“ Vậy ai đang và chuẩn bị đi trông cháu, để ông ở nhà một mình nên xem bài này …”
Tháng trước, thấy cán bộ địa chính xã đến nhà ông Phượng hàng xóm đo đạc, ghi chép, tôi nghĩ chắc ông Phượng chuẩn bị bán đất. Hôm qua, thấy bà Phượng về, tất tả thu dọn hành lý cho một chiếc xe tải nhỏ chở đi, tôi và cả xóm mới hay ông bà đã hoàn tất thủ tục ly hôn.
Tài sản cũng đã phân chia xong. Mảnh đất của gia đình ông chia 4. Ông, bà, 2 cô con gái – mỗi người một suất. Bà đang làm thủ tục bán suất đất của mình để chia cho 2 con gái, rồi dọn đi sống cùng 1 trong 2 cô ấy.
Tin tức loang ra quanh xóm nhanh chóng. Một cuộc ly hôn khi cả hai vợ chồng đã ở tuổi sáu, bảy mươi ư?
Thật ra cũng không quá lạ. Nhiều cặp vợ chồng già đã chia tay nhau ở chặng cuối cuộc đời, vì nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân ông bà Phượng ly hôn thì tôi vô cùng ngạc nhiên: Ông không thể chịu đựng được cái tình yêu quá lớn lao mà bà Phượng dành cho hai cô con gái cùng đám cháu ngoại. Cái tình yêu khiến nghĩa vợ chồng của ông bà bị đẩy sang bên lề.
Xưa các cụ vẫn bảo “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”. Chính vì cái nghĩa tình của các cặp vợ chồng khi về già với nhau mà hiếm có người con nào thay thế được đó, nên nhiều cụ ông góa vợ, nhiều cụ bà góa chồng khi tuổi đã chấp chới thế giới bên kia đã tìm kiếm gá nghĩa. Còn gì tốt đẹp hơn việc hai người già tựa nương vào nhau lúc cô đơn, đau ốm cuối đời. Thế mà vợ chồng ông bà Phượng lại rời xa nhau, mỗi người một ngả.
Cay đắng với cuộc hôn nhân đứt gánh cuối đường đời, ông chia sẻ: Ông bà yêu thương và đến với nhau là tự nguyện, không ai cấm cản, cuộc sống cũng đủ đầy, hạnh phúc. Chỉ là, từ khi có con, bản năng yêu thương con cái của một người mẹ trong bà quá lớn, khiến cho ông ngay lập tức bị gạt ra bên lề.
Mọi ưu tiên cả về vật chất và tình cảm đều phải dành cho con trước hết. Ban đầu ông nghĩ các con còn nhỏ nên bà dồn hết tình yêu cho chúng là dễ hiểu. Khi chúng trưởng thành, có cuộc sống mới, bà không phải lo toan cho chúng, ông nghĩ tình cảm và thời gian của bà sẽ lại dồn cho ông.
Nhưng ông đã nhầm. Các con càng lớn lên, ông càng lép vế. Con gái lớn không thích nuôi chó, con gái nhỏ không thích nuôi mèo, thế là ông không bao giờ được nuôi và bầu bạn với hai loài vật mà ông rất yêu thích. Ngay cả khi chúng đã rời khỏi gia đình và có cuộc sống riêng, bà cũng không cho ông được thỏa mãn mong muốn nuôi chó mèo của mình.
Khi cô con gái lớn lập gia đình riêng, bà vẫn không ngừng chăm lo cho gia đình nhỏ của cô. Từ con gà, quả trứng, mớ rau sạch mà tự trồng tự nuôi được gửi cho con, cho cháu, đến những cuộc điện thoại dài hàng tiếng đồng hồ kể lể những chuyện chẳng đâu vào đâu.
Con gái út kết hôn cũng vậy, bà bắt đầu trường kỳ đi chăm sóc cháu ngoại thứ nhất, cháu ngoại thứ 2, rồi cháu ngoại… thứ 4. Gần 10 năm trời ông vò võ một mình, vì quanh năm ngày tháng bà ở hết nhà con gái lớn lại ở nhà con gái nhỏ.
Nhiều khi ông vờ ốm để mong bà về với ông vài ngày, vài tuần. Nhưng lần nào, kể cả khi ông ốm giả vờ hay ốm thật, bà cũng chỉ về thăm qua quýt một đôi ngày, rồi lấy cớ sốt ruột không có ai lo cho “nhà chúng nó” bà lại tất tả bỏ đi.
Nhiều ông bà bạn hiến kế, rằng ông cứ thử dọa ly hôn xem bà có sợ không, mấy đứa con có cuống lên không. Ông đã dọa, và cuối cùng là ly hôn thật.
Khi bà ký vào đơn ly hôn, cầm số tiền chia đi tính toán của đứa này, đứa nọ… Ông choáng váng và hụt hẫng, ngẫm nghĩ ông chưa làm gì sai để bà và các con xa lánh, chỉ hỏi được chia bao nhiêu tiền. Mấy chục năm cùng bà xây tổ ấm, để rồi cuối đời ông mới nhận ra đó là cái tổ lạnh, một cái tổ rỗng.
Những người bạn già của ông bảo, có lẽ hai cô con gái của ông bà đã quá ích kỷ. Chúng dường như lên kế hoạch rất chặt chẽ để lợi dụng cha mẹ già chăm lo, biến thành người ở không công cho chúng. Lẽ ra, chúng phải hiểu được nỗi cô đơn của bố, và “nhường mẹ”cho bố, để họ chăm nom quây quần bên nhau. Có lẽ vì sẽ có mấy trăm triệu mà giục bà ly hôn chia tài sản gấp …
Dù thế nào, ai sai, ai đúng, thì bà cũng đã dọn đi rồi. Sáng nay tôi thấy ông vui vẻ bế một con cún nhỏ lông vàng trong tay. Có lẽ ông hy vọng từ nay nó sẽ bầu bạn cùng ông trong những ngày cô đơn cuối đời…
… …
Mới hai năm sau khi tất cả các cháu đi học thì bà sẽ là người thừa bên nhà con gái, khi rể tuyên bố :
Từ hồi đẻ cho tao hai đứa con, không hiểu vì sao như người mất não. Quên quên nhớ nhớ, bán hàng nhầm lẫn, quên đơn là chuyện bình thường. May khách toàn khách hiền khách thương, thấy vợ tao quên thì nhắn, thấy vợ tao tính toán nhầm thì cười bảo tính lại.
Đi ra đến chợ quên mất định mua gì. Mua xong trả tiền không thèm cầm đồ về. Người ta lại mang về tận nhà cho. “Trất” lắm!
Hôm trước, bả tranh việc đi nộp tiền điện. Hồi lâu xong không thấy về, lấy máy gọi thì thấy máy nó vứt lăn lóc ở nhà. Xong cảm giác không ổn nên gọi cho ông anh chỗ trụ sở thì ông ý mừng như vớ được vàng:
– May quá mày đây rồi. Mày ra nộp tiền điện đi! Vợ mày quên mang ví quên điện thoại! Mang cả chìa khoá dự phòng ra nhé. Vợ mày vứt khóa xe trong cốp xong đóng rồi.
Nghe xong chả lấy gì làm lạ, bảo ông kia anh hỏi vợ em xem nó để khóa dự phòng ở đâu?
Ông ý:
– Ừ
…
Nó bảo không nhớ mày ạ!
Thế thôi tao thua.
Tìm được khóa ra đấy nộp tiền. Đèo nó về nó ngồi sau ôm ôm hít hít.
Hỏi sao không đi bộ về? Sao không gọi tao ra đón?
Nó bảo tự nhiên không nhớ được số. Đang ngồi nhẩm số thì chồng gọi đến. Yêu chồng lắm! Chỉ có chồng mới xuất hiện như ông bụt trong chuyện cổ tích đời em.
Pẹ! Tuy mất não nhưng vẫn không quên cách nịnh chồng.
Hôm qua! Sau một giấc ngủ trưa. Dậy nó khóc lóc gọi, anh ơi em làm mất xe rồi! Anh đi báo công an đi. Mình hoảng hồn đi hỏi han hàng xóm hết hơi xem có thấy đối tượng khả nghi, họ bảo đến xe của công an phường còn bị mất, vợ mày chuyên gia không khóa cổ khóa càng, mất không sớm thì muộn.
Nghĩ tháng cô hồn nên cũng chán chả buồn báo vội. 2 đứa lên ôm nhau tiếc của khóc lóc rồi đến tối ông ngoài ngõ gọi vào quát “Mày có ra lấy xe không cho tao đóng cửa”.
Xong con vợ mình vẫn ngơ ra: “xe gì đấy anh?”. Bị người ta chửi cho “xe sáng mày đem ra rửa thây. Không định mang về à?”.
Thế mà nó vẫn nhất quyết cãi không phải nó mang đi rửa. Chắc ông nhà rửa xe tự vào dắt ra rửa cho nó???
Tao sợ nó quá
Bọn mày ạ! Tao nhận ra đàn ông chúng ta phải yêu thương vợ nhiều hơn. Bởi từ một cô gái thông minh nhanh nhẹn, đẻ con cho mình xong nó như bà lão, tay nó vừa cầm bút viết, lúc sau nó có thể mang ngay vào cắm bánh cắm thịt cho lên mồm ăn vì “ôi em cứ nghĩ đang cầm cái đũa”.
Phải để ý chúng nó nhiều vào, nói yêu thương nhiều vào để tình yêu của mình ngấm sâu vào não nó. Bởi tao sợ rằng nếu vô tâm, không biết một lúc nào đấy, nó quên luôn cả mình. Một sáng nào thức giấc nó sẽ tát mình một phát rồi che ngực hoảng hốt: “Anh là ai? Sao tôi lại ở đây?? Anh đã làm gì tôi? Anh đi ra đi”.
Tao không nói đùa đâu. Bọn mất não này nguy hiểm lắm.
Bố bảo nhìn vào chiếc giường là biết cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc hay không. Dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, đừng mang chăn gối ra sofa ngủ, cũng đừng quay lưng vào người vợ của con.
Hãy ôm cô ấy vào bờ vai và khuôn ngực nóng hổi của con. Tất cả sẽ qua đi, chỉ tình yêu còn lại.
Bố bảo lúc giận có thể cãi nhau nhưng đừng thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Cãi nhau không có nghĩa con dùng những lời lẽ xúc phạm dành cho người mà con sẽ đầu gối tay ấp cả cuộc đời.
Cãi nhau có nghĩa là nói hết những gì trong lòng để hai vợ chồng hiểu, thông cảm cho nhau, xóa đi hết mỏi hiểu lầm. Bản thân con còn chẳng hiểu được con, thế nên đừng mong người khác phải hiểu khi con cứ giữ trong lòng.
Bố bảo cãi nhau với phụ nữ thì đừng có nói nhiều, chỉ cần nói vừa đủ. Độ khuếch tán âm thanh của đàn ông chẳng bao giờ bằng phụ nữ. Một người vợ chân chính sẽ đủ tinh tế để biết khi nào cần nói, lúc nào nên im lặng ngay cả trong khi nóng giận nhất.
Bố bảo dù ở ngoài xã hội, con có là xe ôm, hay ông lớn, ông bé, thì về nhà con vẫn là trụ cột của gia đình. Vợ con có thể là người phụ nữ rất đảm đang, cô ấy có thể đóng đinh, sửa ống nước hay tháo quạt trần, nhưng con hãy làm việc đó, trừ khi con quá bận.
Nó vừa thể hiện sự công bằng, vừa thể hiện sự chia sẻ vợ chồng. Bố bảo sau khi kết hôn sẽ hơn một lần con cảm thấy hối hận, thậm chí có mối quan hệ ngoài chồng ngoài vợ.
Mỗi lần như vậy con hãy nhớ rằng: Người bồ hiện tại yêu con mười phần, người vợ hiện tại cũng từng yêu con mười phần như thế. Nhưng khi bước vào hôn nhân, vai trò của phụ nữ càng trở nên phức tạp, ngoài tình yêu họ còn có cả trách nhiệm.
Vì vậy khi đã kết hôn, người ta sẽ không thể yêu con mười phần được nữa. Họ phải dành một phần trong số đó để yêu bố mẹ chồng, rồi lại một phần để yêu bố mẹ họ, còn thêm một phần nữa cho con cái. Và như thế, mười phần tình yêu khi bước qua hôn nhân chỉ còn lại bảy phần.
Bằng cách này hay cách khác, 3 phần con mất đi từ người vợ sẽ được nhận lại gấp đôi từ gia đình và con cái của con.
Và một lý do nữa, người bồ sẽ chỉ đem lại cho con hạnh phúc nhất thời, còn người vợ sẽ đem lại cho con hạnh phúc bền vững. Thật tuyệt vời phải không?
Bố bảo thời kỳ mang thai là khó khăn nhất đối với phụ nữ, là bởi vì muốn có được thiên thần thì phải qua thời gian khổ cực. Chính vợ con là người đã gánh vác sự khổ cực đó để đem lại niềm vui cho cả nhà. Thế nên đừng thở dài khi thấy vợ con chẳng còn được vẻ đẹp thời thiếu nữ, hay cũng đừng tức giận khi con nằm cạnh vợ mà chẳng thể làm gì.
Hãy cùng cô ấy cảm nhận niềm vui của những ông bố bà mẹ, chắc sẽ thú vị lắm.
Bố bảo chuyện mẹ chồng nàng dâu là chuyện muôn thuở, giống như bệnh tiền mãn kinh vậy. Thế nên con hãy là sợi dây kết nối họ, hai người phụ nữ yêu con nhất trên đời. Đừng để mẹ cảm thấy bà đã mất con trai, và vợ con cảm thấy chồng mình là người nhu nhược. Như thế mới là đàn ông chân chính.
Bố bảo rằng đừng tưởng người mẹ mới dạy dỗ được con. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong thời gian người mẹ mang thai thì người cha mới là người ảnh hưởng lớn nhất đến tình cảm và sự phát triển của trẻ. Con có thể không là người bố tuyệt vời nhất thế giới, nhưng hãy là người bố tuyệt vời nhất trong lòng những đứa con.
Bố bảo “Phụ nữ là để yêu, không phải để hiểu”, nhưng nếu không hiểu, thì con chẳng thế yêu. Hãy hiểu họ bằng chính trái tim mộc mạc của con. Bố bảo “quá khứ là thứ đã qua, hiện tại mới là cuộc sống”. Nếu quá khứ của vợ con có lỗi lầm, đừng chấp nhặt,cũng đừng đay nghiến vì đồng ý lấy vợ là con đã chấp nhận tất cả những gì thuộc về cô ấy.
Hãy khoan dung và độ lượng. Dù không nói ra nhưng chắc chắn cô ấy sẽ yêu con đến suốt cuộc đời, một tình yêu bao gồm cả sự biết ơn và tôn trọng.
Và cuối cùng bố bảo, cuộc sống luôn thay đổi, hãy biết trân trọng từng ngày…từng ngày…
Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc.
Cái chợ huyện thời trước chiến tranh là bãi đất trống, mùa nóng bụi đỏ mịt mù, mùa mưa bùn ngập quá mắt cá chân. Thời cải cách ruộng đất nó trở thành nơi đấu tố địa chủ. Thời chiến tranh là chỗ cán bộ tụ họp dân các làng xung quanh đến nghe thông tư, nghị quyết của nhà nước. Sau chiến tranh, dần dà mọc lên vài túp lều bạt rồi hàng quán không biết từ đâu tự động bò đến bày bát đũa, nồi niêu, thúng mủng la liệt, biến bãi đất thành một cái chợ vô tổ chức và vô cùng nhếch nhác. Bây giờ nó là cái chợ lớn nhất huyện nhưng sự vô tổ chức thì vẫn như cũ.
Hôm cô tự kết liễu đời mình, trước chợ có một vụ đâm chém nhau. Hai gã nông dân trong làng thù oán nhau chuyện gì đấy, chạm mặt nhau ngoài chợ và chỉ cần gã này chửi đổng gã kia một tiếng là nổ ngay vụ đấm đá kịch liệt và gã này rút dao đâm gã kia đến lòi ruột. Gã bị đâm giãy đành đạch vài cái đoạn tắt thở. Gã kia bỏ chạy. Có người kêu lên vài tiếng gì đó nhưng hầu hết chẳng ai buồn quan tâm, họ ngẩng đầu lên, vểnh hai tai như thể nghe ngóng xem có gì xảy ra nữa không, nhưng rồi ai nấy lại cắm cúi tiếp tục công việc đang bỏ dở. Chiếc xe công nông kéo lê đằng sau một đống cây mới đẵn hồi sáng xình xịch chạy với tốc độ sên bò. Vài chiếc xe đạp phóng vội qua, người trên xe ném cái nhìn như thắc mắc về đám người đứng lố nhố trước chợ. Một đám hiếu kỳ chừng hơn chục người xúm lại xem gã bị đâm nằm chết. Họ quan sát gã như quan sát một hiện vật trong viện bảo tàng. Bình thường có lẽ chẳng ai thèm nhìn gã vì gã xấu lắm. Xấu nhất là hàm răng vẩu. Bốn chiếc răng cửa hàm trên của gã dài quá khổ mọc chìa ra, cọc cạch khiến bộ mặt lưỡi cày của gã càng thêm méo mó, dị dạng. Người gã quắt queo như xác ướp và bây giờ gã nằm bất động dưới đất, mồm há rộng, trông như một cái xác ướp thật với tất cả sự kinh khiếp, ghê rợn của một xác ướp khô. Với cái chết gã nông dân xấu xí biến thành món vật lạ cho mọi người thưởng thức. Đám đông say sưa nhìn cái xác ướp ấn tượng nhất lịch sử văn minh loài người với cảm giác lâng lâng nhẹ nhõm bởi, địt mẹ nó, may quá mình không phải là cái xác đó. Họ chẳng thấy xót thương cho gã tí nào. Mạng người rẻ hơn bèo nhất là mạng người ở vùng đất nghèo khổ này.
Bỗng một người bỏ đi, đám đông tự động giãn ra đoạn tản mát hết. Chẳng ai muốn bị công an quấy rầy. Trước khi bỏ đi có người tìm đâu được chiếc chiếu rách che cái xác. Nhưng chiếc chiếu bé quá lại rách bươm nên chỉ đủ che vừa kín đống ruột vàng khè lòi ra bầy nhầy trên vũng máu đỏ lòm chứ khuôn mặt kinh dị của gã vẫn ngửa lên trời như thách đố với ông Xanh. Cái xác nằm trơ trọi trên mặt đất bẩn thỉu cùng với rác rưởi, giấy vụn và lá khô. Ruồi nhặng bắt đầu đánh hơi mùi xác chết bay lại bu đen kín khuôn mặt gã. Hai ba con chó hoang gầy trơ xương cũng chạy lại đứng hít hít như tìm xem có cái gì ăn được không. Cảnh tượng hãi hùng như trong cuốn phim kinh dị. Lạ lùng nữa. Lạ lùng ở chỗ không ai thèm quan tâm đến một con người vừa nhắm mắt.
2.
