Những ngày nghỉ học tôi hay cùng vài người bạn đi theo ông chú họ xem đánh bẫy chim cu. Bẫy chim cu là một cái thú giải trí của những người khá giả vùng quê khi rảnh rỗi. Địa bàn của những người đánh chim cu thật sự không giới hạn, cứ nhắm vào các vùng rẫy bái ít người, chim chóc dễ sinh hoạt là được.
Ngày kia, sau hơn một buổi tìm cách săn bẫy một con chim cu không kết quả, trên đường về, ông chú dẫn chúng tôi ghé thăm nhà một người bạn cũ của ông. Đó là nhà ông Lý Hạnh ở làng Dạ Lê. Hai ông là bạn học chữ nho chung một thầy ngày xưa. Sau này làm việc làng việc xã thỉnh thoảng họ vẫn gặp nhau. Ông lý lâu ngày gặp lại bạn cũ vui mừng đãi trà và chuyện trò rôm rả. Mấy người bạn tôi cũng dự vào uống nước, hóng chuyện.
Tôi không khát nước, lại không góp chuyện được nên thơ thẩn đi quanh sân kiếm thử có cây trái gì lạ lạ không. Đây là vùng thôn dã đất đai cằn cỗi, nhà cửa thưa thớt nhưng thời tiết đang xuân nên cây cối cũng khá xanh tươi. Hết nhìn cây trong vườn tôi lại nhìn vùng chung quanh. Bỗng một vung màu tím rực rỡ dưới nắng chiều nổi bật đập vào mắt tôi: cái cổng vào ngôi nhà hàng xóm của ông lý. Nhà ai mà văn vẻ nghệ sĩ thế này? Tôi tò mò bước sang xem. Đó là một cái cổng vòm giống như cái mui đò, sườn cổng là những cây tre cán dáo được uốn cong đều đặn, đầu và ngọn cắm xuống đất. Trên những thân tre cán dáo cong đó lại được buộc những thanh mèn tre cho các loại cây dây leo dễ bám. Kiến thiết kiểu này rất công phu tỉ mỉ vì phải uốn từng thân tre cán dáo, vót từng thanh mèn tre. Ở đây, chủ nhà đã trồng loại hoa giấy tím. Hoa giấy đã phủ kín cả vòm cổng và đang thời hoa nở rộ nên đứng xa nhìn vào người ta chỉ thấy một vung tím, một khối tím… Bên trong là một ngôi nhà ngói cũ kỹ gồm hai phần nhà lớn và nhà lều như hầu hết các nhà kiểu xưa, trên mái nhiều chỗ ngói đã sụt, có lẽ đã nhiều tuổi lắm rồi. Nghe tiếng bước chân tôi, một con chó nhỏ loắt choắt, lông dài, mướt, hình dáng như con chuột chạy ra sủa vang. Đây là loại chó nước ngoài, người ta nuôi để làm cảnh hơn là để giữ nhà.
-Ki mi, vô nhà ngay!
Một người nào đó có giọng nói thanh thao không bước ra ngoài, chỉ đứng trong nhà vịn cửa vói mặt dòm ra. Một thiếu nữ – gương mặt trông quen lắm. Nhưng cô gái quay vào liền nên tôi không kịp nhận diện. Mình đã gặp cô ta đâu rồi nhỉ? Con chó nghe lệnh chủ im tiếng quay lại toan trở vào. Tôi liền giậm chân một cái để trêu nó. Con chó có lẽ tức mình quay về phía tôi sủa tiếp.
-Ki mi, tao bảo vô ngay!
Thiếu nữ lại vói mặt dòm ra. Lần này nàng thấy tôi. Có lẽ ngạc nhiên vì tôi không xa lạ lắm, nàng lịch sự bước hẳn ra ngoài.
-Nhà … cô ở đây à! Nhà có cái cổng tím đẹp ghê hồn!
Tôi khen cái cổng nhưng thật sự tôi lại nghĩ đến người. Tôi thấy nàng lúc ấy cũng quá xinh đẹp trong bộ đồ bộ màu hồng.
-Anh tìm cậu em à? Chiều này cậu em đi dạy thêm lớp thi nên không có ở nhà.
