NGÔ THỜI NHIỆM BA LẦN PHẢN BỘI

KIẾN HÀO

1.Lừa bạn phản thầy :

Xứ Bắc Hà thời chúa Trịnh Sâm (1739-1782) vua Lê chỉ còn hư vị, mọi việc đều phó hết cho chính phủ; còn các quan lo kéo bè kết cánh chống đối lẫn nhau, không nghĩ gì đến quốc kế dân sinh. Việc đem quân vào Nam đánh chiếm được Thuận Hóa và Quảng Nam càng khiến chúa tôi thêm kiêu căng, tự mãn. Cuối đời Trịnh Sâm, các quan trong triều chia làm hai phe, hoặc theo phe hoàng tử Trịnh Cán mà đứng đầu là Huy quận công và Tuyên phi Đặng thị Huệ, hoặc theo phe Thế tử Khải (Trịnh Tông) mà đứng đầu là bọn lão thần Khê trung hầu, Hồng lĩnh hầu và Tuân sinh hầu. Năm Canh Tý 1780,  Trịnh Sâm lâm bệnh. Bọn Khải bèn ngầm mưu làm phản cướp ngôi chúa. Việc cắt đặt chưa xong thì Trịnh Sâm khỏi bệnh.

Nguyên lúc ấy có viên Đốc đồng trấn Kinh Bắc là Ngô Thời Nhiệm vốn là thầy dạy của Thế tử Khải, được Khải sai tên gia thần là Hà Như Sơn mật báo cho Nhậm biết việc tạo phản, khiến chuẩn bị mọi việc. Nhậm vội báo cho trấn thủ Kinh Bắc là Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân, vừa là bạn đồng liêu vừa là cấp trên trực tiếp, nhưng Tuân không nghe lời can gián. Nhậm bèn về kinh hợp mưu cùng tên Huy Bá thuộc phe cánh thị Huệ cáo tố là Khải lén lút cấu kết với hai viên trấn thủ Kinh Bắc và Sơn Tây mưu toan làm việc trái phép. Chúa Trịnh bèn lập kế triệu hồi hai viên trấn thủ về kinh rồi bắt giam, sai Nhậm chủ trì tra xét vụ án đó. Tuy nhiên vì nhà có tang, Nhậm phải bỏ việc quan mà về, vụ án được giao cho Lê Quý Đôn tra xét.

2.Sát tứ phụ nhi thị lang :

Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, khi phát giác ra việc âm mưu tạo phản của Trịnh Khải, Thời Nhiệm đã đem vụ việc ra báo lại với cha là Ngô Thì Sĩ, đốc trấn Lạng Sơn, và có ý định về kinh cáo giác. Sĩ hết sức kinh sợ, cố sức can ngăn, thậm chí phải đem cái chết để thề bồi với con, nhưng chung quy Nhậm vẫn không theo. Kịp khi nghe tin Nhậm đã phát giác việc ấy, Sĩ buồn bực, bèn uống thuốc độc tự tử. Kết thúc vụ án, Tuân sinh hầu, Khê trung hầu và Hồng lĩnh hầu đều nhận tội chết, Hân quận công bị lột hết chức tước, bọn gia thần cũng bị vạ lây. Thế tử Trịnh Khải bị truất làm con út, đời đời không được nối ngôi chúa, bị giám sát chặt chẽ trong một nơi ở riêng, gia thần không được vào thăm. Nhậm vì có công tố giác, được thăng Hữu thị lang bộ Công (Thứ trưởng bây giờ-KH). Do đó, người đương thời có câu rằng “ sát tứ phụ nhi thị lang” (giết bốn người cha để được làm Thị lang). Bốn người cha là : Thì Sĩ, thân phụ, Trịnh Tông, quân phụ, hai người bạn của bố là Nguyễn Khắc Tuân và Nguyễn Khản.

3.Đổi chủ :