Bây giờ cô đi trên con đường đất đỏ dọc theo bờ sông. Nước sông đỏ lờ lợ chảy nhẹ, thao thiết. Sương sớm trên mặt sông chưa tan hết, vẫn lù mù dưới ánh dương quang sáng bạc. Cô thấy người đàn ông già lập cập từng bước chậm chạp xuống mép sông giăng vó. Ông mặc chiếc quần vải cộc, ngực áo phanh trần lộ nửa tấm thân đen đủi dày dạn gió sương, xương quai xanh lồi lõm trên ức. Ông giăng vó thành bốn góc thành thạo như thể công việc này quá dễ dàng đối với ông, như thể từ lúc còn là cậu trai mười bốn mười lăm tuổi trong làng mỗi ngày ông chỉ làm công việc duy nhất là giăng vó bắt cá. Giăng xong, ông đứng đó, mặt nước mấp mé dưới chân đất, người im phăng phắc như pho tượng, tay cầm sào vó.
Cô nhìn ông không chớp mắt. Hiện ra trong trí cô, ông là hiện thân của cuộc sống nơi đây. Nó chẳng giống tí nào với cuộc sống cô hằng tưởng tượng, và mặc dù đã một năm trời trôi qua từ ngày cô theo gã bác sĩ bộ đội về sống trên mảnh đất này, cô vẫn thấy cô không hề dính dáng gì đến nó, cô vẫn là kẻ đứng ngoài, cô vẫn dửng dưng với tất cả những sinh hoạt của nó, kể cả những sinh hoạt mà người ta gán ghép lên nó những hình dung từ văn hoa. Tất cả đối với cô chỉ là những trò thô lậu bỉ ổi, mà mục đích là che giấu những hành vi đê tiện, xấu xa đối với nhau. Người nhà quê lúc nào ngoài mặt cũng thưa bẩm lễ độ, nhưng sau lưng họ chửi nhau bằng những lời lẽ tục tằn, dơ dáy nhất ngôn ngữ loài người có thể nghĩ ra. Từ gã đảng ủy bộ mặt lúc nào cũng nghiêm trang, ăn nói từ tốn, dáng người bệ vệ, cho đến thằng bé con năm tuổi, tóc cứng như chổi xể, mặt mũi lem lấm, tinh ranh như con cáo. Tất cả như sắm một vai trò nào đó trong tiết kịch vớ vẩn do Thượng đế ném xuống trần gian mà không hề có một kịch bản nào cho các diễn viên. Có thật đây là đời sống con người hay chẳng qua chỉ là những diễn biến của những cỗ máy được sắp sẵn theo một quy trình nhất định nào đó, và những thứ gọi là sinh vật nằm trong đó chẳng hề sở hữu một đời sống đích thực nào.
Cô đứng đó cách người đàn ông giăng vó chừng mười thước, cô nhìn ông như nhìn một sinh vật lạ nhất trên đời. Ông bất giác quay lại, thấy cô, ông nở nụ cuời để lộ hàm răng vàng xỉn. “Bà bác sĩ ạ, mới sớm tinh mơ mà bà đi đâu thế?” Ông nói to, giọng thân thiện.
Cô không thể bảo ông cô đang đi tìm cái chết.
Cô nói gì đó với người đàn ông rồi quay lưng tiếp tục đi về hướng Cống Liệp. Người đàn ông cũng không nói gì thêm, ông ta quay lại với công việc cầm sào vó, thân hình vẫn im như pho tượng. Từ chỗ này ra đến Cống Liệp khoảng cách nếu đi dọc theo bờ sông thì có lẽ đến hơn ba cây, bởi thế cô đi đường tắt bằng cách trèo qua ngọn đồi dốc thoai thoải. Chân đồi toàn cỏ lác không một bóng cây nhưng lên đến đỉnh đồi cô đã trông thấy biển. Đại dương phía xa xa toàn màu xanh đen, ngọt ngào, êm ái. Cô như muốn được nó cuốn hút vào, vỗ về, ấp ủ. Cô đi xuống đồi, cách bờ biển chừng trăm thước thì dừng lại, tại đây có những gốc nho biển cao chừng bẩy tám mét, thân cây vặn vẹo, mọc trên cát thành đám. Cô tìm một gốc cây rồi ngồi bệt xuống cát, hình như đúng ngay nơi gã bác sĩ bộ đội hay đưa cô ra ngắm cảnh hoàng hôn dạo cô mới về đây.
3.
Gã bác sĩ bộ đội yêu cô lắm. Không, gã si mê cô thì đúng hơn. Cô chỉ bắt đầu để ý gã sau khi nhận ra gã đến quán uống cà phê thường xuyên, ít nhất hai ba lần mỗi tuần, đôi khi mỗi ngày. Đó là cái quán cà phê vườn nằm trước ngôi biệt thự thuộc khu sang trọng của thành phố mà gia đình người chủ cũ đã bỏ chạy di tản sang Mỹ hôm 30 tháng Tư, người chủ hiện tại là một tay cán bộ nằm vùng có thế lực trong guồng máy cai trị của chế độ mới. Thành phố mới được tiếp quản, tình hình kinh tế còn lộn xộn lắm, nhưng bà vợ tay cán bộ có máu kinh doanh, bà lợi dụng thế lực của chồng biến khoảng vườn cây cối um tùm kín đáo trước biệt thự thành một quán cà phê. Lối đi trải sỏi trắng bà để nguyên, trên bãi cỏ xanh bà cho đặt những bộ bàn ghế thâm thấp bằng gỗ xinh xinh, mỗi bộ vừa đủ cho từ hai đến bốn người ngồi. Quầy cà phê đặt trên hiên nhà, ngoài cà phê nhà bếp còn nấu vài món ăn nhẹ cho khách.
Thoạt đầu bà thuê hai ba cô gái be bé xinh xinh phục vụ, nhưng bà để ý các cô không giỏi chiều khách. Khách của bà phần nhiều là cán bộ trung cấp hoặc bộ đội mới trong rừng ra. Hai hạng người này không cảm thấy thân mật với các cô còn trong lứa tuổi học trò chỉ đáng con cháu họ. Họ thích các cô không còn trẻ trung nhưng chưa già để họ ăn nói sàm sỡ, nhả nhớt mà không thấy ngượng mồm ngượng miệng. Bà chủ quán vợ tay cựu nằm vùng giỏi tâm lý đàn ông. Sau một thời gian quán ế ẩm vì khách tới một đôi lần rồi không bao giờ trở lại, bà sa thải hết các cô be bé xinh xinh để thay vào là một ê-kíp toàn các cô các bà lỡ vận, phần nhiều là vợ sĩ quan chế độ cũ đi cải tạo không biết ngày về. Các cô các bà này cách đây mười năm là hoa khôi các trường trung học, đại học thành phố, giờ thất thế họ phải lăn xả ra xã hội kiếm sống, kiếm bằng đủ cách, may mắn lắm mới có việc làm bưng cà phê, và dĩ nhiên kể cả “đi khách.”
Quán trở thành tụ điểm cho các cuộc tìm hoa của các thành phần có máu mặt trong chế độ mới. Bà chủ quán chẳng cần quảng cáo cho dịch vụ này của bà. Một đồn năm, năm đồn mười, mười đồn trăm, và một hôm tiền chui vào két của bà nhiều đến nỗi bà đếm không kịp.
Cô chẳng còn gì để giữ, chồng cô học tập cải tạo chết mất xác trên rừng, cô cần tiền nuôi con, và đó là cách dễ dàng nhất cho cô kiếm tiền. Gã bác sĩ bộ đội ngồi ở quán cà phê cả ba tháng trời, một hôm gã thu hết can đảm ấp úng hỏi cô lúc cô ra chào: “Cô… cô… cho tôi gặp riêng cô… được không?” Cô không trả lời gã. Lúc bưng tách cà phê ra, cô để trên khay một mảnh giấy nhỏ.
Đúng giờ hẹn gã tìm đến địa chỉ căn nhà. Đó là một khu xóm tồi tàn nằm ở miệt Khánh Hội quận Tư thành phố. Căn nhà nằm cuối xóm, ngồi ngay ngạch cửa là một thằng bé trạc mười tuổi. Vừa thấy gã, nó vội vàng đứng lên, gật đầu chào, nhường chỗ cho gã lách vào nhà. Gã chưa khuất vào trong thì nó đã ngồi lại xuống ngạch cửa, mắt nhìn ra đầu xóm, như thể công việc này quá quen thuộc đối với nó. Gã bước vào, bên trong nhà ánh sáng lù mù vàng chạch từ một ngọn đèn dầu lạc leo lét cho thấy một gian phòng đủ thứ đồ đạc cũ kỹ ngổn ngang, và một chiếc giường nhỏ kê nơi góc. Vén mùng ra là một người đàn bà già nua gầy guộc. Gã khựng lại, định mở miệng xin lỗi thối lui thì bà già đã nói: “Mời thầy Hai vô lối đó.” Bà chỉ về hướng có cửa vào phòng trong. Sau ba giây đồng hồ lưỡng lự, gã tiến về phía cửa, vén bức màn trúc hình con công con phượng, bước vào. Gã thấy cô ngồi trên một chiếc giường con. Thấy gã, cô nằm xuống nhường chỗ ngoài mép giường cho gã. Gã lại ngồi lên giường bên cạnh cô. Gã phải ngồi gượng nhẹ lắm vì tiếng cót két của chiếc giường cũ ọp ẹp cứ kêu lên liên hồi. Gã rút trong túi ra một xấp giấy bạc còn thơm mùi tiền mới nhét dưới gối cô nằm. Cô bảo gã:
“Anh đi tắt đèn.”
“Không, tôi thích để đèn.” Giọng gã từ tốn, êm nhu.
Cô đưa tay lên lần cởi khuy áo nhưng gã giơ tay cản lại. Cô nhìn gã ra vẻ thắc mắc, gã bảo cô:
“Cô cứ để nguyên quần áo. Tôi chỉ ngồi đây ngắm cô thôi.”
Cô không nói gì nữa, thấy hơi lạ về trò chơi này của gã bác sĩ bộ đội, nhưng cô từng gặp những gã làng chơi có sở thích tình dục kỳ quặc, thậm chí quái đản, nên cô chẳng lấy gì làm kinh ngạc, cô nằm yên cho gã ngắm mình. Gã ngồi ngang đùi cô, từ vị trí đó, gã có thể ngắm mặt cô rồi đến bộ ngực vun tròn, và xuống dần hạ thể nơi cặp đùi đàn bà săn chắc hiện rõ dưới lớp vải mỏng của chiếc quần tây màu đen. Gã ngồi nhìn cô như thế cả nửa giờ đồng hồ, hai người không nói gì với nhau. Cô nhắm mắt lại, lim dim, như tránh cặp mắt u buồn của gã. Cái nhìn của gã không phải để tìm kiếm hưng phấn nhục cảm. Nó chẳng biểu hiện tí gì lòng say đắm ngây dại của người đàn ông bình thường trước thân thể một người nữ đang nằm chờ đợi mình đi vào. Nhưng nói nó vô cảm phẳng lì cũng không đúng. Nó xa vắng buồn bã đến lạ lùng như có điều gì u uẩn chất chứa nhiều năm tháng trong tâm tư. Cô phải công nhận gã có đôi mắt đẹp, hiếm thấy ở một người đàn ông. Đen sâu, long lanh như hai hạt nhãn. Da mặt gã trắng xanh như tất cả những anh bộ đội mới ở trong rừng ra, nhưng đó là khuôn mặt của một người hiểu biết và nhạy cảm. Khó đoán gã bao nhiêu tuổi, có thể ngoài ba mươi, nhưng có lẽ gần bốn mươi, thân hình gã dong dỏng cao, dáng đi nhanh nhẹn, quả quyết.
Sau nửa tiếng đồng hồ nhìn ngắm cô, mà cô hoàn toàn không hiểu gã đang nghĩ gì, hai hạt nhãn bỗng khép lại như cố nén một tiếng thở dài. Gã đột ngột đứng dậy, thốt một tiếng chào nhỏ rồi hấp tấp bỏ đi như chạy trốn.
Gã yêu cô. Từ đó cho đến hết đời, gã không yêu ai khác.
4.
Một năm sau khi chồng cô đi học tập cải tạo và chết mất xác trên rừng trong lúc lao động, cô phải trả lại căn nhà thuê của hai người. Đồ đạc trong nhà, thậm chí chiếc nhẫn cưới, theo nhau ra chợ trời. Cô đành ôm đứa con gái mới một tuổi chưa biết đi, cùng một ít quần áo về nhà người anh chồng tạm trú qua ngày. Hai mẹ con ôm nhau ngủ trên căn gác xép ban ngày nóng như lò thiêu, ban đêm gió thổi lùng bùng, vật vã. Nhưng cô biết cô ở đây không lâu vì bà vợ ông anh chồng xem cô như một thứ cùi hủi, nhất là từ khi biết cô có quan hệ với gã bác sĩ bộ đội. Và bà quyết định đuổi cô ra khỏi nhà sau khi nghe ai đó mách lại với bà rằng trước khi cặp anh bác sĩ bộ đội, cô từng “đi khách” hằng đêm sau giờ làm việc ở quán cà phê. Bà không muốn cô làm gương xấu cho hai đứa con gái vị thành niên của bà. Quan trọng hơn, bà không muốn người quen chòm xóm xấu miệng nói trong nhà bà có chứa một con đĩ.
Người anh chồng chờ lúc nhà vắng người, nói chuyện riêng với cô, Đúng ra, bà dắt hai đứa con ra khỏi nhà sau khi dặn dò chồng những điều cần nói. Ông mời cô ra phòng khách nói chuyện.
“Chẳng giấu gì thím, tôi bây giờ không có quyền hạn gì cả trong căn nhà này. Thím thấy đó, tôi là kẻ ăn bám trong gia đình, mọi việc trong nhà ngoài ngõ bây giờ là do bà ấy xoay xở và quyết định. Chú nó chẳng may mất sớm, tôi thì thế cô, ngay cái nghề gõ đầu trẻ bao năm, tôi cũng không giữ được. Nhà mình vô phúc. Thôi thì thím cứ ra đi, tôi chẳng giúp đỡ thím được, nhưng con bé con thím, cứ để nó lại đây chúng tôi nuôi, năm nay nó cũng lên ba rồi, thím ra ngoài đi làm có đồng nào gửi về, chúng tôi lo cho nó ăn học, khi nào thím khá giả hơn về đón nó đi chứ bây giờ thím thân một mình không nhà không cửa như thế này đem nó theo, sao tiện.”
Ông còn nói nhiều nữa và cô hiểu. “… Thím thân một mình không nhà không cửa như thế này” chỉ có nghĩa là cô nay trong tay người đàn ông này, mai người đàn ông khác, đem con còn bé đi theo thì làm sao “tiện” được. Cô nói với người anh chồng qua hai hàng nước mắt giàn giụa trên má:
“Thân em thì coi như bỏ đi rồi, nhưng con em thì làm sao em yên tâm bỏ nó lại đây được.” Sự tủi nhục cay đắng khiến cô không nói gì được nữa. Cô chỉ biết khóc. Cô có cảm giác như mình lâm vào bước đường cùng.
“Tôi đã nói chuyện trước với nhà tôi, bà ấy cũng đồng ý như thế. Chúng tôi thấy đó là giải pháp tốt nhất cho thím.” Người anh chồng nói tiếp.
Lúc đó trong thoáng chốc cô cũng nghĩ như ông anh chồng. Thật ra ông là người tốt. Nhưng bỏ con lại không người săn sóc khi nó còn quá bé thơ, lòng cô đau xót lắm. Làm sao cô chịu đựng nổi? Làm sao cô sống được với nỗi nhớ thương con?
Sau một lúc suy nghĩ, cô bảo người anh chồng:
“Thôi được, em sẽ để con em lại cho anh chị nuôi hộ trong thời gian nhiều lắm là sáu tháng. Chỉ sáu tháng, thu xếp được chỗ ở là em về ngay đón nó đi… Em đội ơn anh chị đã cứu vớt mẹ con em thời gian hai năm qua.”
“Thím đừng nói chuyện ân nghĩa. Tôi áy náy lắm vì không giúp thím được gì hơn.”
“Vâng, em sẽ đi ngay tối nay.” Nước mắt cô có lẽ đã khô cạn, cô nói với giọng quả quyết.
Tối đó cô đón xe đi ra khỏi nhà trước khi bà vợ ông anh chồng về.
Tôi nghĩ lúc đó cô đã có quyết định sai lầm, một quyết định thiếu suy xét bởi một xung lực khó hiểu nào đó thúc đẩy. Cô có nhiều quyết định sai lầm trong cuộc đời cô, và quyết định bỏ đứa con lại nhà ông anh chồng là sai lầm lớn nhất. Vào thời điểm những năm hậu chiến, ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, cuộc sống ở mảnh đất tang thương đó đầy dẫy bất trắc, không có gì bảo đảm ngày mai dòng đời diễn ra đúng y như dự liệu của mình, mọi chuyện có thể xảy ra đột ngột, không hề dự báo trước, và cái nặng khôn kham của định mệnh sẵn sàng đè bẹp bất cứ kẻ nào.
Gia đình ông anh chồng có ý định vượt biên từ lâu. Họ có tên trong danh sách của chủ tầu, họ cũng đã đặt cọc vàng. Cô vừa đi được hơn tháng thì một hôm người nhà chủ tầu đến bí mật báo tin tối hôm đó có tầu. Mọi chuyện xong xuôi, êm thắm. Mua bãi, thực phẩm đầy đủ, chỉ chờ người ra đi. Cả nhà như lên cơn sốt. Làm gì với con bé cháu ba tuổi bây giờ! Mẹ nó đi đâu, không ai biết. A, lá thư cuối cùng cô viết cách đây ba tuần, trong đó cô có nói đến chuyện cô sắp có mối làm ăn kiểu buôn chuyến Bắc-Nam. Ông anh chồng lục tìm lá thư đoạn ông ôm con bé thuê tắc xi tìm đến địa chỉ căn nhà ghi trên phong bì. Mất cả giờ đồng hồ chạy xe mới tìm đến nơi, nhưng khi gõ cửa, một người đàn bà lạ xuất hiện, và sau khi hiểu ra mục đích đi tìm người của ông, bà ta bảo ông cô ở đây chỉ có hai đêm, sau đó không biết đi đâu, hình như cô vẫn chưa có chỗ ở nhất định. Ông anh chồng hỏi thăm thêm nhưng bà ta chỉ biết có bấy nhiêu. Thất vọng ngao ngán, ông đành ôm con bé thất thểu về nhà. Ngồi trên xe, nó khóc. Có lúc nó gào lên thảm thiết nhưng khi hết hơi thì tiếng khóc nó trở nên khản đặc và nấc lên từng hồi. Tiếng khóc của đứa con mất mẹ. Nó vẫn khóc như thế từ hôm cô bỏ đi.
Cô mất tất cả, và cuối cùng cô mất luôn đứa con.