Bây giờ thì tôi đã nhớ nàng là ai. Đó là cô bé tôi vẫn hay gặp khi cô đạp xe đi học cùng đường với tôi. Nàng luôn đi cùng với mấy cô bạn, tôi chỉ lướt nhìn thấy chứ chưa bao giờ tôi có dịp tiếp xúc. Nàng thuộc hạng nữ sinh xinh đẹp nhất trường nữ. Còn tôi vốn nhát gái, lại học hành kém cỏi nên trong lòng dẫu ưa, vẫn chưa hề dám có mộng ước vói tới hạng đó. Vì thế, trong tôi không có một ấn tượng nào về nàng. Giờ này thật tình tôi vẫn chưa biết chính xác tên nàng là gì nữa. Mấy khi mà được tiếp xúc với người đẹp như thế này, tôi sung sướng cố gắng tìm lời để nói cho có chuyện:
-Nhà ở tận đây, hàng ngày cô phải đạp xe cả chục cây số để đến trường, cô giỏi thiệt đó!
-Có chi mô, đi riết rồi quen hết. Anh Kha hay đi với anh đó ở còn xa hơn em nhiều mà! Gần nhà anh Kha cũng còn mấy chị nữa, họ đều đi được hết.
Thật là một điều thú vị bất ngờ, tôi mừng rỡ lắm. Thì ra cô ta cũng biết đến tôi, như thế có nghĩa là cô ta không hoàn toàn dửng dưng với tôi. Tôi là bạn học cùng lớp với Kha và vẫn hay đi cặp với Kha. Hồi ấy, ở các vùng quê xứ tôi, kể cả các quận lị, chưa mở trường trung học. Ai muốn học trung học đều phải về thành phố. Làng cô ta, làng Dạ Lê, muốn lên thành phố phải đi trên quốc lộ 1 chạy qua làng tôi, làng Thanh Thủy. Cho nên, dù hai bên không cùng trường cũng vẫn cùng đường. Một cậu học sinh Thanh Thủy muốn gặp một nữ sinh nào đó của làng Dạ Lê, chỉ cần sửa soạn sớm, vờ vĩnh ra làm gì ở một chỗ nào đó gần quốc lộ để đợi chờ thì rất dễ dàng toại nguyện. Trước đây tôi chưa bao giờ dám mơ ước quen tới hạng người xinh đẹp như cô gái này, nhưng bây giờ biết cô ta cũng có để ý đến mình, và qua cách xưng hô khá ngọt ngào, lòng tôi chợt chớm lên một chút hi vọng…
-Thằng Thịnh mô rồi? Lo mà về kẻo chiều rồi!
Thế là tôi không còn kịp nói gì với nàng nữa. Tôi chào nàng rồi trở lại nhà ông lý. Lát sau thì chúng tôi ra về. Đi ngang qua ngôi nhà lúc nãy mọi người mới để ý đến cái ngõ tím, tất cả cùng đứng lại nhìn trầm trồ:
-Nhà ai mà làm cái cửa ngõ thấy đẹp quá!
-Nhà này chắc là của một tay nghệ sĩ hào hoa chịu chơi lắm!
-Không ngờ giữa vùng nông thôn cũng có người tạo ra được cái đẹp thế này!
- …
Mặt trời sắp lặn. Cho đến khi cái ngõ tím gần khuất, tôi còn ngẩn ngơ nhìn lại nó. Mọi người lại kháo về chuyện con chim cu tinh khôn bị dụ suốt một buổi mà vẫn thoát hiểm. Riêng tôi không màng đến chuyện đó. Một ý nghĩ làm tôi cứ tủm tỉm cười: mình cũng gặp một con chim mái, nhưng làm thế nào để bẫy được nó đây?
*
Nhà Diễm chỉ có ba người: mẹ Diễm, cậu Cảnh và Diễm. Diễm là con một, mồ côi cha đâu từ thuở bé xíu. Lớn lên bên mẹ và cậu, Diễm không hề biết một tí gì về người cha của mình, kể cả bức hình cha để thờ nàng cũng không thấy nữa. Mẹ Diễm còn khá trẻ, người thanh cảnh nhưng rất bền bỉ, ít ốm đau, quanh năm cặm cụi vào vườn rẫy là đất của ông bà ngoại để lại cho cậu Cảnh, cậu ruột Diễm.
