điều quá sức của họ. Anh nghĩ sao về nhận xét nầy?

VKĐ: _Cũng có nhiều bạn văn hỏi tôi điều nầy. Xin được trả lời là nếu trình bày câu chuyện đúng hoàn toàn sự thực, không thêm không bớt, cái cây là cái cây, cục đá là cục đá, thì bài văn đó không phải là tiểu thuyết vì thiếu vắng sự sáng tạo.  Nói vậy không phải viết tiểu thuyết là nói láo.  Nếu trật hết trơn sự thật thì độc giả sẽ quăng tập truyện vào sọt rác. Nghệ thuật viết là ở chỗ nói láo mà là nói thật. Nói cho rõ hơn là tác giả có đủ mọi quyền năng thêm bớt vẽ vời, làm sao để độc giả thấy cái mà tác giả đã thấy, nghe được cái mà tác giả đã nghe. Cần phải nói rõ hơn nữa chỗ nầy. Cái mà tác giả thấy và nghe đó khác cái mà người thường thấy và nghe. Nói quá sự thực cũng là một cách nói lên sự thực. Trong kinh người ta nói Đức Phật có 72 tướng tốt. Trong các tướng đó có chuyện lưỡi của Đức Phật khi le ra bao trùm cả khuôn mặt. Bạn có tin không? Riêng tôi, tôi tin là đúng vì người viết kinh muốn nói đức Phật có tài thuyết pháp. Lời của Ngài bao trùm cả mười phương…

Một lần nhà học giả Trung Hoa Lâm Ngữ Đường cũng đã nói ý đó: “Tôi thích nói láo hơn là nói thật. Tôi thích nói láo mà không thận trọng hơn là nói láo mà thận trọng. Không thận trọng là yêu quí độc giả đấy. Tôi tin một người ngốc không giữ gìn lời nói, chớ không dám tin một vị luật sư…”  Tóm lại, nhà văn muốn gì viết nấy, trình bày hết cái cảm quan của mình, độc giả sau khi xếp sách lại, có được cái tình cảm vương vấn trong lòng hay không? Nếu có được chút gì vương vấn, cái đó là điểm mà nhà văn muốn nhắm tới.

TNT: _Trong lời tựa của tập truyện Kẻ Đưa Đường do chính anh viết lấy, chúng tôi có đọc được những dòng chữ như sau:” Miền Nam mất… cái lỗi là do chúng ta đón nhận những lời nhắn nhủ đầy tâm huyết (về hiểm họa cộng sản) một cách hờ hững thiếu nhiệt tình.”   Thưa anh, sau cái bài học chua cay và quá mắc giá ấy, anh nhận thấy độc giả của chúng ta ở hải ngoại có hết và hoặc bớt hờ hững về hiểm họa cộng sản không?

VKĐ:_ Lần nhớ lại chuyện xưa thời Chiến Quốc, nước Tàu chia làm bảy: Yên, Tề, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần. Cuộc đấu tranh cực kỳ gay go, quyết liệt, tàn khốc. Cuối cùng nước Tần mạnh nhất tiêu diệt sáu nước kia, gồm thâu một mối. Người người đều cho rằng Tần đã diệt lục quốc. Riêng thi sĩ Đỗ Mục trong bài phú tả cung A Phòng (A Phòng Cung Phú), đã nói một câu thiệt đúng: “Không ai diệt lục quốc cả, chỉ có lục quốc tự diệt mà thôi”. Nhân câu nói đó, tôi nghĩ tới miền Nam chúng ta. Cộng Sản Bắc Việt có diệt nỗi miền Nam chúng ta hay không, nếu tất cả cùng chung sức chung lòng chống giặc? Câu trả lời rất rõ là Đài Loan, Tây Đức, Nam Hàn họ cùng chung số phận như ta và cho đến nay họ đã vẫn còn đứng vững và giàu mạnh.

Tại sao vậy?  Cái lỗi là do chúng ta, người ít người nhiều tạo ra. Các nhà văn đầy tâm huyết của thập niên 50, 60 từ Bắc chí Nam đã rát họng kêu gào mà không ai thèm nghe. Dẫu có nghe cũng không ai thèm tin. Thời đó tôi còn nhớ rất nhiều người, sách nào chống cộng thì không thèm đọc, kịch nào chống cộng thì không thèm coi. Họ đồng hóa hễ tiểu thuyết chống cộng thì đương nhiên không hay. Chuyện chống cộng là việc làm của các ông công chức bộ Thông Tin hoặc các cơ quan Tâm Lý Chiến của bộ Quốc Phòng. Tiểu thuyết hoặc thơ, kịch muốn hay phải có yêu đương gay cấn, mùi mẫn kìa. Tôi chắc chắn các tác giả được yêu chuộng nhứt miền Nam giai đoạn 54-75 là những nhà văn của tình yêu, dù là yêu kiểu nào cũng được ái mộ hết mình. Vậy, theo tôi miền Nam mất là do dân miền Nam tự diệt đó, chớ không phải do người ngoài.