Giả sử lúc bỏ đi cô nhất quyết ôm con theo, nếu thế, có thể nào cô sẽ không đi tìm cái chết khi cô rơi xuống tận cùng tuyệt vọng? Có thể đứa con bắt cô không được chết, cô còn trách nhiệm với nó chứ! Cô không được quyền chết. Tình mẫu tử thiêng liêng sẽ giúp cô tăng thêm sức mạnh để chống chõi với nghịch cảnh. Đứa con giúp cô bớt trầm cảm vì có nó ít ra cô còn tìm thấy đôi ba niềm vui. Nghĩ thế thôi chứ tôi không biết nếu cô đem theo đứa bé con mình lúc đó thì cuộc sống cô có hạnh phúc hơn không, và cô có đi tìm cái chết vào buổi sáng sớm hôm cô ra chợ huyện tình cờ chứng kiến cảnh hai gã nông dân giết nhau không.
Tôi hoàn toàn không có câu trả lời, bởi chuyện gì xảy ra, xảy ra chỉ một lần. Ta sống chỉ một lần. Cuộc sống không phải ván cờ cho ta xóa đi làm lại nếu đang thua. Cuộc sống là ván cờ duy nhất, không bao giờ có lần thứ hai cho ta đi lại nước cờ sai.
Thời gian mới định cư ở Hoa Kỳ, khi đến cư ngụ khu chung cư nhiều người Việt tôi đã thấy ông ta! Đó là người đưa thư, có bộ râu hung hung xồm xoàm viền quanh miệng, khiến thoạt nhìn người ta thấy ông có nét một ông già Santa Claus mỗi mùa Giáng-sinh!!! Nụ cười hiền, đôi mắt xanh mông mênh màu biển, ông là người đều đặn mang niềm vui cho đám cư dân sống ở chung cư, đa số mới từ Việt-Nam sang, thường ngóng những cánh thư ở quê nhà!
Ông ta trạc độ ngoài năm mươi, dáng dấp khỏe mạnh, khó đoán tuổi cho chính xác vì bộ râu xồm xoàm đó! Mỗi buổi chiều, khi chiếc xe của Bưu-Điện chạy vào con dốc đầy ổ gà, nơi đặt mấy thùng thư đã thấy có người đứng đợi. Đa số là người già, không biết làm gì cho hết ngày, đi lấy thư cũng là một cái thú!!! Ông ta bỏ thư vào từng hộp thư của mỗi nhà trong xóm, xong lái xe đi, không quên giơ tay vẫy mấy đứa trẻ đang chơi đùa trên khoảng sân trống.
Mãi cho đến một hôm, trời mùa đông lại mưa tầm tã, tôi thấy người đưa thư ngừng xe trước cửa căn chung cư, rồi chạy ào vào hiên gõ cửa, đưa cho tôi một lá thư. Lá thư của người bạn học từ Việt-Nam gửi sang, đề trúng tên người gửi và địa chỉ “zip-code”, nhưng thiếu số nhà của căn chung cư, không hiểu sao ông ta lại biết là của tôi. Chính vì thế mà tôi biết ông đọc được tiếng Việt, lại còn quen cả tên của người nhận thư, rồi vì sợ thư không đến tay người nhận, thay vì trả lại cho Bưu-Điện, ông mang thư đến thẳng nhà tôi!
Hôm ấy trời bão rớt, mưa suốt từ sáng đến chiều chưa ngớt, bầu trời xám xịt khiến mùa Đông càng có vẻ rét mướt. Tôi cảm động nhận lá thư từ tay ông, nhìn ông ướt át trong chiếc áo mưa màu vàng, những bụi mưa còn đọng trên mái tóc đã ngả bạc với bộ râu hung hung viền quanh miệng. Ông hỏi, bằng tiếng Việt:
“Xin lỗi, có phải tên cô không?”
Tôi ngạc nhiên, vì lần đầu nghe ông ta nói tiếng Việt, chực nhớ lại bà con trong khu chung cư, gặp nhau ngoài thùng thư vẫn hay nói chuyện này nọ về xứ Mỹ và người Mỹ, có lẽ ông đã nghe được cả. Tôi nhận đúng là tên mình, rất cảm kích vì tấm lòng của người đưa thư. Ái ngại khi thấy mưa vẫn như trút nước, rặng cây ven đường như mờ mịt đi dưới màn mưa trắng xóa. Tôi hỏi ông, bằng tiếng Anh:
“Ông có vội lắm không? Mời ông vào nhà chơi, mưa lớn quá!”
Ông nheo đôi mắt xanh nhìn trời, cười hiền hậu, nói một câu thành ngữ tiếng Anh:
“It’s raining. . . cats and dogs…”
Đoạn ông ta nói bằng tiếng Việt:
” Mưa lớn quá, giống như mưa ở Việt-Nam!”
Tôi mở to mắt nhìn ông thán phục:
“Ông nói tiếng Việt giỏi quá, ông học ở đâu vậy?”
Người đưa thư giơ tay vuốt những giọt mưa trên tóc, trên mặt, giọng thoáng một niềm vui, thật xa vời:
“Từ Việt-Nam. Tôi đã từng ở Việt-Nam, cách đây ba mươi năm. Việt-Nam luôn ở trong trái tim tôi!”
Tôi mỉm cười, một câu xã giao mà người Mỹ nào cũng học qua, nhưng sao ở người đàn ông này, tôi không thấy sự giả dối! Một lần nữa, tôi mời ông vào nhà, không khách sáo, trước khi bước vào căn phòng ấm, ông tháo đôi giày để ngoài cửa, giọng dí dỏm:
“Người Việt thường cởi giày trước khi vào nhà, có phải vậy không?”
Ngạc nhiên vì câu hỏi của ông, một người Mỹ hiểu cả thói quen của người Việt, thật là hiếm, như vậy ông ta chắc phải tha thiết với xứ sở của tôi nhiều lắm, tự nhiên tôi thấy có cảm tình với ông! Như hai người đồng hương đã lâu không gặp nhau, ông thổ lộ:
“Tôi nhớ Việt-Nam nhiều lắm, nhớ ‘người’ Việt-Nam lắm!!!”
“Người Việt-Nam” ở đây thì nhiều lắm, sao ông lại nói câu ấy với nhiều cảm xúc trong ánh mắt mà tôi có thể nhìn được. Rồi đưa mắt nhìn khắp căn phòng được bài trí theo kiểu Á-Đông, ông dừng lại một bức tranh trên tường vẽ cảnh mùa Xuân, con ngõ nhỏ với hai hàng mai nở vàng thật đẹp. Ông thảng thốt reo lên, giọng lơ lớ:
“Đấy có phải là hoa mai?”
Tôi gật đầu, cảm phục một người Mỹ biết nhiều về xứ sở của mình:
“Ồ! Ông cũng biết hoa mai? Nó là loại hoa biểu-tượng cho mùa Xuân ở quê-hương tôi, và chỉ nở vào mùa Xuân!”
Ông gật đầu, đôi mắt xanh thoáng một nét bâng khuâng, nhìn theo những sợi mưa nghiêng nghiêng đan nhau trong khung trời mờ tối:
“Tôi biết, vì cô ấy tên Mai, Mai là tên người yêu của tôi, cô học-trò bé nhỏ!”
Hình như ông xúc động, yên lặng để dấu đi nỗi buồn. Tôi cũng ngạc nhiên không ít, khi khám phá ra mối tình của người đưa thư, một mối tình có lẽ rất đẹp mấy chục năm trước vẫn ấp ủ trong trái tim ông, từ những ngày trẻ tuổi!
Buổi chiều mưa hôm đó, một chiều mưa trên xứ người, nghe câu chuyện tình của người đưa thư, tự nhiên tôi cảm thấy dâng lên trong lòng một nỗi buồn rất Việt-Nam, cả cái không-khí lãng-đãng một chút ngậm-ngùi theo từng giọt mưa rớt xuống hàng hiên ẩm-ướt! Trong khi chờ mưa ngớt hạt, người đưa thư bồi-hồi kể tôi nghe chuyện tình của ông ba mươi năm trước…
* * *
David sinh trưởng ở Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California. Vùng đất phì nhiêu màu mỡ có rất nhiều cánh đồng trồng rau và trái cây, đủ cung cấp cho hầu hết các tiểu bang của Hoa-Kỳ. Sinh ra trong một gia đình đông anh em, cả nhà sống trong một trang trại trồng hoa quả vùng ngoại ô, David có bản chất một người đồng quê rất hiền lành và thật thà, yêu thiên nhiên!
Học hết Trung Học, David rời gia đình đến Nam Cali để tiếp tục việc học. Sau bốn năm Đại Học, vốn bản tính hiền lành, thích làm việc thiện, David tình nguyện sang Việt-Nam làm công tác giáo dục và thiện nguyện! Do đấy, chàng có một thời gian dài đến gần bốn năm phục vụ trong các trung tâm Việt Mỹ, dạy tiếng Anh cho những người Việt trẻ tuổi!
Lúc ấy David còn trẻ lắm, mới hai mươi hai tuổi. Trước khi sang Việt-Nam, chàng được học tiếng Việt sáu tháng, cho nên lúc đến Việt-Nam chàng đã bập bẹ nói được những câu xã giao thông thường với người bản xứ.! Năm David tới Việt-Nam, chiến tranh đang thời kỳ leo thang, nhưng ở thành phố tương đối người dân vẫn sống trong yên bình, chưa nhìn thấy bao nhiêu sự đe dọa của chiến tranh. David chỉ ở Sài-Gòn một thời gian ngắn, sau đó được đưa về Cần Thơ. Chính nơi này, thành phố thơ mộng ven bờ sông Hậu, đã khiến David lúc quay về Mỹ, mang theo một vết thương lòng!
David đã có dịp đi lại mấy lần trên nẻo đường mang nhiều sắc thái miền Tây Nam Phần, đó là quốc lộ 4. Những cánh đồng lúa bát ngát, những vườn cây xanh, những mái tranh nghèo khuất sau hàng dừa rủ bóng trên giòng sông đục ngầu phù sa, lắc lẻo nhịp cầu tre bắc ngang sông rạch. Chàng thích nhất những chuyến phà qua sông Hậu-Giang, nhất là khi chiều về, vài cọng hoa lục bình màu tím lênh đênh trên sóng nước. Phong cảnh Việt-Nam thật lạ lẫm, mới mẻ nhưng gần gụi biết bao, không hiểu sao khi nhìn thấy miền đồng bằng sông Cửu-Long lần đầu tiên, David đã cảm thấy yêu mến vùng đồng bằng, êm ả như vùng quê nơi chàng sinh trưởng, dù mỗi nơi đều có nét khác biệt nhau!
Vì là nhân viên dân sự, David may mắn chỉ ở thành phố, không đối diện với chiến tranh như những người lính Hoa-Kỳ tham chiến ở Việt-Nam, và cũng không hề giao tiếp với giai cấp phụ nữ bám theo đoàn quân viễn chinh! Cho nên, những ngày dạy học tại Trung Tâm Việt Mỹ, David thật thơ ngây khi lần đầu tiên trong đời, chàng đã trao trái tim mình cho cô bé Việt-Nam, Mai là một cô học trò rất chăm chỉ, ngoan hiền trong lớp học căn bản của Trung Tâm này!!!
Mai đẹp lắm, ít là dưới mắt của David, một vẻ đẹp Á-Đông rất ưa nhìn. Mái tóc đen mượt, đôi mắt đen láy như hai hạt nhãn, nét ngây thơ dịu dàng của cô con gái Á-Đông khiến con tim chàng trai Mỹ mới biết yêu lần đầu, đã thổn thức vì nhớ thương! Như câu ca dao Việt-Nam,”Yêu ai yêu cả đường đi lối về”, David cũng yêu cái mênh mông của dòng sông Cửu-Long, yêu hàng dừa lơi lả nơi bến sông, nhìn những đợt sóng nhấp nhô vào những buổi hoàng hôn, David tưởng như nó chuyên chở bao nhiêu tình tự dân tộc, hiền hòa, vui tươi và đầy thiện cảm! Mỗi buổi sáng, David say sưa ngắm nhìn những tà áo trắng bay bay như những cánh bướm, trên chiếc xe đạp thong thả của đám nữ sinh mỗi buổi đến trường. Cả thành phố dậy lên sức sống, người ta đi lại đông đảo, đàn bà xách giỏ đi chợ, vài chiếc xe chất đầy rau quả, những đứa trẻ con ngoan ngoãn đi học với nhau, chiến tranh hình như chưa hiện diện nơi đây. David có được những tháng ngày thật tuyệt vời với công việc của mình, một biệt thự xinh đẹp tọa lạc trên con đường trung tâm thành phố.
Năm ấy Mai độ mười bảy tuổi, tư chất thông minh cộng thêm nét ngây thơ của cô bé mới lớn, đã chinh phục trái tim ông thầy trẻ tuổi. Cách biểu lộ tình cảm của mỗi dân tộc có khác nhau, David không hề dấu diếm tình yêu của mình với cô gái trẻ, trong khi Mai cố tình né tránh, dù nàng rất có cảm tình với ông thầy vừa đẹp trai, lại rất hiền hậu nữa! Sau nhiều lớp ở Trung tâm Việt Mỹ, Mai là một học sinh xuất sắc được chọn là người phụ giáo cho những lớp học vỡ lòng, trong thời gian này hai người cùng làm việc chung, David càng thấy gần gũi nàng hơn!!!
Với bản tính thẳng thắn của người Mỹ, David tỏ tình và đề cập với Mai về chuyện hôn nhân, chàng nghĩ nó rất đơn giản như bao cuộc hôn nhân trên xứ sở chàng. Nhưng điều làm cho David đớn đau hơn cả, không ngờ Mai đã từ chối kết hôn với chàng, nguyên nhân chỉ giản dị là không cùng chủng tộc, cha mẹ nàng coi đấy là điều không thể chấp nhận, dù David là một chàng trai học thức! David không hiểu tại sao Mai không quyết định được chuyện hôn nhân của mình, dù rằng Mai cũng cảm thấy mình yêu thương chàng trai Mỹ tóc vàng, mắt xanh hiền lành ấy!!! David thắc mắc thì Mai chỉ im lặng thở dài, rồi cho chàng biết những gia đình Việt-Nam bảo thủ, không bao giờ chấp nhận chuyện con cái kết hôn với người ngoại quốc!
Sống ở Việt-Nam khá lâu, ăn những món ăn Việt-Nam, học được cách cư xử của người Việt, David hoàn toàn chấp nhận tất cả những đòi hỏi theo phong tục, tập quán người Việt; nhưng vẫn bị từ chối! Thật sự chàng không thể nào hiểu nổi dân tộc này, trong cái thân thiện bên ngoài hình như họ vẫn dấu kín những thành kiến bí ẩn, có lẽ đã ăn sâu vào gốc rễ trong tâm hồn họ. Không lấy được Mai, nhiều lúc thất vọng đến chán chường, David còn muốn tìm cái chết để quên đi hình bóng diễm kiều của cô gái Việt! Cuối cùng, bị khủng hoảng tinh thần, David không thể tiếp tục làm việc, với ý nghĩ một ngày nào đó Mai thuộc về người khác!!! David được hồi hương trước thời gian ấn định, lúc chia tay, lần cuối cùng gặp nhau, Mai đã khóc và nói với chàng:
“Nếu không được kết-hôn với anh, em sẽ không bao giờ lấy ai nữa!”
* * *
Câu chuyện tình của người đưa thư tưởng đến đấy là hết, bất ngờ David hỏi tôi:
“Tại sao dân-tộc cô lại có cái nhìn khe-khắt như thế? Một tình yêu khác chủng-tộc có phải là điều tội-lỗi?”
Tôi bối rối nhìn ông, không làm sao cắt nghĩa cho ông hiểu. Đúng, tình yêu tự nó đâu có gì tội lỗi, nhưng dưới con mắt lệch lạc của những người có nhiều thành kiến, họ vẫn không chấp nhận! David lại nói tiếp:
“Ba mươi năm nay tôi vẫn không quên điều đó, vẫn tìm-tòi văn-hóa Việt, và tôi hiểu tại sao dân-tộc Việt-Nam không tiến lên được! Trong một vấn-đề giản-dị đó, họ đã không có cái nhìn rộng-rãi, thì những vấn-đề lớn hơn, họ cũng khó mà thay-đổi!!!”
Tôi thở dài nói với David:
“Tôi nghĩ không chỉ người Việt-Nam chúng tôi mới có quan-niệm thiển-cận như thế, ngay những người Mỹ, cũng đâu có thích con cái họ lấy một người không cùng sắc-tộc với mình! Hơn nữa người Việt-Nam lấy chữ hiếu làm đầu, cho nên ít khi chống đối lại Cha Mẹ, và họ chấp nhận điều ấy như là một thứ định-mệnh đã đặt để, ông thông-cảm cho! Nhưng thưa ông, đấy chỉ là những suy-nghĩ của thời-gian đó, bây giờ mọi điều đã thay-đổi!!!”
Giọng David đều đều như tiếng mưa rơi ngoài hiên, ông nói:
“Cô có biết tôi đã đau-khổ biết bao nhiêu khi không lấy được Mai, tôi đâm ác-cảm với tất cả người Việt vì lối suy-nghĩ của họ! Khi về nước, lâu lắm tôi vẫn không quên được người con gái ấy, rồi lại nhớ đến câu nói cuối cùng của Mai nói với tôi, tôi không nghĩ rằng Mai đã thực-hiện được. Khi đất nước cô bị rơi vào tay Cộng-Sản, tôi vẫn hy-vọng là sẽ gặp Mai trong đám người Việt di-tản sang Hoa-Kỳ, nếu cô ấy chưa lấy ai thì trên xứ sở này, không ai cấm cản Mai kết-hôn với tôi cả!!!”.
Tôi ngắt lời David:
“Ông có gặp lại cô ta không?”
David gật đầu, đôi mắt xanh chợt buồn, để rồi lại toát ra một tia nhìn ấm áp:
“Có, tôi đã gặp lại Mai, nhưng bấy giờ tôi là người dừng lại, vì Mai đã là một nữ tu đang săn-sóc cho đám trẻ mồ-côi đem từ Việt-Nam sang! Lần này tôi thực sự cảm thấy mình không có quyền theo đuổi con người cao-quý đó! Mai đã hy-sinh tình yêu, tuổi xuân để phục-vụ cho một nghĩa-vụ cao cả hơn, đấy là tình nhân-loại! Tôi vẫn yêu Mai, nhưng không có quyền giữ lấy nàng làm của riêng, khi nhìn thấy bản-chất cao đẹp trong tâm-hồn nàng!!!”
Giọng ông ta chợt bùi ngùi:
“Đồng thời, tôi cũng hiểu được ý-nghĩa lời nói của Mai, khi đã khóc và nói với tôi câu nói cuối cùng trước khi chia tay nhau! Nàng là người con gái Việt-Nam thuần- túy có những suy-nghĩ theo tính-cách của dân-tộc nàng! Nhưng trong tình yêu, tôi hiểu nàng cũng yêu tôi, thích-hợp với đời sống và việc làm của tôi, nhưng vẫn không dám chống đối lại Cha Mẹ! Để rồi cuối cùng, cô đã chọn con đường ấy; con đường phục-vụ cho tha-nhân!!!”