Cậu Cảnh là một giáo sư, một nhà thơ. Cậu đã khá lớn tuổi nhưng vẫn sống độc thân. Cậu Cảnh dạy học ở nhiều trường, tư có công có. Tuy còn là nhà thơ nhưng nhìn cậu Cảnh người ta chỉ thấy cái vẻ của một nhà giáo nghiêm khắc, kiêu kỳ, lập dị… chứ không thấy chút gì lãng mạn cả. Trời đã cho cậu Cảnh một gương mặt quá khắc khổ đến khó chịu. Bản tính cậu rất ít nói ít cười. Cậu sống nhiều về nội tâm, rụt rè, không ưa ồn ào, không ưa tiếp xúc với ai nếu không phải thật cần thiết. Vì thế, ngoại trừ vài người quá thân mới hiểu được cậu. Kỳ dư, bất cứ ai cũng ngại ngùng khi phải tiếp xúc với cậu. Ở lớp, anh học trò nào mà bị cậu gọi lên bảng là lập tức mất hết vẻ tự nhiên, bị khớp như người phạm lỗi. Học trò mà gặp phải cậu giữa đường thì thế nào cũng tìm cách lảng tránh để khỏi chào thầy. Những bạn bè của Diễm, khi đến chơi với Diễm nhiều người tỏ ra lấm lét khi thấy cậu ở nhà. Có lẽ vì cái vẻ ngoài ấy mà tới tuổi này cậu vẫn còn độc thân…
Diễm là một trong số người hiếm hoi hiểu rõ cậu. Trông bên ngoài cậu Cảnh có vẻ như vô tình, lạnh lùng nhưng tình cảm của cậu lại vô cùng nồng nàn, sâu đậm. Với Diễm, đứa cháu côi cút của cậu, cậu đã hết lòng dạy dỗ từng bài học, dặn dò từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ, từng bước đi. Cậu cũng chăm sóc lo sắm cho Diễm từng chiếc áo dài, áo len, cái nón, từng món ăn, tìm cho Diễm từng môn giải trí Diễm ưa thích. Cứ gắng cho môn học nào cũng được điểm cao là cậu đáp ứng thỏa mãn những gì Diễm mong muốn…
Vốn đã được trời ban cho một gương mặt vui tươi, xinh xắn, một thân thể cân đối, gọn gàng, lại được người cậu nuông chiều không ngại tốn kém về việc trang sức cho đứa cháu, Diễm càng trở nên xinh đẹp bội phần… Bình thường, Diễm gần như không hề có bạn bè thân thiết thuộc nam giới. Người ngoài cũng cho rằng chuyện đó là lẽ tất nhiên do sự khó tính của người cậu Diễm gây nên.
Đó là những gì tôi biết được về Diễm qua lời của Kha. Tôi hỏi Kha:
-Thế Diễm đã có bồ bịch chi chưa?
-Tụi nó lui tới cũng nhiều nhưng có lẽ chưa đứa nào lọt mắt xanh. Hình như tụi nó đều ngán ông Cảnh. Mày nhảy vô thử sao? Có khi khác làng vậy mà được việc cũng nên!
-Tao quê một cục thế này, chú cuội dám vòi Hằng Nga sao được?
-Biết đâu duyên số mày! Công chúa Tiên Dung lấy anh chàng quấn khố Chữ Đồng Tử mày không nhớ sao?
Bình thường tôi cũng biết thân phận lắm. Nhưng tôi đã gặp Diễm và thấy không đến nỗi xa cách như mình nghĩ, bây giờ lại nghe Kha nói xuôi tai tôi càng đâm ra mơ vọng. Duyên số ông tơ bà nguyệt kết cho thành biết đâu!
Từ hôm đó tôi hay suy nghĩ nhiều về Diễm…
*
Một buổi sáng tôi vừa đạp xe ra khỏi ngõ kiệt trong thôn thì gặp ngay Diễm cũng vừa đạp xe tới. Đây là lần đầu tôi gặp Diễm đi một mình. Nàng nhoẻn nụ cười tươi như hoa chào tôi:
-Anh Thịnh! Anh đi học sớm thế à!
Một điều hên cho tôi, hôm ấy là ngày đầu tôi đi chiếc xe “đầm” mới mua còn láng coóng. Lâu nay tôi vẫn dùng chiếc xe giàn cà rịch cà tang. May mắn năm nay trúng mùa, cha mẹ tôi đã bán một số lúa gom với số tiền dành dụm bấy lâu nay mới sắm được chiếc xe đó. Không ngờ vừa cỡi nó ngày đầu tôi lại gặp giai nhân. Thế là tôi càng hi vọng vào duyên số! Tôi mừng rỡ thầm nghĩ như thế và càng suy nghĩ lại càng tin tưởng thêm. Lâu nay có bao giờ Diễm lại đi một mình đâu! Tôi hân hoan rà xe lại đi song song với nàng. Chiếc xe láng coóng của tôi đã làm cho tôi thêm mạnh dạn. Nếu còn cỡi chiếc xe giàn trời ơi như trước chắc gì tôi dám xáp lại gần nàng?