Năm 1782, loạn kiêu binh nổi lên đưa Trịnh Tông trở lại ngôi chúa, nhũng kẻ tham dự vào việc tố giác chúa năm xưa đều bị kiêu binh lùng bắt và phá nhà tan tành. Ngô Thời Nhiệm bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình, đường công danh kể như chấm dứt. Âu đó cũng là cái giá phải trả cho những kẻ dùng âm mưu thủ đoạn chốn quan trường, hãm hại người khác để làm bậc tiến thân. Nếu chúa Trịnh không bị Tây Sơn lật đổ thì Thì Nhậm kể như hết đường tiến thủ trong lúc suốt đời phải chịu điều tiếng giết cha của bia miệng. Điều này giải thích tại sao sau này, cùng với Phan Huy Ích,  Ngô Thời Nhiệm là một trong vài viên quan nhà Lê sốt sắng ra hợp tác với Tây Sơn sớm nhất trong lúc đa số quan lại Bắc Hà nếu không chạy theo vua Lê được đều chọn con đường tạm lánh ở ẩn. Vua Quang Trung đã thấu hiểu tình thế “nhạy cảm” của Nhiệm nên đã có lời an ủi, vỗ về cho kẻ sĩ Bắc Hà yên lòng : “ Ngày trước, ngươi vì chúa Trịnh không dung, một mình bỏ nước mà đi. Nếu ta không đến đây, ngươi làm sao được thấy bóng mặt trời ? Có lẽ đó là ý trời muốn để dành người tài cho ta dùng. Vậy ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp, thế là được” (Hoàng Lê Nhất Thống chí). Sau chiến thắng Kỷ Dậu (1789), Nhậm được vua Quang Trung ủy thác đảm đương mặt trận ngoại giao với nước Thanh. Đây là thời kỳ văn tài của Nhậm được phát huy hết mức. Khi vua Quang Trung mất, Nhậm bị thất sủng không được Quang Toản và đình thần Tây Sơn tin dùng, bèn lui về nhà nghiên cứu Phật học.

Ngô Thời Nhiệm với Đặng Trần Thường :

Sau khi vua Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Lê hàng Tây Sơn bị đánh bằng roi tại Văn Miếu (1803). Sau trận đòn, về nhà, vài hôm sau thì Ngô Thì Nhậm chết. Về cái chết của Ngô Thì Nhậm, người đời thêu dệt thêm chuyện Đặng Trần Thường dụng hết pháp để trả tư thù, nhưng xét ra luật trời có vay có trả, phải chăng chính những oan hồn của vụ án năm Canh Tý đã vận vào nghiệp chướng của Thì Nhậm như một cách báo thù của người cõi âm ? Câu chuyện Đặng Trần Thường tẩm thuốc độc vào roi hoặc sai hình quan cố ý đánh vào chổ hiểm của Thì Nhậm chỉ là truyền thuyết, không có chứng cứ. Đánh roi cũng còn là hình phạt nhẹ so với tội “phản quốc” dưới thời phong kiến. Dù sao hình phạt ấy cũng mang tính nhân văn cao hơn so với ngay cả các hình thức xử phạt tương tự thời nay của một số chế độ vẫn tự xưng là văn minh, nhân đạo. Sử gia đời sau cứ trách hình luật triều Nguyễn tàn nhẫn hơn luật Hồng Đức nhưng xem ra cũng có ngoại lệ. Có thể vua Gia Long vẫn còn chút biệt nhãn đối với đất và người Thăng Long ngàn năm văn vật. Ai cũng biết thói đời, kẻ thừa hành xu nịnh thường hay đoán ý mà làm vui lòng quan trên. Huống chi mối hiềm khích Thì Nhậm-Trần Thường công khai trên sảnh đường ngày nào, ai ai cũng biết: Thì Nhậm đang hồi đắc ý được Tây Sơn giao cho chức quan to xứ Bắc, sỉ nhục Trần Thường trước bá quan văn võ. Thời cuộc xoay vần, nay (1803) kẻ ngồi trên ngôi cao mắng người trở thành kẻ chịu tội, còn kẻ bị mắng trở thành vị phán quan xét xử. Vậy thì bọn chấp pháp kia dù có ngu dốt cũng biết cách làm thế nào để vui lòng quan trên của chúng. Bị phạt trượng đau một, nhưng bị chịu nhục ngay cửa Khổng sân Trình, đối với một nhà nho đau gấp hai ba lần. Trong lịch sử Việt Nam, cũng có một trường hợp chết vì không chịu nổi nỗi sỉ nhục : đó là kẻ cướp ngôi nhà Lê Mạc Đăng Dung. Năm 1541, Mạc Đăng Dung dẫn bộ thuộc lên Ải Nam Quan, mặc đồ trắng, giắt roi trên lưng, tự trói mình, cúi đầu quỳ lạy trước bọn võ quan nhà Minh, nộp sổ sách đất đai xin đầu hàng, chịu phiên thuộc, nhận tước phong và nộp cống hàng năm. Trở về Dương Kinh (Hải Dương), bị ám ảnh bởi nỗi nhục quá lớn, Đăng Dung lâm bịnh và từ trần.


 

Trở về … Trang Kiến Hào  * HOME