Đôi mắt xanh buồn buồn của người đưa thư lại hướng về bức tranh có những bông mai vàng óng ả treo trên tường, thật dịu dàng ông nói tiếp:
“Từ đấy, tôi muốn mình cũng như Mai, làm một điều gì đem lại niềm vui cho mọi người, dù rất nhỏ nhoi! Nếu không hỏi cô, có lẽ lá thư này sẽ bị trả lại cho người gửi, bạn cô mất đi một niềm hy-vọng, và ngay cả cô cũng mất niềm vui được đọc một lá thư! Bao nhiêu năm rồi tôi có nhiều cơ-hội để tìm một việc làm tốt hơn, nhưng tôi vẫn vui thích với nghề-nghiệp hiện-tại, khi nghĩ mình đã đem đến cho mọi người những gì họ chờ đợi, nhất là trong những mùa Lễ, Tết! Tôi cũng hiểu rằng từ miền đất xa-xăm nghèo khổ kia, họ đã phải tiết-kiệm như thế nào mới có đủ tiền để gửi một lá thư cho người phương xa!!!”
Tôi cảm động nghe ông ta nói, tự thấy xấu hổ với mình khi chính tôi có lúc đã rất hững hờ với những lá thư từ bên nhà gửi sang, cũng chỉ vì sợ phải giúp đỡ! Ngược giòng thời gian, tôi như nhìn thấy mình trong quá khứ, trong lúc cùng cực vẫn trông chờ một niềm hy vọng, vậy tại sao tôi lại không có được tấm lòng như người đưa thư này! Lúc ấy, nhìn đôi mắt xanh của ông ta, chòm râu hung hung viền quanh mặt, trông ông hiền hậu và dễ thương như ông già Noel đem niềm vui cho trẻ con mỗi mùa Giáng-Sinh! Tôi nói với ông rất thành thật:
“Tôi cám ơn ông, một người Mỹ rất có tình với quê- hương tôi, dân-tộc tôi! Dù trước kia ông đã bị đau-khổ vì sự suy-nghĩ của họ!!!”
Mưa đã ngớt, chưa tới sáu giờ mà trời mùa Đông đã tối xầm lại. David đứng dậy, ông còn phải trở về Bưu điện, đem theo những lá thư người trong chung cư nhờ ông gửi giùm. Ông chào tôi rồi mang đôi giày vào chân, mỉm cười nhìn những bóng đèn màu chớp tắt trên cây Giáng-Sinh ở góc phòng. Tôi nhìn theo người đưa thư bước ra đường, lòng dâng lên một niềm ấm áp cho dù đang là mùa Đông ở xứ người! Câu chuyện của David đã làm tôi suy nghĩ. Tình yêu muôn thuở vẫn chỉ là Tình yêu, nhưng vượt lên trên đó, nó có một sứ mệnh thật cao cả khi người ta nhìn ra cái đẹp của nó, và sống với cái đẹp của tình yêu!!!
Giờ này, ở một nơi nào đó trên đất Mỹ, Mai, cô gái Việt-Nam năm xưa, có lẽ nay đã đứng tuổi, vẫn hăng say phục vụ tha nhân trong lãnh vực của cô! Không biết cô có hiểu rằng, chính tình yêu của cô đã làm cho David, người đưa thư quen thuộc của khu chung cư, cũng đang đi con đường của người ông yêu tha thiết năm xưa, cũng với mục đích đem niềm vui đến cho mọi người! Giá tất cả thế-nhân đều nghĩ đến nhau với một tấm lòng như thế, thì có lẽ chiến-tranh đã chấm dứt từ lâu trên trái đất!!!
KHI CÁC ĐÀI VOA, ĐÀI RFA KHÔNG CÒN LÀ LOA PHƯỜNG LÃO MÓC
Dẫn nhập: Khi dịch cúm Tàu Vũ Hán COVID19 lây lan khắp thế giới, Tổng Thống Trump đã cáo buộc đài VOA tiếp tay cho Trung Cộng về việc đưa tin về Wuhan virus và thúc giục Thượng Viện Hoa Kỳ bổ nhiệm ông Michael Pack làm Giám Đốc đài VOA thay thế bà Amanda Bennet, phóng viên của tờ Wall Street Journal và là vợ của Donald Graham, chủ tịch Washington Post Company. Được biết bà này trước đây do cựu Tổng Thống Obama bổ nhiệm.
Như mọi người đều biết các đài RFA, đài VOA được tài trợ từ chính phủ Hoa Kỳ, tức là tiền thuế của người dân; nhưng lại có chủ trương “hoà hợp hòa giải với VC”. Đài RFA đã bị Nguyễn Thanh Túc tố cáo tiếp tay với băng đảng Việt Tân. Giám đốc Libbi Lu và Nguyễn Văn Khanh đã bị sa thải.
Đài VOA trước đây đã bị phản đối vì chủ trương phổ biến tin tức từ đài VOV của VC. Mới đây, đài này đã cố tình xuyên tạc “cuộc biểu tình chống trục xuất” ở Nam California.
Ngày 9 tháng 4 năm 2020 vừa qua, đài này đã bị Tòa Bạch Ốc nhận xét: “Giọng nói của nước Mỹ dành tiền của bạn để nói cho các chế độ độc quyền” (Xin coi phụ bản). Trước đó, đài này đã đăng tải bài viết của Phạm Phú Khải ở Úc bênh vực mụ “nấm độc” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – kẻ ăn cháo, đái bát đối với những ân nhân của mụ này.
Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả hiểu rõ phần nào chủ trương và việc làm của đài RFA cũng như của đài VOA. Một điều cần biết thêm, người điều hành chương trình Việt ngữ của đài VOA là Phạm Phú Thiện Giao là chủ bút của báo Người Việt trước đây.
Các chủ bút, bỉnh bút của tờ Người Việt như Vũ Ánh, Vũ Quý Hạo Nhiên, Ngô Nhân Dụng, Đinh Quang Anh Thái, Phạm Phú Thện Giao, Đỗ Dzũng đều là những nhà báo “thiên tả” làm lợi cho VC lẫn Trung Cộng. Trong bài “Khi đài Á Châu Tự Do (RFA) “thanh lý môn hộ”’, tôi có trình bày việc blogger Đinh Tấn Lực, một người ở Việt Nam cách đây 4 năm, năm 2011, đã lên tiếng báo động với đài RFA là đài này đang dung túng “một Phạm Xuân Ẩn trên mạng” là blogger Kami Ajonomoto, một người mà đài RFA ghi rõ trên trang mạng của mình là “một người đang sống ở VN”.
Bốn năm sau, một blogger khác là nhà báo Lê Diễn Đức (LDĐ) bị đuổi cổ khỏi đài này. Và chuyện này được đài B(ọn) B(ọ) C(hét) làm rùm beng lên một cách khác thường. Một vài người khác thì đem so sánh việc đài RFA đuổi cổ LDĐ với nhà báo VC Đỗ Hùng ở trong nước – một so sánh rất là khập khiểng.
Trong khi đó, trên RFA Fanpage, trong “Đôi lời minh định về sự kiện nhà báo Lê Diễn Đức” đã viết rõ như sau:” (Xin xem ở phú đính). “Đối với các vấn đề lịch sử; chúng ta cần có góc nhìn khách quan, không thiên kiến và tôn trọng cả hai bên cuộc chiến, dù thành hay bại, nhằm mục đích xa nhất là xóa bỏ hận thù, hoà hợp, hoà giải, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đó là một trong những mục tiêu, nguyên tắc của RFA”.
Những người có quan tâm không ai ngạc nhiên gì về chủ trương “xoá bỏ hận thù, hoà hợp, hoà giải, hàn gắn vết thương chiến tranh” mà đài RFA viết rõ trong bài “Đôi lời minh định về sự kiện nhà báo Lê Diễn Đức” vì đây cũng là chủ trương của chính phủ Hoa Kỳ. Đài RFA và những người điều hành đài này chỉ là “những kẻ ăn cơm chúa…” Điều làm người ta ngạc nhiên là dưới mỗi bài của các cộng tác viên, đài RFA cũng như đài VOA đều có ghi câu:
“Đây chỉ là ý kiến cá nhân của blog… chứ không phải quan điểm của đài (chúng tôi)”. Bài viết của LDĐ, một du sinh VC tại Ba Lan trong thời VC chống Mỹ cứu nước, có câu viết mất dạy: “Tôi không hề có ý khinh rẻ VNCH, mà chỉ sử dụng một số từ mang tính hài hước, giễu cợt như “vũ khí xềnh xàng”, “chạy chí chết” (mà thực tế như thế) nhằm so sánh với cái “chiến khu” vớ vẩn của Mặt trận Hoàng Cơ Minh”.
Câu viết mất dạy của anh du sinh VC thời chống Mỹ cứu nước LDĐ thực ra đâu có nhằm nhò gì so với “độc giả Sơn Hào của báo Người Việt” mỉa mai QLVNCH là “lính đánh thuê của đế quốc Mỹ” và đâu có mùi mẽ gì khi so sánh với câu viết cực kỳ mất dạy của “tên trí thức đầu ruồi” Nguyễn Gia Kiểng: “Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ chỉ là bọn con cháu của cô Tư Hồng (sic!) (Ghi chú: Cô Tư Hồng là một phụ nữ Việt có chồng người Pháp” nổi tiếng với 2 câu thơ: “Sắc phẩm Vua ban, hàm cụ lớn/Nghìn năm danh tiếng, của bà to!” Mồm miệng của tên trí thức đầu ruồi NGK quả là to cỡ bằng của… cô Tư Hồng! Xin xem bài “Nỗi buồn Cô Tư” của Lão Móc).
Tên nhà báo “du sinh VC tại Ba Lan trong thời VC chống Mỹ cứu nước” LDĐ to mồm, bạo miệng và mất dạy hơn “tên độc giả Sơn Hào của báo Người Vẹm” và “tên trí thức đầu ruồi”
NGK là dám mó dái Mặt trận Hoàng Cơ Minh khi đem QLVNCH với “vũ khí xềnh xàng”, “chạy chí chết” so sánh với cái “chiến khu vớ vẩn” của Mặt trận HCM.
Đài RFA và báo Người Vẹm đuổi cổ tên nhà báo mất dạy này, theo Lão Móc, là chuyện… bất khả tư nghị! Trước những lời tuyên bố mất dạy của tên nhà báo LDĐ đã có những lời tuyên bố mất dạy, cực kỳ mất dạy của hung thần Nguyễn Hộ cách đây mấy mươi năm:
“Nhà cửa của ngụy ta tịch thu, vợ của ngụy ta xài, con của ngụy ta sai, ngụy thì ta đày chúng nó lên vùng rừng thiên nước độc”
Mới đây nhất, tên “cùng hưng, cực ác” Lê Đức Anh đã tuyên bố: “Đảng và Nhà Nước ta đã ban hành chính sách nhân ái và chính nhờ chính sách nhân ái này mà bọn ngụy còn ơ lại trong nước hay đã ra nước ngoài đều hướng về tổ quốc (?)”.
Từ một thằng nhà báo cóc cắn như tên nhà báo LDĐ đến những tên hung thần như Nguyễn Hộ, Lê Đức Anh lúc nào chúng nó cũng coi những người miền Nam, những người lính của QLVNCH đã bị chúng nó “đày lên vùng rừng thiêng, nước độc” dùng cái đói để tàn phá nhân phẩm, dùng khí hậu kịch độc của vùng lam sơn, chướng khí, dùng lao động khổ sai để giết lần, giết mòn.
Qua chương trình HO, được đến “thiên đường Mỹ” lại bị những thằng chó chết nó cản đản. Thằng khốn nạn Đoàn Văn Toại tưởng rằng cái “Viện Vận Động Dân Chủ” của nó sẽ “sản xuất đủ dân chủ cho nhân dân VN” thì khuyên Mỹ nên cho mỗi thằng HO 5,7 nghìn đô la để chúng nó ở lại VN vì bọn này già cả, sẽ là gánh nặng cho nước Mỹ. Cái hàm của nó bị ai đó bắn bể và thay vào đó cái hàm thiếc nên nó đã phải ngậm câm miệng hến từ bấy đến nay.
Qua tới Mỹ thì lại bị tên nhà báo Ký Còm Vũ Binh Nghi ở San José nó mỉa mai là “đạo quân restroom chuyên môn tấn công vào Mặt trận Nhà Cầu”. Bị mụ nhà văn Trần Mộng Tú mỉa mai là “Những ổ vi trùng lao trong cơ thể của những cựu Quận Trưởng, Quận Phó tham nhũng của VNCH mà VC đã ưu ái “tặng cho nước Mỹ (!)”
VC chúng nó chủ trương những người Việt tỵ nạn cộng sản phải thần phục dưới trướng của chúng nó.
Người có vẻ “ôn hoà” nhất là cố Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt từ thập niên 90 đã kêu gọi “người Việt tỵ nạn hãy thôi chống Cộng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thì tiến nói sẽ có trọng lượng hơn (?)”.
Bọn tay sai VC lúc nào chúng nó cũng tìm cách đánh phá những người cầm bút vì Lẽ Phải và Sự Thật. Các đài phát thanh RFA, VOA là đài của Chính phủ Hoa Kỳ, nhân viên của 2 đài này được trả lương từ tiền thuế của dân, lại chủ trương HAI BƯNG, tức BƯNG BÍT và BƯNG BÔ,thì làm sao có thể xoá bỏ hận thù, hoà hợp, hoà giải, hàn gắn vết thương chiến tranh –là chủ trương của đài RFA mà đài này đã ghi rõ trong bài viết về tên nhà báo du sinh VC Lê Diễn Đức?
Chính “ông cò mồi có lai-sân” Bùi Tín viết trong sách “Mây Mù Thế Kỷ” của ông ta là “ Chính phủ Mỹ nhờ ông ta thực hiện chính sách hoà hợp, hoà giải giữa VC và người Việt tỵ nạn VC tại hải ngoại”.
Nay, chính đài RFA viết rõ chủ trương của đài này cũng thế.
Hơn lúc nào hết, những người cầm bút chân chính vì Lẽ Phải và Sự Thật cần phải tỉnh táo
nhận định và can đảm nói lên Lẽ Phải và Sự Thật.
Hãy tranh đấu với tư cách của những “người Mỹ gốc Việt, gốc Canada, gốc Úc v.v…”.
Chưa bao giờ mà trên diễn đàn điện tử toàn cầu lại xuất hiện rất nhiều những kẻ thích chọc cho chúng chửi như trong thời đại dịch cúm Vũ Hán do Trung Cộng gây ra.
Chuyện có vẻ trái khoáy là những kẻ thích chọc cho chúng chửi toàn là những kẻ cuồng chống Trump. Chuyện trái khoáy kế tiếp là những kẻ này lại ở tuốt luốt bên Pháp, bên Âu Châu. Kẻ chọc cho chúng chửi đầu tiên là ông Bác sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân. Người xưa có câu: “Bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành”. Ông HCL này đã 83 tuổi mà còn chọc cho chúng chửi bằng cách gọi Tổng Thống Trump là “thằng điên” và những kẻ “cuồng Trump” là “bựa” và “phò Cộng”. Không biết có phải ông này đạp kít của ông nhà văn Đại Tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc ở San Jose – Hoa Kỳ lúc nào cũng khoe cấp bậc của mình lại thêm vào một “chức vụ” của một đơn vị lạ hoắc là Patfinder/thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH và khoe là mình đã 86 tuổi. Mới đây, ông này đã bị ông Khanh Trần ở Houston vạch cái mặt mẹt bằng cách chứng minh QLVNCH không có đơn vị nào gọi là đơn vị Patfinder.
Tác giả Khanh Trần cũng giống như ni cô Nghi Lâm đưa đường gươm kết liễu tính mạng “quân tử kiếm” Nhạc Bất Quần trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Bài viết “trả lời tâm thư của nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc” của tác giả Khanh Trần đã khiên “Nhạc Bất Quần Giao Chỉ Vũ Văn Lộc” chết đứng giữa trận tiền như Từ Hải trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Ông Nhà văn Đại Tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc thì xách mé gọi ông Trump là “Thần Ác” và vô đao đức.
Mới đây, trên diễn đài điện tử toàn cầu lại rùm beng lên chuyện Nguyễn Gia Kiểng, kẻ bắt “Tổ quốc ăn năn”, kẻ đã miệt thị cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cố PTT Nguyễn Cao Kỳ là “con cháu của cô Tư Hồng” lại lên tiếng chê bai những người Việt tỵ nạn cuồng Trump.
Chưa hết, ở Bắc California lại có ông Nguyễn Nhơn, cựu Phó Tỉnh Trưởng Biên Hoà không biết ông ứng, bà hành gì lại xách mé goi TT Trump là “thằng du côn” “làm teo nước Mỹ. Ôi thôi người ta xúm vào mà chửi không biết để đâu cho hết. Có ông còn “cầu chúc” ông Nguyễn Nhơn “tối nay sẽ nói chuyện với hương hồn cố Đại Tá Phạm Đăng Tấn, đã từng làm Tỉnh Trưởng Biên Hoà để được ông này khuyên bảo.
Thực ra, mấy ông thích choc cho chúng chửi kể trên, ông nào cũng còn thua xa ông nhà văn Đại Tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc.
Ông này không những chọc cho chúng chửi mà còn thách thức mọi người… chửi nữa đi em mới là “ngầu”.
Xin mời độc giả đọc bài viết sau đây.
Cuối năm 2010, trong Đại hội Bất thường của Tập Thể Chiến sĩ VNCH/HN, ông Trần Thiện Khiêm, cựu Thủ Tướng VNCH, cựu Đại Tướng QLVNCH tuyên bố là “dù cộng sản hay không cộng sản thì Việt Cộng cũng là người yêu nước” và “mọi người nên góp ý với VC để họ sẽ sửa đổi chế độ trong cuộc Đại hội Đảng sắp tới”.