-Hôm nay sao Diễm lại đi một mình?
-Em đang có chuyện lo trong người nên nôn nao không đợi bạn bè được!
-Có chuyện chi mà lo đến thế?
-Dạ cô giáo cố vấn lớp em muốn lớp em có một tập thơ lưu bút với sự đóng góp của toàn lớp. Tập thơ sẽ được quay ronéo để phát cho mỗi người một tập làm kỷ niệm. Nhưng em thì không làm thơ được, em sợ bạn bè cười lắm. À, em nghe anh Kha nói anh Thịnh cũng có làm thơ, anh có thể giúp em làm một bài được không?
Khó thật, tôi đâu có làm được bài thơ nào ra trò. Nhưng cơ hội tốt thế này mà bỏ qua thì uổng quá. Liền đó tôi cũng chợt nhớ ra một điều, vội hỏi Diễm:
-Diễm có nhiều bạn bè, lại có ông cậu ruột là nhà thơ thứ thiệt sao lại không nhờ họ làm cho?
-Chính vì điểm ấy mà em phải nhờ tới anh đó. Em không muốn những người chung quanh biết mình có một bài thơ nhờ người khác làm hộ.
-Nhưng thơ tôi làm chẳng hay ho gì, cũng ngặt cho Diễm lắm.
-Em nghe anh Kha nói anh làm thơ nổi tiếng trong làng mà!
Tôi sực nhớ hồi ấy, mỗi lần Ngô Tổng Thống về thăm bà mẹ ở Huế, ông thường phải đi bằng xe một đoạn từ phi trường Phú Bài đến nhà riêng ở Phủ Cam. Chính quyền địa phương thường huy động dân chúng tạm gác mọi công việc để đi đón mừng Tổng Thống. Từ nửa đêm chính quyền đã cho mõ làng đi rao đánh thức dân dậy lo cơm nước, để rồi ai nấy cầm quốc kỳ kéo nhau lên ngồi dọc hai bên quốc lộ 1, chờ đến khi xe Tổng Thống đi ngang qua thì vẫy cờ vẫy tay hoan nghênh. Nhiều lần Tổng Thống ra trễ làm dân phải đợi đến chiều. Phải nói rằng chính quyền địa phương đã lo lắng việc đón tiếp vị nguyên thủ quốc gia thật nhiệt thành. Tôi có tức cảnh làm một bài thơ mà giờ đây tôi chỉ còn nhớ bốn câu đầu như thế này:
Nửa đêm nghe tiếng a lô
Mau mau ra đón cụ Ngô sắp về
Đồng bào thức dậy bộn bề
Cùng nhau cơm nước lên lề đường quan…
…
Chỉ có thế nhưng tôi được các viên chức chính quyền địa phương khen dồi lên, do đó nhiều người tưởng tôi làm thơ hay thật.
Lúc này tôi đã tin Diễm nhờ đến mình là lời thành thật. Tôi nghĩ nếu có phần số thì chắc ông tơ bà nguyệt cũng sắp đặt sẵn cho những cơ duyên đưa đẩy thuận tiện. Tôi bèn hứa đại với Diễm:
-Được, tôi sẽ cố gắng hết mình.
Diễm nghe tôi hứa quay sang nhìn tôi với nét mặt rạng rỡ:
-Anh nhớ giữ lời nghe, nếu không em giận đó!
Diễm nói sơ qua cho tôi nghe về chủ đề tập thơ do cô giáo cố vấn đưa ra. Trước khi ai về trường nấy, Diễm dặn:
Nếu anh làm xong sớm, đem đến nhà cho em vào các chiều thứ ba, thứ năm hay thứ sáu vì những chiều đó em nghỉ học mà cậu Cảnh em bận đi dạy.
Tôi đến trường với niềm sung sướng vô biên cộng với nỗi hồi hộp lo lắng cũng không kém. Vô lớp tôi không hề chú ý đến lời thầy giảng mà chỉ vận dụng trí óc để nhớ những thằng bạn nào có các tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, Mấy Vần Thơ của Thế Lữ, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Gái Quê của Hàn Mặc Tử, …
Ngay chiều hôm ấy tôi đã chạy ra được mấy tập thơ. Vì hôm sau đã là thứ năm, ngày mà Diễm cho biết là cậu nàng bận đi dạy học, tôi phải nôn nóng lo gấp rút. Tôi lơ cả việc ăn uống, cắm đầu làm việc ngay từ buổi chiều cho đến gần sáng hôm sau. Tôi đọc ngấu nghiến cuốn này qua cuốn khác, gặp câu nào đắc ý, tôi đều ghi chép lại cẩn thận, sau đó lựa ghép các câu ấy, sửa đổi lại chút ít để biến dạng chúng thành của riêng mình. Qua một đêm gắng sức, tôi đã hoàn thành được một bài thơ. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và sung sướng nghĩ rằng Diễm sẽ hài lòng, sẽ thán phục về tài năng sáng tác của tôi. Buổi sáng vừa bước ra khỏi nhà, tôi nghe mẹ tôi nói với cha tôi:
-Tội nghiệp thằng Thịnh sắp thi cử chi đó mà hắn học suốt cả đêm, trông người hắn bơ phờ ra. Chiều phải mua cái chi tẩm bổ cho hắn mới được.