Bây giờ ở hải ngoại, người dân lưu vong Việt Nam đã thấy rõ cái tàn ác bất nhân, của cộng sản rất rõ, không còn nghi nghi ngờ ngờ như giai đoạn trước. Tất cả đồng lòng từ bỏ cái thiên đường ảo tưởng, ra đi với hai bàn tay không. Ai ai cũng chán ghét cái chế độ thiếu trái tim con người đó. Bạn đọc rất dễ nhận thấy giai đoạn sau 1975 ở hải ngoại, người yêu thích văn nghệ (báo chí, trình diễn…) không có cái nhìn lệch lạc hờ hững như thời trước. Người ta đã xúc động, đã tán thưởng các bài hát chống cộng cao độ, cũng như người ta đã say mê giành nhau đọc các bài văn có nội dung đả kích chế độ tàn ác, bất nhân ở quê nhà. Nhờ đó mà một số nhà thơ, nhà văn mới có cơ hội góp mặt với đàn anh không một chút do dự….

Nói chung, nền văn chương hải ngoại sau 75 có những khuynh hướng dễ thấy là:

_Khuynh hướng đấu tranh với cộng sản

_Khuynh hướng nhớ tới đời sống cũ ở quê nhà

_Khuynh hướng hội nhập cuộc sống mới ở quê người

Theo tôi, cái khuynh hướng rõ nét nhứt là khuynh hướng đấu tranh với cộng sản để được dân chủ, tự do. Vì lẽ mọi người cùng chung một tâm sự uất ức, bất bình, một hoài bão ước mơ được sống yên vui, hạnh phúc trên quê hương.

Nhưng cái gì cũng vậy, sau một giai đoạn nồng nhiệt mà thiếu kế hoạch, chuẩn bị, đường lối, nhân sự,… để đấu tranh cho đúng, vì cộng sản là một thế lực quốc tế (mức độ cai trị tàn ác của nó đã được khoa học hóa tinh vi)  thì người ta dễ đâm ra chán nản, thiếu tự tin, lòng nhiệt thành trở nên nguội lạnh và đâm ra lãng quên. Trong thơ văn gần đây, dễ nhận ra điều đó. Người ta đã từ từ hội nhập đời sống mới với đầy đủ tiện nghi vật chất và cố bắt chước cho theo kịp Âu Mỹ. Cũng như có những bà khi chồng chết khóc ngất, xỉu lên xỉu xuống nhưng sau vài tháng, son phấn hồng hào, miệng cười toe toét cặp tay chồng mới đi dạo phố, chụp hình cười duyên. Chuyện đó cũng thường tình.

TNT: _“Anh tiên liệu ra sao về tình hình sách báo của chúng ta nơi đây trong vòng mươi mười lăm năm tới?

VKĐ: “Tôi vẫn tin tưởng số lượng độc giả ngày càng nhiều chớ không phải ngày một ít đi như sự lo lắng của một số vị hằng lưu tâm tới Việt ngữ. Tôi có nghĩ ra ba giai đoạn của một đời lưu vong ở xứ người.  Giai đoạn đầu, người ta hối hả học tập bắt chước tiếng bản xứ vì điều nầy rất cần thiết cho cuộc sống. Đó là vì sinh kế bắt buộc. Cũng có một phần vì mê say vẻ lộng lẫy hào nhoáng ở xứ văn minh. Thời kỳ nầy tiếng Việt và tiếng ngoại quốc được dùng tương đương. Giai đoạn hai là lúc con cái lớn lên, chúng hoàn toàn học nói và viết tiếng xứ người. Tiếng Việt ít được dùng nhiều hơn. Nhưng trong giai đoạn nầy một hiện tượng tâm lý xảy ra. Thế hệ con cái chúng ta, Việt không phải Việt mà Tây cũng chẳng phải Tây. Thành ra chúng đâm ngơ ngác không biết mình là gì nữa.  Điều đó rất dễ hiểu. Chúng chẳng thể so sánh với ai hết. Chúng không biết gì về VN làm sao có những tư tưởng cảm nghĩ như ta được. Tuy sanh ra ở Tây ở Mỹ nhưng làm sao giống y như Tây như Mỹ được. Thế hệ nầy tạm gọi là thế hệ lạc lõng.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn cháu. Chúng sẽ suy nghĩ tìm tòi ra cái thân phận chúng và sẽ thấy cái gốc mà mình phải tìm về. Nếu có cơ hội lật ngược thế cờ về nước được thì hay quá. Còn nếu không thì cũng tìm về trong một số phong tục tập quán truyền thống. Lúc đó người ta sẽ nâng niu giữ gìn tiếng Việt như một thứ gia bảo. Nhà nào cũng rán có một tủ sách tiếng Việt cho con cháu nhớ về nguồn. Đó là định luật chung, càng xa quê hương càng giữ lấy gốc như các sắc dân Do Thái, Nhựt Bổn, Trung Hoa, Đại Hàn….

Tới lúc đó các nhà văn Viêt Nam dù lớn dù nhỏ cũng được mọi người yêu mến. Tôi vẫn tin như vậy và hy vọng.

Võ Kỳ Điền  (Tháng 2/1987)