Lập tức, những âm thanh cuồng nộ của dư luận nổi lên khắp nơi về lời tuyên bố này của ông Trần Thiện Khiêm khiến cho tới nay cái gọi là Tập thể Chiến Sĩ VNCH/HN được coi như là một tử thi chưa mai táng! 86
Không ai nghĩ một người làm tới Thủ Tướng nước VNCH, làm tới Đại Tướng của QLVNCH như ông Trần Thiện Khiêm mà không biết đến câu:
“Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng
Thất quốc chi đại phu, bất khả ngôn trí”
Điều chua xót nhất là vừa làm “bại binh chi Tướng” vừa làm “thất quốc chi đại phu”, ông lại nói lên những lời nói vô cùng khốn nạn, bỉ ổi, khốn nạn, bỉ ổi hơn cả ông “cố Tổng Thống”, “cố Đại Tướng” Dương Văn Minh, sau khi nài nỉ cố Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền để rồi “ông Tổng Thống thời cơ” này hàng giặc. Và sau đó hãnh diện tuyên bố: “Năm nay tôi 60 tuổi, rất hãnh diện là một công dân được đi bầu Quốc Hội của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
Trong khi mọi người vô cùng phẫn nộ trước lời tuyên bố làm nhục cả chế độ VNCH và QLVNCH của ông Trần Thiện Khiêm thì, có một ông cựu Đại Tá nhào ra thách thức dư luận. Ông này là nhà văn cựu Đại Tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc. Ông ta viết bài “Chửi nữa đi em”, trong đó có đoạn thách thức dư luận như sau:
“…Bất cứ người nào ra nhận trách nhiệm đều có thể lãnh búa tạ. Cuộc đời binh nghiệp cũ được đưa ra bình luận. Ðời sống 35 năm qua cũng là cả vấn đề. Anh làm gì bấy lâu nay. Anh chạy trước thì có tội bỏ anh em. Anh ở tù thì có thể thiếu tư cách, có thể đã khiếp nhược trước kẻ thù. Một cái tóc là một cái tội. Ở cái đất nước tự do này, chửi bới được hiến pháp bảo vệ trong tu chính án dân quyền. Và chửi thượng cấp ngày xưa là một cái thú vô cùng hấp dẫn. Phần lớn các bài báo và tham luận của anh em viết về quân đội thường đề cao chiến binh và mắng chửi tướng tá đã trở thành cái mốt rất thời thượng. Nhưng tôi cũng xin nói một
lần để các bạn rõ. Các bạn liệt kê vô tội vạ danh sách tướng bẩn tướng sạch, tướng anh hùng tướng hèn nhát. Kể tội tá xấu tá đẹp, tá hiên ngang ở lại hay tá nhục nhã chạy làng, phần lớn đều không phải như vậy. Thành ngữ thấy vậy mà không phải vậy chính là hình ảnh của quân đội.
Khi phải nói lại cho thế hệ tương lai, ta có thể nói rằng, Chúng ta đang ở thời đại của người biết chuyện không nói. Kẻ nói nhiều lại là người không biết chuyện. Các bạn có giận thế hệ đàn anh xin vui lòng chửi bới toàn thể hàng tướng tá, để anh em chúng tôi cùng chia xẻ theo tình nghĩa huynh đệ chi binh. Nếu cứ tuyên dương hay lên án theo danh sách lếu láo chính là những lầm lẫn chết người. Quân đội nào cũng thế, có kẻ xấu người tốt. Nhưng đã cùng trong
hàng ngũ, nếu không phải chính phạm làm mất nước thì ta cũng là tòng phạm. Nước mất nhà tan, dậu đổ bìm leo. Chửi nữa đi em. Các em chửi là đúng quá. Nhưng cần ghi nhận rằng tội của thế hệ đàn anh làm mất nước là quan trọng nhất. Còn tội chạy trước chạy sau, dốt nát, ăn chơi, ngậm miệng ăn tiền, ba cái lẻ tẻ đó chỉ là thứ yếu. Tập thể ngày nay chẳng qua cũng chỉ là di sản về già của cuộc binh đao. Chẳng khác gì ngày xưa quân đội cũng lẫn lộn cả người xấu kẻ tốt. Trong buổi hoàng hôn, anh em ta đã ngồi lại bên nhau. Nếu không làm nên cơm cháo gì, thì cũng nên ngồi lại cùng nghe thiên hạ chửi, hầu vơi được phần nào trách
nhiệm tội lỗi với non sông.
Xin các bạn ngồi lui vào, dành cho tôi một chỗ hàng đầu. Chẳng phải vì tôi nhiều tội hơn anh em, chẳng qua mình đã phơi nắng nghe chửi hơn 30 năm, trở thành điếc không sợ súng. Chửi nữa đi em… May ra giúp các niên trưởng siêu thoát ngay trong cõi trần gian. Chửi nữa đi em…” (Hết trích).
Đã có nhiều người lên tiếng về chuyện “chơi nổi” này của ông nhà văn cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc. Xin không nói lại.
Năm sau, ông ta lại tiếp tục chơi nổi, viết bài so sánh bà Trần Lệ Xuân với ông Nguyễn Cao Kỳ.
Dĩ nhiên ở xứ sở tự do như Hoa Kỳ thì đây là cái quyền của ông nhà văn Đại Tá Giao Chỉ Vũ Văn Lộc.
Điều tôi muốn nói ở đây là ông nhà văn Đại Tá Giao Chỉ có vẻ không được “liêm khiết trí năng” khi “dựa” vào một người khác để chửi “Đ.M.” ông Nguyễn Cao Kỳ!
Chuyện này, nhiều năm trước đây ông đã làm một lần là dựa hơi cố giáo sư Hà Mai Phương, hết lời ca tụng ông này là “người tử tế” khi ông này qua đời, để mắng những người khác là “không tử tế”.
Viết về chính quyền khi ông Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo, ông Giao Chỉ viết:
“Trong giai đoạn này, chính quyền của ông đã để lại cho chiến tranh Việt Nam tấm hình tướng Loan bắn tên đặc công VC…”.
Điểu này, ông Giao Chỉ viết đúng, nếu không có chuyện khi ở Hội nghị Nhân quyền vào thập niên 90 ở Mạc Tư Khoa do bà Irina tổ chức, ông Vũ Văn Lộc đã cự nự với nhà văn Nguyễn Việt Nữ khi bà này đọc bài tham luận “Thư gửi quả phụ Bảy Lóp” để bênh vực Tướng Loan, và ông Vũ Văn Lộc đã gầm gừ: “Nếu có súng, tôi đã bắn nó (tức cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan)”.
Lặp lại điều này để công kích ông Nguyễn Cao Kỳ, ông Vũ Văn Lộc cho người ta thấy cái tâm địa nhỏ nhen của ông Vũ Văn Lộc mà thôi!
Cuối bài viết, ông nhà văn Đại Tá Vũ Văn Lộc viết:
“Ngày 30-4 lần thứ 36 đã qua rồi, lại sắp đến ngày quân lực tháng 6 năm 2011. Nhiều năm qua trên lưng đồi nón sắt phế thải, đàn em thấy chúng tôi nghênh ngang giữa đường nên thường chửi bậy. Mình biết mình tội lỗi cũng nhiều nên đành phải nhắc nhỡ: Chửi nữa đi em.
Bây giờ tất cả đều gần đất xa trời, xin phê bình niên trưởng Kỳ một lần cho rõ ràng. Xin phép dùng ngôn ngữ của ông xếp cũ của tôi là trung tướng Dương Văn Đức khi phê bình VC trong trại tù.
Ai không biết thì hỏi anh em HO. Nhiều người biết là ông Đức mắng mỏ cộng sản ra sao để rồi bị chúng dứt điểm.
Ngày xưa, thời kỳ 50, có anh trung úy Bắc Kỳ ngồi hầu chuyện với Đại Tá Nam Kỳ Dương Văn Đức tại Phân Khu Sóc Trăng. Trong câu chuyện đời, nghe ông dùng ngôn ngữ với hàng họ dưới thắt lưng. Mở đầu chấm hết bằng tiếng Đan Mạch. Ông chết trong trại tù vì phê bình cộng sản bằng ngôn ngữ của ông. Đ.M. chơi ngon như vậy ông mới đích thực là niên trưởng của tôi” (Hết trích)
Và như mọi người đều biết mới đây qua việc xách mé gọi Tổng Thống Trump là “Thần Ác” và vô đạo đức, ông nhà văn Giao chỉ Vũ Văn Lộc đã nổi nang ngang ngửa với ông Bác sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân ở Pháp.
Sau bốn mươi tám năm mất nước về tay VC, chưa bao giờ các cựu sĩ quan QLVNCH và các cựu viên chức hành chánh cùa chế độ VNCH bệ rạc như bây giờ.
(Mến tặng hết thảy những chú cá chép vẫn bơi ngược dòng!)
Trong hồ nước gặp được quý nhân
Bộp!
Một vật lạ từ thành cầu rơi xuống mặt hồ. Nước bắn tóe lên. Cái vật lạ màu cam kia nằm đờ ra trên mặt nước vài giây rồi sau đó cong mình cựa quậy, rồi cái mang phập phồng, vây và đuôi ve vẩy. Hóa ra là một chú cá chép vàng to cỡ bàn tay người lớn với thân hình mảnh dẻ.
Qua cơn choáng váng, chú nhìn ra xung quanh. Và rùng mình. Có những chú cá vàng khác cũng bị ném xuống nước nhưng giờ nằm ngửa bụng ngáp ngáp vì bị va đập mạnh. Có chú mắc mãi trong túi bóng không ra được đành chờ chết.
Thì ra hôm nay là ngày 23 tháng Chạp, ngày con người cúng Táo quân. Chép vàng bị người ta ném từ trên thành cầu xuống hồ nước, rồi họ lên xe phóng đi. Lẽ ra phóng sinh đúng cách phải là nâng cá bằng hai bàn tay, rồi nhẹ nhàng thả xuống nước cho cá bơi đi. Nhưng cuộc sống nay khác rồi, con người mới vội vàng làm sao.
Nên có nhiều chú cá xấu số đã không tránh khỏi cái chết.
Chép vàng bị người ta ném từ trên thành cầu xuống hồ nước, rồi họ lên xe phóng đi
Một khối đen sì xô đến, có tiếng gọi giật giọng: “Nhanh. Trốn đi. Đứng đây để chờ bị bắt lại à?”
Trước mặt chép vàng là một chú cá chép đen to lớn, khỏe mạnh. Chép vàng nhìn lên bờ, có mấy người cầm vợt đứng gần mép nước, họ chỉ chờ người trên cầu vứt cá xuống sẽ vợt lại đem bán cho người mua phóng sinh. Chần chừ là sẽ bị bắt lại.
Vả lại gần bờ nước bẩn và nhiều rác, không thở được.
Chép vàng búng nước lấy đà, vọt lẹ cùng chép đen.
Bơi đã xa khỏi bờ, chép vàng mới cất lời:
– Chào đằng ấy, tớ tên Chép Vàng. Còn đằng ấy?
– Dĩ nhiên tớ là Chép Đen. Hì hì
– Đằng ấy ở đâu tới?
Chép Đen vểnh râu, có vẻ đắc ý:
– Tớ ở trong cái hồ này thôi. Cũng được thả phóng sinh như đằng ấy, nhưng lâu rồi. Hình như ngày 23 tháng Chạp của hai năm trước.
– Vậy sao đằng ấy vẫn ở đây?
– Thì đi đâu mà chả thế. Chỗ nào sống được thì tớ ở. Trong cái hồ này có đủ thức ăn, dù tớ bị con người lùng bắt suốt, nhưng tớ tránh được.
Chép Vàng thở dài:
– Còn tớ thì phải làm tròn sứ mệnh của mình.
– “Sứ mệnh gì?” Chép Đen hỏi.
– Tớ đưa các vị Táo quân lên chầu Đức Ngọc đế. Họ phải cưỡi lên lưng tớ để thăng thiên.
– Tớ có thấy ai đâu?
– Họ ở không gian khác, đằng ấy hiểu không. Có hai ông và một bà. Nhưng giờ ở trong cái hồ nước tù đọng này thì biết thăng thiên làm sao. Chép Vàng chép miệng, bần thần.
Chép Đen tò mò:
– Vậy thì phải ra đâu mới thăng thiên được?
– Ra sông lớn, nơi dòng nước cuộn chảy từ thượng lưu xuống hạ nguồn, như dòng chảy liên tục của thời gian, cũng là đường đi lên thượng giới.
Chép Đen nháy mắt tinh nghịch:
– Ở hồ này có một lối thông ra sông.
– “Thật không?” Chép Vàng háo hức. “Đằng ấy có thể dẫn tớ ra đó được không?”
– “Được thôi, để tớ dẫn đi”. Chép Đen trả lời.
Hồ nước khá rộng. Nước giữa hồ trong xanh hơn ở gần bờ, làm nền cho sắc đỏ của những bông hoa súng đang nở rộ. (Ảnh: Shutterstock)
Hồ nước khá rộng. Nước giữa hồ trong xanh hơn ở gần bờ, làm nền cho sắc đỏ của những bông hoa súng đang nở rộ. Hai chú cá vừa bơi vừa trò chuyện:
– “Sông đó rộng, nước chảy xiết. Tớ đã có lần ra đến đó rồi lại quay về đây. Nói thật, sức vóc như đằng ấy, chẳng biết sẽ bơi thế nào”. Chép Đen nói và ái ngại nhìn thân hình mảnh dẻ của bạn.
– “Tớ cũng không biết. Nhưng đã là sứ mệnh thì tớ sẽ phải làm. Tớ còn phải bơi ngược dòng ấy chứ”. Chép Vàng cũng không giấu được vẻ lo lắng.
– Để làm gì?
Chép Vàng mơ màng:
– Mẹ tớ kể cho tớ câu chuyện từ tổ tiên xa xưa của họ nhà cá chép. Một con cá chép ngoài nhiệm vụ chở các Táo quân lên chầu Đức Ngọc đế vào ngày 23 tháng Chạp thì cũng phải tìm đường quay về với cội nguồn sinh mệnh của mình.
– “Bằng cách nào?” Chép Đen hỏi.
– Bơi ngược dòng một con sông lớn, rồi vượt thác. Xưa kia tổ tiên cá chép chúng ta đã từng có vị bơi vượt thác Long Môn trên sông Hoàng Hà để hóa rồng và bay lên trời. Đã lâu lắm rồi, từ thời vua Đại Vũ trị thủy.
– Nghe hay nhỉ. Nhưng không biết có thật không?
– “Tớ tin là có thật”, Chép Vàng cả quyết. Ánh mắt nó ngời lên đầy tin tưởng, cứ như linh hồn những cụ tổ oai hùng của loài cá chép đã quay về nhập vào trong nó, lúc ấy thân hình mảnh dẻ của nó toát lên một sức mạnh không ngờ khiến Chép Đen cảm thấy kính nể. Chép Đen nghĩ đến hình ảnh một ngọn thác hùng vĩ, nước đổ sầm sập từ trên cao xuống, một chú cá chép tung mình nhảy lên thật cao hết lần này đến lần khác…
– Được, tớ sẽ đi cùng đằng ấy. Tớ không nghĩ đến hóa rồng, nhưng hẳn sẽ là một chuyến đi thú vị.
Chép Vàng mừng lắm. Nó chưa từng đi đâu ra khỏi ao nuôi cá. Giờ có Chép Đen, một tay tháo vát thế này đi cùng, cơ hội thành công sẽ cao hơn.
So với Chép Vàng trầm lặng mơ mộng, Chép Đen hơi thiếu óc tưởng tượng nhưng giỏi xoay sở, thạo đời, lại hoạt ngôn, đặc biệt là rất nghĩa khí. Trên đường đi, Chép Đen dạy cho Chép Vàng cách kiếm mồi từ phù du trôi ngang dòng nước, từ việc tóm những con tép nhỏ hay thậm chí cả châu chấu, cào cào sa xuống mặt nước. Chép Đen cũng dạy cho Chép Vàng cách tránh những mồi câu, những lưỡi lục của dân câu, những vó, nơm… của vô số những người bắt cá. Chép Đen quả là sự bổ sung tuyệt vời cho Chép Vàng.
“Đằng ấy phải trải nghiệm, va chạm nhiều hơn, đời giờ nhiều cạm bẫy lắm”. Chép Đen thường dặn Chép Vàng như vậy trên đường đi. Và Chép Vàng cũng cố gắng ghi vào lòng những bài học ấy.
Màu nước bắt đầu thay đổi, đôi bạn sắp đi tới lối thông từ hồ ra sông. Chép Đen hào hứng:
– Tớ sẽ thi vượt thác với đằng ấy. Chắc chắn tớ sẽ nhảy lên thật cao, cao hơn đằng ấy cho mà xem.
– Tớ tin là thế, Chép Đen ạ. Đằng ấy sẽ làm tốt hơn tớ.
– “Biết đâu tớ cũng hóa rồng nhỉ”, Chép Đen cười vang trêu chọc. “Lối thông ra sông kia rồi, nước xiết quá, ta lấy đà chuẩn bị nhé. Một, hai… Ối, thả tôi ra, thả tôi ra”.
“Biết đâu tớ cũng hóa rồng nhỉ”, Chép Đen cười vang trêu chọc. (Ảnh: Shutterstock)
Chép Đen đã mắc vào một tấm vó, người ta kéo vó lên, Chép Đen vùng vẫy nhưng không thoát ra được. Chép Vàng cuống quýt bơi loanh quanh ở dưới mà không nghĩ ra cách nào để giúp bạn.
– “Trốn đi, trốn đi Chép Vàng, họ bắt đấyyy”… Chép Đen gào to.
– “Tớ không đi đâu, tớ phải cứu đằng ấy”. Chép Vàng bật khóc và bất lực nhìn bạn. Chép Đen đã bị kéo lên cao.
– Đằng ấy không cứu được tớ đâu. Đi và làm tròn sứ mệnh của đằng ấy đi. Hãy vượt thác cả phần của tớ nữa. Đi ngay đi, ở đây nguy hiểm lắm.
Một chiếc lưới được ném vù xuống. Chép Vàng chợt động linh cơ tránh được. Rồi ngoảnh nhìn Chép Đen lần cuối, Chép Vàng gạt nước mắt, phóng ra sông.
Trưởng thành nơi sông lớn
Không ai có thể nhìn thấy nước mắt của một con cá, nhưng ai dám bảo đảm rằng cá không biết khóc? Còn chúng tôi thì biết rằng Chép Vàng đã khóc thảm thiết vì thương bạn. Vả lại, chú còn lo lắng từ nay mất đi sự hỗ trợ của Chép Đen, chú biết xoay sở thế nào nơi sông lớn?
Nhưng rồi Chép Vàng cũng dần bình tĩnh lại. Chú đã bắt đầu chuyến đi một mình, giờ đây chú lại có thêm những kinh nghiệm mà Chép Đen đã dạy chú. Chép Vàng thấy mình cần tự tin hơn.
Phải tiếp tục lên đường.
Ban đầu, nước sông chảy xiết, lại bơi ngược dòng nên chú rất mệt. Cứ bơi một quãng chú lại phải tìm chỗ nghỉ. Thức ăn ở đây cũng khó kiếm hơn, vì nước chảy mạnh nên thức ăn trôi qua rất nhanh, chú phải đớp mồi khẩn trương hơn. Về sau chú cũng biết tìm đến nơi nước lặng hơn một chút, thường là sau những tảng đá lớn ở lòng sông, vừa để kiếm cái ăn, vừa tìm chỗ nghỉ. Dần dần, chú cũng biết kiếm ăn dưới bùn hay bắt con tôm con tép.
Ban đầu, nước sông chảy xiết, lại bơi ngược dòng nên chú rất mệt. (Ảnh: Wikipedia-CC BY 2.5)
Cuộc sống luôn vận động mạnh khiến thân thể chú cường tráng hơn, mạnh mẽ hơn, đôi râu cũng mọc dài ngạo nghễ. Nếu Chép Đen còn sống mà nhìn thấy chú, chắc sẽ rất tự hào.