Tới lớp tôi thấy người rã rời, tôi phải giả vờ chống tay che mắt để giấu sự ngủ gà ngủ gật nhiều lần. Thế mà tới gần giờ bãi học tôi lại tỉnh táo và khỏe hẳn. Ra khỏi lớp tôi liền đạp xe một mạch về nhà. Sau khi ăn uống qua loa, tôi sửa soạn cho mình lại một tí rồi hớn hở đạp xe đến nhà Diễm. Tôi vừa đạp xe vừa tưởng tượng ra sự mừng vui của Diễm khi thấy được bài thơ. Dọc đường tôi lại rút tờ giấy chép bài thơ ra ngâm nho nhỏ. Chưa ngâm hết bài thì đã đến ”ngõ tím” rồi. Trong lúc đang hăng hái quẹo xe vào ngõ tôi bỗng khựng lại: một toán thanh niên cầm liềm cầm rựa đang ngồi nghỉ dưới giàn hoa giấy. Một thanh niên trông có vẻ gai góc chận tôi lại:
-Anh muốn hỏi ai ở đây?
-Tôi muốn gặp cô Diễm.
-Xin lỗi, anh là chi của Diễm? Cô Diễm đi rẫy chiều tối mới về. Anh cần chi cứ nói chiều tôi sẽ nói lại giúp cho.
Tôi không biết xử trí thế nào, cứ ngẩn ngơ đứng đó. Thấy tôi như vậy, một thanh niên khác lên tiếng:
-Anh về đi, tới tối cô Diễm mới về, đợi không được đâu.
Thấy tình thế bất lợi, tôi đành đạp xe ra về. Đi được một đoạn thì tôi nghe tiếng người cười nói văng vẳng:
-Học trò trong làng mình không thiếu cha chi đó mà được một hoa khôi lại lọt vào tay người làng khác sao?
Tôi có phúc đến thế sao? Nghe được câu nói này tôi sung sướng lắm, bao nhiêu nỗi bực mình từ nãy giờ bỗng tan biến hết. Lời họ nói làm tôi càng tin rằng có thể một động lực vô hình nào đó đã đẩy Diễm lại gần tôi. Hôm nay chưa gặp được Diễm ngày mai gặp cũng xong, cái triệu tiền định hiện rành rành ra đó thì còn sợ ai nữa!
Đêm đó về nhà dù rất sung sướng trong lòng tôi vẫn không cách nào ngon giấc được. Tôi cứ tưởng tượng như Diễm đã là người yêu chính thức của mình. Nhưng xét lại bản thân, tôi thấy mình yếu kém nhiều mặt khiến tôi rất lo lắng. Nhất là cái mặt mà tôi đã cố khoe dối khi làm giúp bài thơ cho Diễm. Nếu gần gũi Diễm lâu ngày tất nhiên tôi không thể che đậy sự dối trá đó được nữa. Tôi tự nghĩ chỉ có cách kể từ giờ phút này, rảnh lúc nào là cố gắng đọc thơ lúc ấy, may ra thấm nhuần được chút nào. Và nghĩ như thế xong là tôi thực hành ngay. Ngoại trừ mấy chặp ngắn ngủi ngủ gục, gần như cả đêm đó tôi lại thức để đọc thơ… Vì tinh thần quá lên, tôi không hề thấy mệt mỏi gì cả.
Hôm sau tôi lo đi sớm để đón đường Diễm. Nhưng vừa tới đường cái thì tôi lại gặp Kha. Kha mừng rỡ vẫy gọi tôi cùng đi với hắn. Tôi chỉ muốn đợi để cùng đi với Diễm nên lúng túng chưa biết dùng lời gì mà từ chối thì Kha vừa vẫy tay tiếp vừa cười:
Đi nhanh lên ta nói chuyện này cho mà nghe!
Tôi nghe Kha nói có chuyện thì tính tò mò nổi lên. Thế là tôi đi với Kha. Kha nói:
-Mi thiệt có phước đó. Tụi thanh niên làng tao đều kháo với nhau là mi đánh bại chúng nó cả rồi đấy.
-Ủa, tao đã làm gì nên thân đâu? Ngoài mi ra có thằng thanh niên nào biết được chuyện tao đâu?
-Tụi nó nói tùm lum ra ai cũng biết rồi. Mấy thằng thanh niên Cộng Hòa đi làm công tác phát quang nói có gặp mi tại nhà Diễm mà! Nhưng tụi nó chưa biết tên mi!
À, thì ra là mấy anh thanh niên ngồi nghỉ dưới giàn hoa giấy trước nhà Diễm chiều hôm qua. Tôi sực nhớ một điều bèn hỏi Kha:
-Hình như Diễm cũng hay đi làm rẫy hả?
-Diễm mà làm rẫy cái gì! Ai nói với mi?
-Chiều hôm qua tao có đến nhà Diễm thì gặp mấy thằng thanh niên kia. Tụi nó bảo là Diễm đi làm rẫy tới tối mới về.
-Tụi nó xạo để đuổi mi đó. Diễm không đến rẫy bao giờ đâu! Tụi đó đến nghỉ trước nhà Diễm thì Diễm nín trong nhà không ra là cái chắc rồi.
Đến trường tôi lại ngong ngóng tới giờ về như hôm trước. Bãi học về nhà tôi lại ăn uống qua loa rồi nôn nóng đạp xe đến nhà Diễm. Trên đường đi tôi thấy lòng vừa rộn ràng sung sướng vừa hồi hộp lo lắng. Biết đâu chiều nay lại không gặp đám thanh niên Cộng Hòa làm kỳ đà cản mũi? Mặc kệ chúng, trâu cột ghét trâu ăn là chuyện thường mà!
Tôi mừng xiết bao khi vào ngõ nhà Diễm không hề gặp một ai. Tôi dựng xe đạp lại rồi gõ cửa. Cùng lúc đó, một đứa bé chừng mười một mười hai tuổi trông mình mẩy dơ dáy ăn mặc rách rưới ở đâu bên hàng xóm chạy sang. Tôi nhìn thằng bé. Nó vênh mặt nhìn lại tôi dáng vẻ nghênh nghênh. Diễm mở cửa vui mừng bước ra:
-Anh dắt xe đạp qua bên này này!
Diễm chỉ tay vào một góc nền hiên sát vách nhà. Tôi đang làm theo lời Diễm bỗng nghe thằng nhỏ hát:
Học trò đi học đường xa
Đi lâu mỏi cẳng bắt cha cõng về!
Con nhà ai mà có vẻ hỗn xược vậy? – Tôi thầm nghĩ và lại nhìn thằng bé.
Tôi ngạc nhiên thấy thằng bé lại hếch mặt nhìn tôi rồi đột ngột hỏi:
-Mi đi học mỏi chân có bắt cha mi cõng về không?
Thế này là quá quắt lắm! Tôi lớn hơn nó ít lắm cũng bảy tám tuổi mà! Tôi giận sôi gan chằm chằm nhìn nó đe dọa. Diễm thấy vậy cũng tỏ vẻ bực bội, nàng nháy mắt bảo tôi:
-Mặc chó nó. Anh khóa xe cho kỹ rồi vô nhà!
Thật sự thằng bé trông gớm ghiếc quá đánh nó cũng sợ nhớp tay, tôi muốn bước vào nhà cho xong chuyện. Nhưng nó cứ nhìn tôi chằm chằm mà cái miệng cứ trề ra trề vô cố ý trêu tức tôi trông càng sôi máu lên. Diễm thấy vậy can thiệp:
-Thằng Tí không được hỗn nữa! Đi về nhà mi mà chơi!
Nhưng thằng bé vẫn trân trân ra đó. Thình lình hắn chạy lại chiếc xe đạp của tôi:
-Tao xả xì lốp để mi phải bắt cha mi cõng về!
Không còn nhịn được nữa, tôi sấn lại đánh nó một bạt tai. Thằng bé la tru tréo lên và lập tức có ba thằng choai choai xuất hiện.
-Đ. M. ăn hiếp con nít hả? Đánh bỏ mẹ mày luôn!