Chú cũng gặp nhiều loài cá khác và cả cá chép, nhưng phần lớn họ chỉ bơi xuôi dòng. Đôi khi, chú cũng làm quen với những chú cá chép khác để tìm kiếm bạn đồng hành. Nhưng hầu như ai cũng cười nhạo ý tưởng “viển vông” của chú.
Chú chỉ biết một mực ngược dòng tiến lên.
Đã qua Tết Nguyên Đán, có lẽ các vị Táo quân đã rời lưng chú để thăng thiên chầu Đức Ngọc đế và tâu bày kết quả một năm làm việc ở cõi trần này. Giờ này có lẽ họ đã được tạm nghỉ ngơi, nhưng chú Chép Vàng của chúng ta vẫn hàng ngày phải đối mặt với sóng dữ. Và không chỉ có thế, ở trên sông lớn, Chép Vàng dù ít gặp con người hơn, nhưng kẻ thù trong tự nhiên lại nhiều hơn. Chẳng hạn như con giải, rắn và các loài cá lớn.
Mới hôm qua, chú bị một con giải đớp hụt. Nó nằm im ở lòng sông trông như một tảng đá lớn. Chép Vàng định nép vào đó nghỉ ngơi thì con giải thò cái đầu ra táp. Chép Vàng lanh lẹ né được. Hú hồn. Những con giải – loại baba cực lớn ở vùng này có cái mai to như cái chiếu con và có thể cắn đứt gân chân của trâu mộng.
Một hôm, Chép Vàng lọt vào một vùng nước lặng hơn và nông dần đi. Ở đây, đáy sông ít bùn và cứng hơn, hầu như chỉ có cát và đá. Cá tôm cũng thưa thớt. Chép Vàng cảm thấy lo ngại, chú chưa biết chuyện gì đang xảy ra, bèn tới bắt chuyện với một cụ cá nheo đang sửa soạn lên đường:
– Cụ ơi, cụ sắp đi đâu vậy? Cho cháu hỏi thăm đường ạ.
– Anh muốn lên thượng nguồn làm gì? Đi làm sao được. Đã lâu lắm rồi có ai đi lên thượng nguồn được đâu.
– Vì sao vậy hả cụ?
Cụ cá nheo thở dài:
– Anh bơi ngược lên một quãng nữa sẽ gặp một con đập cực lớn, đó là đập thủy điện. Vì cái đập ấy mà nhiều năm nay, tôi không thể đi lên thượng nguồn. Tôi cũng bị chia cắt với gia đình mình. Họ ở lại phía lòng hồ nằm sau cái đập thủy điện này. Trầm tích, phù sa cũng bị giữ lại phía bên ấy. Anh xem, đáy sông ở đây trơ ra toàn sỏi với đá thôi, sống làm sao được. Ăn gì bây giờ? Khi nào có lũ về hay mùa mưa thì còn đỡ. Còn bây giờ nước cạn thế này, chúng tôi phải bơi về xuôi.
Anh bơi ngược lên một quãng nữa sẽ gặp một con đập cực lớn, đó là đập thủy điện. Vì cái đập ấy mà nhiều năm nay, tôi không thể đi lên thượng nguồn. (Ảnh: Getty Images)
Ngừng lại một lát, cụ cá nheo nhìn chú nói tiếp:
– Mà anh cũng nên về xuôi thôi. Đợi đến mùa lũ rồi quay trở lại. Nhưng kể cả vậy thì làm sao anh vượt qua được con đập cao ngất kia. Thôi, về đi. Muốn vượt qua được phải có thần tích. Thời nay làm gì còn thần tích.
“Thời nay làm gì còn thần tích”. Câu nói đầy chán nản ấy của cụ cá nheo còn làm chú Chép Vàng hụt hẫng, đau khổ hơn hết thảy những bầm dập trên thân xác cho đến lúc này. Chú đã bắt đầu chuyến đi với lòng tin vào truyền thống xa xưa của họ nhà cá chép, về thần tích hóa rồng. Dọc đường, chú đã gặp được Chép Đen, người bạn duy nhất ủng hộ chú. Nhưng liệu Chép Đen có tin vào chuyện hóa rồng hay không? Chú cũng nhớ đến tiếng cười nhạo của các bạn cá dọc đường, trong đó có không ít đồng loại cá chép của chú. Giờ lại thêm lời này.
Nhưng nghĩ lại, chú sẽ không bỏ cuộc. Mẹ vẫn dạy chú: “Trên đời này không mất thì không được. Được thì phải mất.” Và thần tích sẽ chẳng bao giờ xảy ra cho một kẻ lười nhác và thiếu lòng tin. Vả lại, đằng nào cũng sẽ chết, thà là chết trong dòng nước xiết vì đã sống một cuộc đời có ý nghĩa còn hơn một cuộc sống vô vị nhạt nhẽo trong bùn lầy của ao tù nước đọng.
Chép Vàng vượt vũ môn
Đêm hôm ấy Chép Vàng nhịn đói đi ngủ. Trong giấc mơ, chú mơ thấy mẹ mình và lời ru êm êm của mẹ, lời ru đưa chú về với những tổ tiên oai hùng xa xưa của họ cá chép – những bậc đã hóa rồng. Chú cũng mơ thấy Chép Đen và bạn có hỏi chú rằng đã vượt thác chưa. Chú mơ thấy cả ba vị Táo quân đang chầu Đức Ngọc đế và họ nói rằng: “thần tích sẽ xảy ra với những kẻ mạnh mẽ có đủ lòng tin.”
Chép Vàng bỗng choàng tỉnh dậy vì trời bắt đầu mưa.
Mưa? Giữa tiết hanh khô tháng Giêng này? Ồ! và mưa ngày càng lớn chứ không phải mưa phùn. Một trận mưa rào cực lớn.
Mưa suốt cả mấy ngày, nước dềnh lên nhanh chóng. Nước mưa cuốn theo thảm mục trên rừng chảy xuống dòng sông, phù du lại nhiều lên. Các loài cá tôm lại quay trở lại. Chép Vàng cũng có thể tiến sát đập thủy điện.
Lúc này, lũ trên thượng nguồn đã đổ về sầm sập. Đập thủy điện mở cửa xả mặt khiến nước đổ xuống như một dòng thác cực lớn. Chép Vàng thầm nghĩ: “Cứ như lời kể, xưa kia vua Đại Vũ phải xẻ núi Long Môn cho nước sông Hoàng Hà thoát đi, đó là thuận theo tự nhiên để trị thủy. Còn ngày nay người ta làm ngược lại, xây những con đập cực kỳ to lớn để chắn nước. Nhưng liệu họ có thể chặn được sức mạnh của thiên nhiên không nhỉ?”
Nhưng giờ chú cũng không nghĩ lâu về việc đó nữa. Chú phải chuẩn bị cho việc vượt thác. Ai biết cơn lũ sẽ còn kéo dài đến lúc nào. Chú không thể bỏ lỡ cơ hội Trời cho này được.
Chép Vàng kiếm mồi thật nhanh và dự trữ dưới khe một tảng đá lớn bên bờ nước. Chú ăn đến no nê và bắt đầu tập nhảy.
Rồi tiến đến gần dòng thác nước đang chảy xuống dữ dội, chú bật nhảy thật cao vào dòng thác. Ngày càng cao hơn. Nhưng con đập cao vút thế kia, chú làm sao nhảy tới?
Chép Vàng không nản, chú quay về chỗ cất thức ăn, ăn một bữa no, nghỉ một lúc rồi quay trở lại chỗ thác nước. “Mình phải nhanh lên”, chú thầm nghĩ.
Chép Vàng liên tục nhảy, hết lần này đến lần khác. Chú vừa nhảy vừa rạch thân mình như một chú cá rô, đè lên dòng nước khổng lồ đang ầm ào đổ xuống. 1000, 1001, 1002… chú thầm đếm. “Mình sẽ không bỏ cuộc đâu. Sẽ nhảy đến khi không còn hơi sức. Cùng lắm thì ta lại được gặp Chép Đen ở dưới âm kia”.
Trong đôi mắt đã mờ dần đi của chú hiện lên hình ảnh tinh nghịch thân thương của Chép Đen và lời trăng trối của bạn: “Hãy vượt thác cả phần của tớ nữa nhé”. Chép Vàng thu hết tàn lực, nhảy lên một cú thật cao…
Quả đúng là:
“Cá thần vùng vẫy vượt qua đăng, Được nước, nào ai dám rỉ răng? Cưỡi gió giương vây lên cửa Vũ, Xông mây rẽ sóng động vừng trăng, Giếc, rô ngứa vẩy khôn tìm lối, Trê, chuối theo đuôi dễ mấy thằng! Gặp hội hoá rồng nơi chót vót Đã lên, bay bổng tít bao chừng?” (1)
Ở trên Thiên đình, Đức Ngọc đế đang dõi theo chú Chép Vàng, và Ngài đã mỉm cười.
Từ trong thác nước, một chú rồng vàng cực lớn gầm vang, cuộn mình nhe nanh múa vuốt và bay vượt lên trên đập nước trước sự sững sờ của muôn loài thủy tộc. (Ảnh: Shutterstock)
Từ trong thác nước, một chú rồng vàng cực lớn gầm vang, cuộn mình nhe nanh múa vuốt và bay vượt lên trên đập nước trước sự sững sờ của muôn loài thủy tộc. Chú rồng có thân mình dài và lớn như một cây đại thụ, vàng rực như được dát những chiếc vảy vàng khổng lồ lấp lánh có hình dạng như vảy cá chép; cặp râu dài mềm tung bay oai vệ; cặp mắt sáng rực nhìn thấu cả trần gian và âm giới… cùng đôi sừng dài và bộ vuốt to lớn sắc nhọn. Bên cạnh chú rồng vàng đó là hào quang của một chú cá chép đen quấn quýt như một người hộ vệ trung thành. Cả hai song song bay thẳng lên cửa Nam Thiên nơi thượng giới.
Cửa Trời mở ra, quần tiên hoan hỉ chào đón sinh mệnh đã trở về nguồn cội.
Nguyên Phong (1): Thơ “Cá chép vượt đăng” (Lý ngư bạt hỗ) của thi hào Nguyễn Khuyến
ÔNG KEVIN MCCARTHY CÓ BÀI DIỄN VĂN ĐẦU TIÊN TRONG TƯ CÁCH CHỦ TỊCH HẠ VIỆN HOA KỲ
WASHINGTON, DC – JANUARY 07: U.S. Speaker of the House Kevin McCarthy (R-CA) is sworn-in after being elected as Speaker in the House Chamber at the U.S. Capitol Building on January 07, 2023 in Washington, DC. After four days of voting and 15 ballots McCarthy secured enough votes to become Speaker of the House for the 118th Congress. (Photo by Chip Somodevilla/Getty Images)
Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Kevin McCarthy (Cộng Hòa-California) tuyên thệ nhậm chức sau khi được bầu làm Chủ tịch Hạ viện tại Điện Capitol Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, hôm 07/01/2023. (Ảnh: Chip Somodevilla/Getty Images)
Caden Pearson – Trong bài diễn văn đầu tiên trước Quốc Hội sau khi được bầu làm Chủ tịch Hạ viện thứ 55, Dân biểu Kevin McCarthy (Cộng Hòa-California) đã cam kết buộc chính phủ Tổng thống (TT) Biden chịu trách nhiệm, khắc phục nền kinh tế, và giành chiến thắng trong cuộc chiến kinh tế với Trung Quốc.
Trong một bài diễn văn dài 20 phút, ông McCarthy đã trình bày các vấn đề chính dành cho Hạ viện do Đảng Cộng Hòa (GOP) kiểm soát tại Quốc hội khóa 118.
Các vấn đề mà ông McCarthy nhấn mạnh bao gồm việc bảo vệ biên giới phía nam, kiểm soát chi tiêu của chính phủ, giảm chi phí năng lượng, tạo công ăn việc làm được trả lương cao, mở đường cho năng lượng do Mỹ sản xuất, và chống lại sự truyền bá hệ tư tưởng “thức tỉnh” của cánh tả trong các trường học.
Về lâu dài, tân Chủ tịch Hạ viện cho biết Quốc hội cũng cần giải quyết khoản nợ ngày càng tăng của Hoa Kỳ và sự trỗi dậy của Đảng Cộng sản Tàu (ĐCST).
“Tối nay, tôi muốn nói chuyện trực tiếp với người dân Mỹ. Với tư cách là Chủ tịch Hạ viện, trách nhiệm tối cao của tôi không phải là đối với đảng của tôi, hội nghị của tôi, hay thậm chí là với Quốc hội của chúng ta. Trách nhiệm của tôi — trách nhiệm của chúng tôi — là đối với đất nước của chúng ta,” ông McCarthy nói. “Hai tháng trước, quý vị đã bỏ phiếu cho một hướng đi mới cho đất nước của chúng ta. Quý vị đã chấp nhận lời cam kết của chúng tôi đối với Mỹ quốc, và bây giờ chúng tôi sẽ giữ lời cam kết của chúng tôi đối với quý vị.”
WASHINGTON, DC – JANUARY 07: U.S. Speaker of the House Kevin McCarthy (R-CA) delivers remarks after being elected as Speaker in the House Chamber at the U.S. Capitol Building on January 07, 2023 in Washington, DC. After four days of voting and 15 ballots McCarthy secured enough votes to become Speaker of the House for the 118th Congress. (Photo by Anna Moneymaker/Getty Images)
Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Kevin McCarthy (Cộng Hòa-California) có bài diễn văn sau khi được bầu làm Chủ tịch Hạ viện tại Điện Capitol Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, hôm 07/01/2023. (Ảnh: Anna Moneymaker/Getty Images)
Kiềm chế các chính sách của tổng thống
Ông McCarthy cho biết cam kết của Hạ viện do GOP kiểm soát đối với người dân Mỹ bao gồm việc làm cho nền kinh tế vững mạnh, tạo điều kiện cho người dân được đổ đầy bình xăng của họ, được sở hữu khả năng chi trả các mặt hàng bách hóa, được chứng kiến tiền lương của họ tăng lên, và cảm thấy an toàn trong các cộng đồng của họ vì cơ quan chấp pháp được tôn trọng và tội phạm bị truy tố.
“Một cam kết cho một chính phủ biết chịu trách nhiệm. Một chính phủ nơi người Mỹ có được câu trả lời mà họ muốn, họ cần, và họ xứng đáng nhận được,”ông nói.“Hệ thống của chúng ta được dựng lập trên cơ sở kiềm chế và đối trọng. Đã đến lúc chúng tôi phải trở thành một lực lượng kiềm chế và có một số đối trọng đối với các chính sách của tổng thống.”
“Không có gì quan trọng hơn việc giúp các gia đình Mỹ có thể sống và tận hưởng cuộc sống mà họ đáng được hưởng,” ông tiếp tục. “Đó là lý do tại sao chúng tôi cam kết ngừng chi tiêu lãng phí của Hoa Thịnh Đốn, giảm giá hàng bách hóa, xăng, xe hơi, nhà ở, và ngăn nợ quốc gia gia tăng.”
Ông McCarthy cam kết cắt giảm gánh nặng pháp lý, giảm chi phí năng lượng cho các gia đình, và “tạo công ăn việc làm được trả lương cao cho người lao động bằng cách giải khai nguồn năng lượng dồi dào, đáng tin cậy do Mỹ sản xuất.”
Tân Chủ tịch Hạ viện lưu ý rằng dự luật đầu tiên của Hạ viện khi Quốc hội quay trở lại làm việc sẽ nhằm mục đích bãi bỏ khoản tài trợ cho 87,000 nhân viên Sở Thuế vụ, khi nói rằng chính phủ nên cố gắng giúp đỡ người dân, chứ không phải “truy đuổi họ.”
Các ủy ban
Hạ viện do GOP kiểm soát cũng sẽ thành lập một ủy ban lưỡng đảng đặc biệt về vấn đề Trung cộng để điều tra cách đưa trở về “hàng trăm ngàn” việc làm đã về tay Trung cộng. “Và sau đó chúng ta sẽ giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh kinh tế này,” ông McCarthy nói.
“Bây giờ khi nói đến các ủy ban, chúng ta sẽ khiến đầm lầy phải chịu trách nhiệm. Từ việc rút quân khỏi Afghanistan cho đến nguồn gốc của COVID, rồi đến việc vũ khí hóa FBI,” ông tiếp tục. “Hãy để tôi nói rõ rằng, chúng ta sẽ sử dụng sức mạnh của hầu bao và sức mạnh của trát đòi hầu tòa để hoàn thành công việc này.”
Ông nói tiếp: “Đây là điều mà tất cả chúng ta nên đồng ý: Chúng ta sẽ đứng lên và lên tiếng vì trụ cột của nền kinh tế chúng ta — những người nộp thuế cần mẫn.”
Để ghi dấu dịp này, ông McCarthy nói rằng việc ông đắc cử nhậm chức giống như một “khởi đầu mới, một xuất phát điểm mới” trước khi tuyên bố rằng Điện Capitol Hoa Kỳ một lần nữa mở cửa cho công chúng đến thăm và chứng kiến các nhà lập pháp tranh luận về luật.
“Tôi muốn gửi đến tất cả người dân Mỹ một lời mời mang tính cá nhân. Quý vị được chào đón đến chứng kiến cơ quan này làm việc. Những cánh cửa sẽ không còn đóng nữa, mà các cuộc tranh luận sẽ được mở ra để quý vị chứng kiến những gì đang diễn ra trong Hạ viện của Người dân,” ông nói.
Ông McCarthy nói rằng Quốc hội sẽ “nhiệt thành theo đuổi sự thật,” dù là trong các phòng ủy ban hay tại sàn Hạ viện. Sẽ không còn những “cuộc chất vấn đơn phương” trong Quốc hội khóa 118. Thay vào đó, ông cho biết các ý tưởng cạnh tranh sẽ được đưa ra thử nghiệm trước công chúng để những ý tưởng tốt nhất giành chiến thắng.
Ông McCarthy lưu ý thêm rằng không phải lúc nào sự thật cũng được tìm thấy ở Hoa Thịnh Đốn trước khi tuyên bố rằng một trong những phiên điều trần đầu tiên của Quốc hội sẽ được tổ chức ở biên giới phía nam.
“Không còn phải phớt lờ một cuộc khủng hoảng về an toàn và chủ quyền. Chúng ta phải bảo vệ biên giới của chúng ta. Chúng ta phải đưa Mỹ quốc trở lại đúng hướng,” ông nói.
WASHINGTON, DC – JANUARY 07: U.S. Speaker of the House Kevin McCarthy (R-CA) delivers remarks after being elected as Speaker in the House Chamber at the U.S. Capitol Building on January 07, 2023 in Washington, DC. After four days of voting and 15 ballots McCarthy secured enough votes to become Speaker of the House for the 118th Congress. (Photo by Win McNamee/Getty Images)
Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Kevin McCarthy (Cộng Hòa-California) có bài diễn văn sau khi được bầu làm Chủ tịch Hạ viện tại Điện Capitol Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, hôm 07/01/2023. (Ảnh: Win McNamee/Getty Images)
Đắc cử sau 15 cuộc bỏ phiếu
Ông McCarthy được bầu sau 15 lần bỏ phiếu bắt đầu từ hôm 03/01, trong một cuộc bầu cử rất sít sao diễn ra sau nửa đêm tại Hạ viện của Quốc hội Hoa Kỳ.