Chúng đồng loạt nhào tới tấn công làm tôi không thể nào chống cự nổi. Diễm thấy thế chỉ biết vừa dậm chân vừa kêu khóc. Chúng vật đè tôi xuống, một đứa ngồi luôn trên mặt tôi, một đứa khác ngồi giữ cứng hai chân tôi, đứa thứ ba và thằng nhỏ thì tha hồ đấm đạp. Chúng còn rút luôn cả những thanh tre trên giàn hoa giấy để đánh tôi. Hoa lá rơi rụng tơi tả một vùng. Ban đầu tôi cố ngậm miệng chịu trận nhưng rồi không chịu nổi cũng phải kêu la rên rỉ. Chúng xé rách toang hết cả áo quần tôi ra nữa. Cả những cục đá cục gạch quanh đấy chúng cũng dùng để xáng vào người tôi. Sau cùng tôi phải nhắm mắt, nín thở, nằm im phăng phắc giả vờ chết… Tôi nghe tiếng Diễm kêu thét hãi hùng:
-Trời ơi, mấy anh đánh chết người rồi!
Khi ấy bọn du côn mới hoảng hốt bỏ chạy. Diễm chạy lại vừa khóc tức tưởi vừa lay lay người tôi. Tôi mở mắt thì thấy trên thân và quanh mình đầy ngập, tả tơi lá và hoa tím. Diễm mừng rỡ thấy rõ khi biết tôi không chết, nhưng nàng chỉ loay hoay xuýt xoa chứ không biết phải làm gì. Phải một chập sau tôi mới đủ sức ngồi dậy. Lúc đó Diễm mới nhớ ra gần đó có một trạm xá y tế và Diễm đã chạy sang cầu cứu các y tá. Tôi quê quá không dám sang trạm xá nên một cô y tá đã mang bông băng và thuốc men sang giúp tôi. Thương tích trên thân tôi gần như chỗ nào cũng có. Nước cồn và bông băng tới đâu là tôi nhói rát tới đó. Nặng nhất là ở hai vai bị chúng lấy đá để đập nên dập cả thịt, đau không thể tưởng tượng. Tôi lại còn bị gẫy hết bốn cái răng gồm cả hai răng cửa hàm trên mới khổ chứ. Môi tôi sưng loa vù lên. Diễm nấu cháo hành cho tôi ăn nhưng tôi chỉ cố gắng húp được một chén.
Diễm đem ra cho tôi một cái ghế bố để tôi tạm nghỉ. Vừa nằm ngửa xuống, tôi chợt thấy bài thơ oan nghiệt từ túi áo lòi rớt ra ngoài. Thì ra cái túi áo sơ mi của tôi sút chỉ hết nửa trên. Những tưởng có lúc tôi và Diễm cùng đọc và bàn luận về bài thơ đó nhưng giờ này thấy nó tôi lại thấy ê mặt quá chừng. Tôi lén lượm lên và đút nó vào túi quần. Thấy áo quần tôi rách nát tả tơi, lại dính đầy đất cát cùng bao nhiêu mảng vụn của hoa giấy, Diễm lấy một bộ đồ ngủ cũ của ông cậu Diễm đưa cho tôi thay tạm. Không có cách gì hơn, tôi phải làm theo ý Diễm. Diễm lúc ấy chỉ biết lập đi lập lại nho nhỏ một câu “Trời ơi, khổ ơi là khổ, biết làm sao bây giờ?”.
Tôi nằm nghỉ ở cái ghế bố ấy đến cả tiếng. Sau khi hoàn hồn, tôi gượng đau đứng dậy. Dù sao tôi cũng phải lo về nhà trước khi mẹ hay cậu của Diễm trở về. Tôi bước chậm chạp mở cửa, nhìn chiếc xe đạp. Trời ơi, chiếc xe đã bị xả xìu hết lốp và cả hai vành xe đều bị uốn thành hình số 8. Một số căm xe gẫy hoặc sút bật ra giương lên lỏng chỏng. Cái thanh sắt cứng dùng để nạy vành nạy căm vẫn còn để đó. Giàn xe, yên xe, cóng xe đều méo gẫy vì bị dùng dao rựa bằm chặt. Chiếc xe mới sắm giờ ra như thế biết ăn nói sao với cha mẹ tôi đây?
*
Tôi về nhà khi cha mẹ tôi đi làm chưa ai về cả. Mừng quá, tôi rửa ráy, thay vội áo quần rồi vào giường nằm trùm mền lại. Lúc này tôi mới sực nhớ tới bài thơ: nó nằm trong túi chiếc quần bị xé rách toang tôi đã phải vứt tại nhà Diễm. Ôi, cái bài thơ mà trước đây tôi hãnh diện và nôn nao trông đem đến cho Diễm bao nhiêu thì bây giờ nó trở thành vết ô nhục mà tôi rất sợ Diễm đọc nó. Nhưng muốn hay không bây giờ không còn tùy thuộc tôi chút nào nữa. Và ngay chính cả Diễm nữa, tôi còn mong gì ở nàng? Chẳng lẽ bắt đền ăn vạ hay cầu xin một chút tình thương hại? Đành vĩnh biệt Diễm thôi vậy.
Tôi đã nói dối với người thân là bọn cướp đánh tôi để lấy chiếc xe đạp. Nghe tôi bị nạn cả xóm kéo tới thăm chật nhà. Lời nói dối vụng về chắc không đủ sức thuyết phục ai nhưng hình như thấy thân thể tôi ra thế này, chẳng ai nỡ truy hỏi. Ai cũng an ủi, cầu chúc cho tôi sớm bình phục. Đêm đó mẹ tôi thắp đèn sáng trưng, bảo tôi mặc quần cụt, cởi trần ra rồi bà vừa khóc thút thít vừa bóp dầu gần khắp trên thân thể tôi. Cứ thấy chỗ nào có dấu lạ mẹ tôi lại đưa tay ép ép xoa xoa và hỏi “Chỗ này đau không con?”. Nhiều chỗ bà chưa kịp hỏi tôi đã phải kêu lên “Á! á!” vì đau đớn. Có thể câu hỏi đó mẹ tôi đã lập đi lập lại cả trăm lần. Cha tôi chỉ ngồi lặng im nhìn mẹ tôi bóp dầu một chập rồi thở dài mà đi ngủ. Tuyệt nhiên cả hai người không ai hỏi gì đến chiếc xe đạp.
Tôi phải xin phép nghỉ học hơn một tuần mà người vẫn còn ê ẩm. Lúc ấy nhiều vết thương trên mình tôi vẫn tiếp tục mưng mủ. Mấy ngày nằm nhà một mình chịu cảnh đau nhức hành hạ tôi cứ suy nghĩ vẩn vơ. Tôi không hiểu mình dại dột hay gặp vận xui xẻo nữa! Thực tế tôi với Diễm đã có ai nói với ai một lời yêu đương nào đâu! Diễm có chút cảm tình nào với tôi không? Hay chỉ vì Diễm cần làm một bài thơ? Hay đó chỉ là một sự đùa nghịch của Diễm? Biết đâu khi chuyện đó xảy ra nàng lại chẳng khỏi cười thầm? Cũng tại mình chỉ cóp nhặt được năm ba câu thơ mèo mửa lại dám làm dốc. Có lúc tôi lại tức cười nghĩ rằng Diễm chính là con chim cu mồi và tôi đúng là con chim cu trống háo thắng bên ngoài… Nghĩ đằng nào thì mình cũng là một kẻ ngu muội, nông nổi, gánh chịu hậu quả đó cũng phải thôi.
Phải hơn một tháng sau người tôi mới thật sự bình phục.
Có một điều lạ là từ khi đi học lại tôi không hề gặp Diễm lần nào nữa.
Thằng Kha cũng không hề nói gì về chuyện đó, chẳng lẽ hắn lại không biết? Tôi thắc mắc nhưng không bao giờ dám hỏi ai. Tôi cũng không còn lý do và không còn bụng dạ nào để đi ngang qua nhà Diễm để xem có gì đổi thay không nữa.
Mãi nửa năm sau, khi cần làm giấy tờ ở quận Hương Thủy tôi mới có dịp đi ngang qua cái “ngõ tím” ấy. Dĩ nhiên là tôi không thể nào quên cái nơi gắn liền một sự cố quan trọng với đời tôi như thế. Nhưng tôi không thấy cái “ngõ tím” ấy nữa và cả ngôi nhà cổ kính của Diễm cũng chỉ còn trơ cái nền gạch đã đào phá lởm chởm.
Ấn tích khiếm khuyết hai cái răng cửa hàm trên là một thực tế không tách rời tôi được. Mỗi lần nhai cơm, mỗi lần đánh răng là trước mắt tôi lại hiện lên cái ngõ tím oan khiên cùng nàng thiếu nữ diễm kiều mà bao nhiêu năm qua tôi vẫn không thể nào biết được nàng đáng hận hay đáng thương.
Ngô Viết Trọng
Nguồn : tác giả
Trở về … tập truyện Ngõ Tím
Trở về … Trang Ngô Viết Trọng