Tổng số 216 phiếu bầu của vị chủ tịch mới đắc cử này đã vượt qua số phiếu của Dân biểu Hakeem Jeffries (Dân Chủ-New York). Ông Jeffries đã nhận được toàn bộ 212 phiếu bầu của tất cả các thành viên Đảng Dân Chủ có mặt tại Hạ viện, ngoại trừ một người.
Ông McCarthy đã thắng sau khi sáu thành viên phái bảo tồn truyền thống bất đồng ý kiến phản đối ông kể từ cuộc bỏ phiếu đầu tiên đều bỏ phiếu “có mặt.” Điều đó đã làm giảm số lượng thành viên bỏ phiếu xuống còn 428, thu hẹp số phiếu cuối cùng của ông McCarthy từ 218 xuống 216.
Những lời chúc mừng đã nổ ra từ phía Đảng Cộng Hòa tại Hạ viện khi mọi việc trở nên rõ ràng rằng ông McCarthy rốt cuộc đã đắc cử Chủ tịch Hạ viện.
*
Ông Caden Pearson là một phóng viên tại Úc. Quý vị có thể liên lạc với ông tại caden.pearson@epochtimes.com.au
“Tao đi từ Nam ra Bắc tao không thấy có đứa con dâu nào như mày.”
“Con đi khắp cái gầm trời này cũng không có người mẹ chồng nào như mẹ.”
“Tao thì làm sao?”
“Thế con thì làm sao?”
“Mày chả làm sao, mày là nhất. Đi ra ruộng thì đi luôn đi. Ban ngày thì mải đi chơi, tối tắt mặt trời đổ lúa vào xay. Làm việc không khoa học chỉ có nghèo suốt đời con ạ.”
“Con nghèo thì mẹ cũng nghèo theo, nên đừng có mà trù ẻo.”
Ngày nào bọn tôi cũng được nghe “dân ca và nhạc cổ truyền” miễn phí từ hai mẹ con nhà bà cụ Thao.
Cụ năm nay tám mươi tuổi rồi, con dâu cụ thì hơn bốn mươi tuổi. Nghe đâu bảo ngày xưa cụ sức yếu, sảy mấy lần mới sinh được chú Tự. Vì là con cầu tự nên bà chiều chú lắm, từ nhỏ tới lớn muốn gì được nấy. Ngày chú Tự cưới cô Tin bà cụ cũng chẳng thích lắm, vì cô Tin học hết cấp một là nghỉ rồi. Nhưng chú Tự kiên quyết nên cụ phải cắn răng tổ chức lễ cưới. Cưới xong cô Tin sinh liền tù tì ba đứa con gái, cụ cứ bĩu môi mãi là đồ không biết đẻ.
Cụ bảo cô Tin, liệu mà sinh thêm thằng cu nối dõi, kẻo lúc bố chúng nó đi gái lại ngồi mà khóc. Con gái là con người ta. Cô Tin nghe thế bực mình bảo, “con gái là con người ta, con dâu đích thực mẹ cha mua về, thế sao mẹ không đối xử tốt với con đi, con nào chả là con, con trai mẹ có ở nhà chăm mẹ đâu, toàn thân con hầu hạ.” Bà cụ hừ một cái rõ dài rồi quay mặt vào tường, chẳng nói gì thêm.
Mỗi ngày đều nghe thấy mẹ chồng con dâu nhà cụ kẻ xướng người tùy, hay hơn cả xem kịch nói trên VTV1 mỗi tối thứ bảy. Hôm nào không thấy hai mẹ con cụ cãi nhau, là thấy xóm hiu hắt hẳn.
Có một sớm, tôi vừa cho kem đánh răng vào miệng, thấy bà cụ nhà bên hậm hực gào toáng lên:
“Tay tao bưng trầu, đầu tao đội lễ, tao rước mày về cái nhà này, chứ không phải con giun cái kiến nó tha mày về mà mày không biết lớn biết bé, đi không thưa về không gửi.”
“Mẹ ngủ ngáy o o, đấm bảy ngày chả hự, con thưa gửi kiểu gì? Mà con đi bừa chứ đi đâu mà thưa với gửi, mẹ bớt bớt cái tính cổ hủ đi.”
“A, tao cổ hủ, mày chê bà già này cổ hủ, để tao gọi chồng mày về xem nó có cho mày một trận không, mày dám chê mẹ nó à?!”
“Mẹ đi mà gọi, con chả ngán. Mẹ chửi xong rồi thì ra ăn bánh quấn đi không nguội.”
“Tao không ăn.”
“Không ăn tận trưa mới có cơm đấy, lát bọn trẻ về nó ăn hết lại chả kêu. Bà Tư bún làm riêng cho mẹ đấy.”
“Hừ, cái con mụ Tư bún chỉ khéo mồm, bán thì đắt, mày chỉ khéo vẽ vời tốn tiền.”
“Thế mẹ có ăn không?”
“Chả ăn thì sao?”
“…”
Tôi cười nuốt cả kem đánh răng.
Cả làng tôi đều biết bà cụ Thao là địa chủ hết thời, ai cũng sợ cụ. Ngày cụ còn trẻ còn khỏe, đanh đá nhất làng, chẳng ai dám động đến cụ. Thế mà không hiểu sao cô Tin chịu được những gần hai mươi năm. Nghe đâu ngày cô Tin mới về làm dâu, làm bà cụ tăng huyết áp mấy lần, cụ còn dọa thắt cổ tự tử. Thế là cô cắt ngay cái màn tuyn, nối thành cái dây dài treo thòng lòng từ nóc nhà xuống, rồi bảo cụ leo lên. Cụ tức quá chửi ầm lên, nói cô muốn giết cụ. Cô phì cười bảo là cụ tự muốn chết, nếu không muốn chết thì xuống bếp ăn cháo cá đi không nguội nó tanh. Cụ chọn cháo cá. Vừa ăn vừa hừ, hừ, hừ.
Chú Tự đi làm xây dựng mãi dưới Quảng Ninh, một năm chẳng về được mấy lần. Bà cụ tuổi già hay ốm, hay nũng, hay giận. Chỉ có cô Tin mới trị được cụ. Mỗi lần hàng xóm nói cô khổ, vớ được mẹ chồng ghê gớm, cô cười hi ha, “người già với trẻ con là một, dỗ dành một tí là ngoan như bống ấy mà.” Ban đầu mọi người nghĩ cô khôn khéo ý tứ, cho là cô ba phải, sau rồi phát hiện ra cô chẳng bao giờ đi nói xấu mẹ chồng ở bất cứ đâu. Thành ra mỗi ngày thấy mẹ con cô “hát tuồng”, ai cũng dỏng tai lên nghe rồi đem đi buôn bán trong những vụ dưa lê ngoài ruộng. Mà bà cụ gắt gỏng là thế, nhưng đi đâu cũng một câu con Tin nhà tôi, hai câu con Tin nhà tôi. Sau hàng xóm cũng quen, lại nghĩ chắc cô Tin và bà cụ kiếp trước là nghiệt duyên, kiếp này phải trả nợ, cả đời dính vào nhau.
Hàng ngày hai người tranh chấp toàn chuyện lông gà vỏ tỏi. Từ việc hát ru con tới việc tắm cho lợn, mà cuối cùng toàn bà cụ thua. Vừa ăn vừa thua, vừa phơi lưng cho con dâu bóp thuốc vừa lầm bầm chửi biết thế ngày xưa tao ép thằng Tự lấy đứa nhiều chữ hơn. Học nhiều nó mới ngoan. Cô Tin cười ha hả, làm gì có ai nhiều chữ bằng mẹ, văn thơ mẹ cả cái chuồng trâu nhà mình chứa không hết.
“Cha tiên sư bố mày…”
Một hôm, cô Tin cuống lên đi tìm bà cụ. Chả là không biết bà cụ nghe ai nói chú Tự có bồ. Thế là cụ bỏ ăn, nằm liệt hai ngày. Cô Tin gọi chú Tự về gấp, chú bảo bận chưa về được. Sáng hôm sau cô đi chợ, về thì không thấy cụ đâu. Cô tìm nhà trên xóm dưới, rồi hoảng hốt chạy ra ao, ra giếng, không thấy bóng người. Cô cuống lên gọi điện thoại, “mẹ anh chết rồi anh có về không hả? Không thấy mẹ anh đâu, anh về ngay còn kịp tìm xác.”
Chú Tự về nhanh như một cơn gió, bốn giờ chiều đã có mặt ở nhà, hàng xóm hỗ trợ tìm cụ từ trưa không nghỉ. Thấy chú về cô khóc toáng lên, đánh chú thùm thụp, miệng liên tục sao giờ anh mới về, không thấy mẹ đâu cả, không thấy mẹ đâu cả. Thiu hết cả bánh giò rồi.
“Mới có từ trưa thiu thế nào được?”
Cả nhà: “…”
Không biết cụ chui từ đâu ra, cả người lấm lem. Cô Tin nín bặt cả khóc. Cả xóm trắng mắt. Ai nấy đều thở phào. Chưa kịp phào xong thì cụ ngã lăn quay ra đất, mọi người lại tán loạn đưa cụ đi trạm xá cấp cứu. Bác sĩ bảo cụ bị tụt huyết áp do quá đói. Rồi bác sĩ nguýt cô Tin một cái rõ dài, “đúng là một mẹ nuôi được mười con chứ mười con không nuôi nổi một mẹ.”
Cô Tin: “…”
Truyền được nửa chai đường thì bà cụ tỉnh lại, thấy con dâu khóc thút thít cụ xì mặt ra: “mày định khóc bây giờ cho đủ để lúc tao chết mày không khóc nữa phải không?”
Cô Tin: “…”
“Bánh giò có mang theo không?”
Cô Tin: “…”
“Biết ngay mà, chỉ có giả bộ thảo hiền là giỏi.”
Chú Tự, cô Tin: “…”
Có mẹ chồng giỏi ăn nói nó khổ thế đấy.
Cô hỏi cụ, mẹ trốn ở đâu cả ngày mà tìm mãi không thấy. Bà cụ hừ một cái, trốn trên cái hố mối bãi chè sau nhà chứ đâu. Mày cứ động tí là đầu óc lú lẫn, bã đậu.
“…”
Trưa hôm sau bà cụ được về nhà. Sau khi ăn xong bát cháo gà tần thuốc bắc, cụ gõ cái gậy xuống đất, bắt chú Tự quỳ xuống trước bàn thờ ông cụ Thao. Chưa kịp nói gì cụ đã phang túi bụi.
“Con chó có đuôi, con người có ý thức. Vợ anh ở nhà bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, để anh ra ngoài ăn chơi đàng điếm hả?”
“Con không có.”
“Tôi quản anh có hay không hả? Tôi là tôi biết hết, anh chê tôi già mắt kém anh định qua mặt tôi phỏng? Đường đường là thằng đàn ông, văn chương chữ nghĩa bề bề, thần l… nó ám thì mê mặc lòng. Tôi nói anh biết, nhà tôi chỉ có mình con Tin được có tên trong gia phả. Mấy con yêu tinh quạ cái kia đừng hòng bước chân vào. Anh khôn hồn thì biết đường mà về nhà hối lỗi với vợ con. Tôi chỉ có ba đứa cháu, tôi không cần cháu trai, anh thích đi kiếm con hoang con ở thì cút khỏi cái nhà này. Hừ, hừ, hừ.”
Sợ bà cụ tăng huyết áp, cô Tin đuổi chú ra nhà ngoài, tối đó cô ngủ cùng bà. Sáng hôm sau cô bảo chú: “mẹ bảo tay mẹ bưng trầu đầu mẹ đội lễ mẹ rước tôi về, nên nhà này của tôi. Anh cứ chọn đi, bà cụ chả sống được mấy nữa, bà chỉ có mình anh, anh sống sao thì sống.”
Nửa tháng sau người ta thấy chú Tự xách ba lô về, sau đó đi theo mấy ông thợ cả ở làng nhận mấy công trình nhà văn hoa thôn bản.
Còn bà cụ và cô Tin ở nhà vẫn cất bài ca đi cùng năm tháng.
“Thế gian được vợ hỏng chồng. Nhà mày thì hỏng cả ông lẫn bà.”
“Không phải đều là con mẹ à?”
“Tao mà đẻ ra cái loại chúng bay à?”
“Thế chồng con chui ra từ cái lỗ nẻ nào?”
“Cái loại rạch giời rơi xuống chứ sao.”
“Rồi rồi, con thần con thánh, sét đánh không chết. Mẹ ngồi im con kỳ lưng, trơn là ngã gãy cổ bây giờ.”
Ông M ngoài 80, vợ chết đã 10 năm còn bà N đã qua một lần đò, ngoài 70. Hai người cô đơn trong hai căn nhà vắng đôi. Họ là đôi bạn trên sàn khiêu vũ của hội Người cao tuổi quận H đã 3 năm. Tâm đầu ý hợp, hai người có ý định dọn về chung nhà, chung nồi, chung mọi thứ…
Bà có người em gái sống cách nhà bà 100 mét. Nhà ông cách nhà con trai 5 căn. Ông hỏi ý kiến con trai, con dâu; bà thăm dò ý kiến em gái, em rể.
Sau 3 ngày các con ông, các em bà không bàn mà có ý kiến giống nhau: Ông bà đang cô đơn tình cảm lứa đôi, nói theo luật pháp là đang không vợ, không chồng đến với nhau là chính đáng. Chỉ hiềm tuổi ông bà đã cao, sức đã xuống. Ý kiến là: Ông bà cứ đi khiêu vũ thường xuyên, đi lại như người một nhà; con ông, em bà tổ chức ăn uống mời cả bà, cả ông cùng vui. Ông bà cứ đến với nhau khi cần. Coi nhau là tình nhân chứ không là vợ chồng. Chẳng có câu “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, hay “ Tình yêu thú vị hơn hôn nhân”…. đó sao.
Ông bà đồng ý.
Các con ông và các em bà tổ chức một bữa ăn thân mật bốn nhà, họ cùng vui vẻ nâng chén mừng cho ông bà.
Từ hôm đó mọi người thấy ông bà dắt tay nhau đi khiêu vũ, đi ăn sáng, đi chợ, đi chơi. Lúc thì ông đến nhà bà, khi thì bà đến nhà ông. Họ chào ông bà, ông bà vui vẻ chào lại. Hai người ở hai nhà mà hạnh phúc.
Sáng hôm ấy người ta nhìn thấy ông bà chở nhau đi ăn sáng.
Một người nói: “Nhìn kìa…”
Người khác nói: “Già rồi mà còn rửng mỡ”
Lại người nữa: “Chẳng biết tháng có được một cái không”
Người nữa: “Sống được bao nhiêu nữa mà…”
Đúng là miệng thiên hạ.
Họ có gì phạm pháp không? Không! Trai không vợ, gái không chồng đang yêu nhau. Chiểu theo “Luật Tình yêu”. Làm gì có “Luật Tình yêu”.
Hai trái tim đang cô đơn đến với nhau, yêu nhau thắm thiết, lúc cần đến với nhau, chẳng có luật nào cấm, cũng chẳng có luật nào cấm họ không được sex. Với họ sex là tự do, thích thì sex. Vâng họ không sống được bao lâu nữa, nhưng họ yêu cuộc sống. Họ là con người, ngoài sex ra họ còn bao nhiêu thứ cần có nhau: Tình cảm, tâm tình, nụ cười, ánh mắt,…
Xin các vị hãy nhìn đời với ánh mắt nhân văn, đừng khắt khe với người, hãy khắt khe với mình, hãy đặt mình vào hoàn cảnh của họ.
Thông tin bệnh nhân AIDS chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói:
– “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây nhiễm?”
Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối :
– “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?”.
Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại tôi – một y tá vừa tốt nghiệp ba tháng, nơm nớp lo sợ bước vào căn phòng.
Vừa vào tới phòng, người mẹ sắp sinh mỉm cười với tôi. Tôi cứ nghĩ rằng những phụ nữ mắc loại bệnh này hẳn sẽ phấn son trang điểm lòe loẹt. Nhưng không phải vậy, cô cũng như những người phụ nữ bình thường khác, khuôn mặt hiền từ, mái tóc dài ngang vai, chân đi đôi giày búp bê…
“Cảm ơn cô!”
Một giọng nói trong veo và nhẹ nhàng, cô là một phụ nữ bình thường nhưng lại mắc căn bệnh không hề bình thường chút nào.
Thì ra người mẹ trẻ tại giường số 13 này là một cô giáo trung học phổ thông. Một hôm trên đường từ trường về nhà, cô bị tai nạn xe hơi. Vì mất quá nhiều máu nên cô phải truyền máu gấp và không may bị nhiễm HIV.
Đến tận khi cô đi khám thai, bác sĩ mới phát hiện cô đã mắc phải căn bệnh thế kỷ. Cuộc đời cô đã bước sang một ngã rẽ mới, ảm đạm và mờ mịt với kết cục buồn phía trước.
Đáng thương nhất là đứa bé trong bụng, nguy cơ bị lây nhiễm cũng rất cao, xác suất không dưới 20% đến 40%. Người mẹ không còn hệ thống miễn dịch, vì thế các biến chứng trong quá trình sinh là vô cùng nguy hiểm.
Khi chồng cô đến đã khiến cho cả khoa một phen kinh ngạc. Chồng của một phụ nữ bị AIDS thì trông thế nào nhỉ? Khác xa với tưởng tượng của chúng tôi, chồng cô là một nhân viên văn phòng giỏi máy tính, đeo kính cận, cao ráo, lịch sự, và có phong thái rất đĩnh đạc.
– “Anh à, anh đoán xem con chúng ta sẽ giống em hay giống anh hơn?”
Tôi đang trải ga giường, nghe thấy những câu nói nhỏ nhẹ nỉ non của đôi vợ chồng trẻ thì sống mũi cay cay, nước mắt bắt đầu rơm rớm. Thì ra họ là một gia đình hạnh phúc.
– “Tất nhiên là giống anh rồi, nếu là con gái thì mới giống em chứ!”
Cô vợ nghe vậy còn phụng phịu làm nũng ra điều không chịu.
Khi tôi bước ra khỏi phòng bệnh, nước mắt tôi chảy dài, trái tim tôi chua xót vô cùng.
Hàng ngày cô ấy phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát lượng virus HIV, hầu như ngày nào cũng phải lấy máu và truyền dịch. Hai cánh tay đầy đặn, nõn nà nay đã chi chít những vết kim tiêm.
Tôi là y tá mới ra trường, vốn sống còn ít ỏi lại khá “nhát gan”. Nhất là những lúc lấy máu, tôi vẫn thường làm cô ấy đau đến chảy nước mắt, nhưng cô chưa bao giờ nổi cáu với tôi, chỉ âm thầm cắn răng chịu đựng, thỉnh thoảng còn mỉm cười nói “không sao”.
Chỉ vài ngày sau khi cô nhập viện, tôi dần dần rất thích cô ấy.
Tuy còn vài ngày nữa mới đến ngày sinh, nhưng cả khoa đã chuẩn bị sẵn sàng.
Cô năm nay đã 31 tuổi lại mang trong mình căn bệnh AIDS, nên bệnh viện cả trên lẫn dưới đều trong trạng thái đề phòng cao độ. Nhưng bản thân cô lại rất bình tĩnh, hàng ngày đều đọc sách và nghe nhạc, còn viết thư tình hoặc vẽ tranh tặng con yêu.
Một hôm tôi đánh bạo hỏi:
– “Tại sao cô lại sinh đứa bé ra, rằng cô có biết nguy cơ lây nhiễm là rất cao?”
Cô vừa mỉm cười vừa trả lời tôi:
– “Con tôi đã đến với tôi, đó là duyên nợ, hơn nữa tôi không có quyền cướp đi sinh mệnh của bất kì ai.”
Tôi do dự, nhưng vẫn quyết định hỏi:
– “Nếu cháu bị nhiễm HIV thì sao?”
Cô ấy im lặng một lúc, sau đó tiếp tục nói:
– “Nếu không thử thì con tôi sẽ không có cơ hội sống nào.”
Tâm trạng tôi vừa buồn vừa xót xa, không khí trong căn phòng trở nên ngột ngạt. Khi tôi chuẩn bị ra ngoài, cô đã nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, đôi mắt rưng rưng và nói:
– “Tôi muốn nhờ cô một việc, khi tôi sinh con dù có xảy ra chuyện gì, chồng tôi nhất định sẽ cứu lấy tôi. Nhưng tình trạng của tôi cô cũng biết rồi đó, vì thế nếu thực sự xảy ra chuyện xấu, xin hãy cứu lấy con tôi.”
Tôi cảm động ôm cô và khóc, cô đúng là một người mẹ thực sự.
Dưới ánh đèn huỳnh quang nhạt màu, cô nằm yên lặng trên bàn mổ, thân dưới không ngừng chảy máu, nước ối vẩn đục đã ộc ra. Điều này có nghĩa là thai nhi đang lâm vào tình trạng nguy hiểm vì thiếu oxy.
Thể chất của cô vô cùng đặc thù, không hề có phản ứng với thuốc tê, chỉ có thể chọn mổ sống để lấy thai nhi ra và chấp nhận hy sinh người mẹ. Hai là tiêm thuốc gây mê, nhưng đợi khi thuốc có tác dụng thì em bé trong bụng đã bị ngạt thở hoặc bị sốc vì liều gây mê quá cao, nhưng chỉ như vậy mới có hy vọng cứu được người mẹ.
Cả hai trường hợp đều khiến bệnh viện và gia đình lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.
Cô nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như van nài, giọng nói yếu ớt nhưng rất kiên quyết:
– “Cứu lấy con tôi, nhanh cứu lấy con tôi, không cần phải quan tâm đến tôi…!”
Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái nhìn tuyệt vọng đến vậy, trong một căn phòng cũng tuyệt vọng như thế. Một người phụ nữ không thể gây tê, cũng không thể gây mê khi mổ đẻ, bao nhiêu bác sĩ đứng đó đều bất lực.
Con dao phẫu thuật nhanh chóng được đưa xuống bụng dưới, lớp da, lớp mỡ, lớp cơ, niêm mạc rồi tử cung… Người mẹ co giật từng cơn, toàn thân giãy giụa, quằn quại, mắt trợn ngược, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn, miệng cắn chặt chiếc khăn trắng và rên lên từng cơn xé lòng.
Tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến những giọt nước mắt của cô rơi xuống lã chã. Và tôi biết, đó không chỉ là đau đớn mà còn là tình yêu của người mẹ.
Đến tận hôm nay tôi mới hiểu vì sao làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bởi mỗi đứa con chào đời là biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu nhọc nhằn, thậm chí là hy sinh cả tính mạng của mẹ.
Cuối cùng, thai nhi đỏ hỏn cũng được đưa ra và khóc lên tiếng khóc yếu ớt đầu đời. Người mẹ vừa ngất lịm đi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của con nên cô cố gắng hé mở đôi mắt liếc nhìn về phía con yêu, nhưng rồi mí mắt sưng húp nặng trịch lại vội vã cụp lại.
Tôi vội vàng tháo đai cố định ở chân và tay cho cô, vì gồng mình vật lộn với cơn đau, cổ tay cổ chân cô đều rớm máu. Hai mắt tôi đẫm lệ, trái tim tôi cũng như thắt lại…
Thật khó để tin rằng đây là một người mẹ AIDS, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy con trai của mình. Đôi mắt cô nhắm lại và sẽ không bao giờ còn mở ra được nữa. Cô bị nhiễm trùng nặng và không thể cầm được máu nên đã mãi mãi ra đi.
May mắn là em bé âm tính với virus HIV. Tôi tin rằng ở trên cao kia, cô cũng đang mỉm cười mãn nguyện.
Khi làm vệ sinh phòng bệnh, tôi đã tìm thấy một lá thư dưới gối của cô, bên trong còn vẽ một bức tranh ông mặt trời, bên dưới mặt trời là một đôi tay nhỏ. Cô viết cho con trai rằng:
– “Con yêu, cuộc sống giống như mặt trời, hôm nay lặn xuống ngày mai nhất định sẽ lại lên.”
Tôi không thể ngăn những giọt nước mắt, cuộc sống thật quá mong manh và cũng thật mạnh mẽ. Người mẹ nào mà chẳng thương con? Vậy cớ sao chúng ta lại phải phân biệt đối xử?
Cuối cùng tôi đã hiểu, cô cũng như những người mẹ bình thường khác, dũng cảm để giành lấy sự sống cho con.
Khi đứa bé được xuất viện, cháu nằm yên bình trong vòng tay cha. Ban đầu đứa trẻ khóc rất to, giống như biết mẹ nó sẽ không bao giờ còn quay về nữa. Nhưng nó chợt ngừng khóc khi tôi đặt bức thư lên ngực. Dường như trong lòng bé cũng đang mỉm cười khi nhận lấy cuộc sống vĩnh cửu này.
Mai này lớn lên em sẽ biết rằng, mẹ của em là người mẹ vĩ đại nhất trên đời.
Buổi chiều ngày 24 tháng 12 năm 2004, Wendy, cô sinh viên năm thứ hai đại học Dược khoa đang đứng đợi chuyến xe lửa dưới subway của thành phố New York để trở về nhà. Tất cả các anh chị em của cô đều hẹn là sẽ về nhà trước 7 giờ tối để đoàn tụ trong buổi cơm chiều thân mật cùng cha mẹ theo truyền thống của gia đình họ Bỗng Wendy để ý đến một cặp nam nữ đứng cách cô vài bước, họ đang ra dấu bằng tay để “nói chuyện” với nhau. Wendy hiểu được thuật ngữ ra dấu bằng tay, vì trong những năm đầu đại học cô đã tình nguyện làm việc trong trường tiểu học dành cho người khuyết tật, nên cô đã học được cách ra dấu tay để trò truyện với những người câm điếc. Vốn tính ham học hỏi, Wendy đã khá thông thạo thuật ngữ này. Nhìn vào cách ra dấu của hai người khuyết tật ở trạm subway, Wendy đã “nghe lóm” được câu chuyện của hai người. Thì ra, cô gái câm hỏi thăm đường đến một nơi nào đó, nhưng chàng thanh niên câm thì “trả lời” là anh không biết nơi chốn đó. Wendy rất thông thạo đường xá trong khu vực nầy nên cô mạnh dạn đứng ra chỉ dẫn cho cô gái. Dĩ nhiên cả ba đều dùng cách ra dấu bằng tay để “nói” trong câu chuyện của họ. Khi xe lửa đến trạm thì Wendy và hai người bạn mới quen đã kịp thời trao đổi emails cho nhau. Những ngày sau đó, ba người tiếp tục trò chuyện dùng phương tiện nhắn tin của mobile phone rồi dần dà họ trở thành bạn thần giao cách cảm với nhau. Chàng trai kia tên là Jack và cô gái tên là Debbie. Jack cho biết anh đang làm việc cho một hãng xuất nhập khẩu và ở cách nhà Wendy không xa lắm. Từ những tin nhắn, emails thăm hỏi xã giao lúc đầu, cả hai trở thành bạn thân lúc nào không hay. Đôi khi Jack đến trường đón và mời cô đi ăn. Cả hai thích khung cảnh êm đềm trong Central Park nên thường yên lặng đi bên nhau trong những giờ phút nghĩ ngơi. Tuy phải ra dấu để trò chuyện nhưng Wendy không cảm thấy bất tiện mà cô lại có dịp trau dồi “thủ thuật” để nghệ thuật ra dấu của cô càng lúc càng tinh xảo hơn. Đến mùa thu năm đó thì hai người đã thân thiết như một cặp tình nhân. Wendy đã quên hẳn Jack là một người khuyết tật, cho nên lần đầu tiên khi Jack ra dấu “I Love You” thì Wendy đã nhẹ nhàng ngả đầu vào vai anh. Sau những giờ học, thỉnh thoảng Wendy cũng vào chatroom đấu láo với bạn bè, mỗi khi Wendy đặt câu hỏi “Bạn có thể fall in love với một người câm điếc hay không?” thì hình như không có bạn bè nào của cô có được câu trả lời dứt khoát. Điều này đã khiến cho Wendy bị dày vò không ít. Vào dịp lễ Thanksgiving năm đó, Jack tặng cho Wendy một bó hoa hồng kèm theo câu ra dấu: “Wendy có chịu làm girl friend của mình không?” Wendy vừa vui mừng vừa kinh ngạc nhưng sau đó là những sự mâu thuẫn khổ sở trong nội tâm. Wendy biết rõ là cô sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của những người thân. Quả nhiên cha mẹ cô khi biết rõ sự việc đã dùng đủ mọi phương thức để mong lôi kéo đứa con gái “lầm đường lạc lối” trở về. Thôi thì hết chú bác, cô dì, lại đến các anh chị em, bạn học, được cha mẹ có vận động tới để làm thuyết khách. Đứng trước áp lực này, Wendy chỉ có thể phân trần với gia đình về nhân cách cao cả của Jack, cô còn cho mọi người biết là thái độ lạc quan, đầu óc thực tế, tích cực của anh đã khiến cô cảm thấy gần gũi hơn những bạn trai mà cô đã từng quen biết trước đây. Gia đình sau khi nghe cô giải bày đã không còn quá khắt khe phê bình, mọi người dự định là sẽ gặp mặt Jack trước rồi mới có thể đánh giá cuộc tình của hai người. Cả nhà đồng ý là sẽ gặp mặt Jack vào trưa ngày 25 tháng 12 sau khi mọi người đã hưởng một “đêm yên bình” cho tâm tư lắng đọng. Wendy đã có quyết định trong đầu, nếu như cha mẹ, anh chị của cô có những cử chỉ, hành động khinh miệt Jack thì cô và Jack sẽ đi đến nhà thờ để nhờ sự gia ơn và chúc lành của Thiên chúa. Trên đường dẫn Jack đến nhà, tâm trạng hồi hộp của của Wendy đã không thoát khỏi cặp mắt quan sát của Jack, anh mỉm cười ra dấu cho cô: – Wendy yên tâm, bảo đảm với em là cha mẹ em sẽ hài lòng. Anh cho họ biết là anh sẽ thương yêu em, chăm sóc em suốt đời. Đó là lần đầu tiên trong đời cô sinh viên trường thuốc rơi rớt những giọt lệ cảm động. Vừa vào đến nhà, Wendy nắm tay Jack đi đến trước mặt cha mẹ, cô nói: – Thưa ba má, đây là Jack, bạn trai mà còn thường nhắc đến. Câu nói của cô vừa thốt ra thì tất cả những hộp kẹo bánh, hoa tươi trên tay Jack tức thời lộp độp rơi xuống đất, anh nhào tới ôm lấy cô vào vòng tay khỏe mạnh của anh. Một điều mà Wendy không thể ngờ được là cô bổng nghe một giọng nói thảng thốt phát ra từ cửa miệng của Jack: – Trời đất, em biết nói à? Đó cũng chính là câu mà Wendy muốn hỏi Jack. Mọi người ngoại cuộc đều ngẩn ngơ ngạc nhiên trong khi hai người trong cuộc thì ôm nhau cười, nói, la, hét, nhảy nhót như điên dại. Thì ra Jack cứ ngỡ Wendy là một cô gái câm thế mà anh vẫn sinh lòng quyến luyến mà còn muốn tiếp tục đi đến hôn nhân. Wendy cũng tự hào có quyết định sáng suốt vì đã chọn được người tình trong mộng tuyệt vời nhất thế gian. Thượng Đế của chúng ta đang ngự ở trên cao, hình như ngài cũng đang che miệng cười cho trò đùa mà ngài đã đạo diễn suốt một năm qua.
Trong những câu chuyện kể hay tác phẩm văn chương tuyệt tác từ Đông sang Tây, các tác phẩm trữ tình vẫn có một chỗ đứng đặc biệt trong lòng người đọc. Những chuyện như Trọng Thuỷ – Mỵ Châu, Trương Chi – Mỵ Nương, Romeo – Juliet, Scarlett O’Hara – Rhett Butler (trong truyện “Gone with the wind – Cuốn theo chiều gió), … nếu đọc qua một lần thì rất khó quên. Có lẽ vì thế mà tiểu thuyết, thơ, nhạc đời nay cũng xoay quanh những truyện tình bi thương, nhắm vào thị hiếu của đọc giả.
Những ai đã từng đọc truyện hay xem phim kiếm hiệp của Kim Dung đều có thể nhận ra luôn luôn có những câu chuyện tình bi thương, cũng như hoàn hảo. Trong đó, nhân vật nữ là những người si tình nổi bật với sự chung thuỷ và hy sinh tuyệt đối cho tình yêu. Trong khi đó, những kẻ gian xảo, độc ác, tham lam, đại đa số là phái nam. Sự phân biệt này, có lẽ, để phá bỏ quan niệm cổ xưa của Trung Hoa, vẫn “trọng Nam, khinh Nữ.”
Phải nói rằng Kim Dung là nhà viết tiểu thuyết tài ba, thông thạo tâm lý con người cũng như biết qua tất cả các bộ môn cầm, kỳ, thi, hoạ. Thế cho nên trong truyện của ông thường có những nhân vật tài hoa không những giỏi về võ nghệ mà còn thông thạo về nghệ thuật. Thông thường đọc tên nhân vật, chúng ta cũng có thể hình dung ra diện mạo và tài năng của nhân vật đó. Tuy nhiên tính tình thì lại là một điều rất khác, bởi vì “mấy ai lấy thước mà đo lòng người?” rất nhiều trường hợp thiện và ác rất khó nhận ra, nhiều khi phải chờ cho đến hồi kết cuộc.
Trong chuyện Thần Điêu Hiệp Lữ, Kim Dung có mô tả một nhân vật nữ tên là Lý Mạc Sầu. Chữ “Sầu” thì chắc không cần giải thích, nhưng chữ “Mạc” thì có nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là “bao la”, “rộng lớn”, thí dụ như “sa mạc” có nghĩa là bãi cát (sa) rộng lớn (mạc). Như thế hiển nhiên bà này là người “sầu khổ vô cùng”. Bà là một người rất sinh đẹp và tài giỏi, hy sinh vì tình yêu nhưng lại bị phụ tình, để rồi trở nên một đạo cô rất tàn ác. Nổi tiếng “chưa thấy người đã nghe tiếng hát”, vì mỗi lần xuất hiện thường hát bài “Mô Ngư Nhi – Nhạn Khâu” (1) của Nguyên Hiếu Vấn: “Vấn thế gian tình thị hà vật?” (“Hỏi thế gian tình là gì?”). Đây là một bài từ, một thể thơ gắn liền với âm nhạc, bắt đầu từ thời nhà Đường, thế kỷ thứ nhất. Trong truyện, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi. Cá nhân chúng tôi rất đồng ý với ông Kim Dung, vì chỉ nửa phần đầu của bài từ là nói về tình yêu. Tuy nhiên, quý vị có thể có ý kiến khác sau khi đọc hết bài từ và bản dịch qua Việt ngữ.
Truyện kể rằng:
Năm Ất Sửu, niên hiệu Thái Hoà thứ năm (1265), lúc 16 tuổi, tới Tinh Châu để đi thi, trên đường gặp người bắt nhạn nói: “Hôm nay bắt được một con nhạn, đem giết nó. Con thoát khỏi lưới kêu gào thảm thiết không chịu bay đi, cuối cùng lao xuống đất mà chết.” Tôi (Hiếu Vấn) bèn mua lấy, đem chôn trên bờ sông Phần, đắp đá thành ngôi mộ, gọi là “Mồ chim nhạn.” Khi đó nhiều người đi cùng đã làm thơ, tôi cũng làm bài “Nhạn Khâu Từ – Ca Khúc Mồ Chim Nhạn”. Bài cũ đó không theo nhạc điệu, nay sửa lại (để hát theo điệu “Mô Ngư Nhi”). (2)
Trong truyện của Kim Dung thì khi đoàn người đến Đoạn Trường Nhai (vực sâu đứt ruột) để tìm Dương Quá, khi đó đã nhảy xuống vực để tự tử vì cho rằng Tiểu Long Nữ đã chết. Quách Tương, con gái út của Quách Tĩnh và Hoàng Dung, tuy mới 16 tuổi nhưng rất yêu thương Dương Quá, cũng nhảy xuống theo. (Sau này, khi Dương Quá và Tiểu Long Nữ nên nghĩa vợ chồng và mai danh ẩn tích ở Cổ Mộ, vợ chồng Quách Tĩnh – Hoàng Dung tử trận ở thành Tương Dương, thì Quách Tương cầm thanh Ỷ Thiên Kiếm lên núi Nga Mi tu, và lập nên môn phái Nga Mi). Tại Đoạn Trường Nhai, Chu Bá Thông và vợ là Anh Cô đánh nhau với Kim Luân Pháp Vương. Khi Hoàng Dung sai hai con chim điêu trắng đến giúp, thì con trống bị Kim Luân Pháp Vương dùng chưởng đánh chết; con chim mái, sau đó, cũng lao đầu vào vách đá chết theo. Khi đó Lục Vô Song, một trong những người con gái yêu thương Dương Quá, cũng than thở bằng hai câu đầu của bài từ:
Vấn thế gian tình thị hà vật,
Trực giao sinh tử tương hứa?
Dịch thơ:
Hỏi thế gian tình là gì,
Mà lời sống chết nguyện thề bên nhau?
Trong một Nhân Duyên, tôi được xem phim truyện Thần Điêu Hiệp Lữ qua YouTube và đọc được bài từ Mô Ngư Nhi – Nhạn Khâu, đồng thời nghe được bài hát này bằng Hoa ngữ trên YouTube, mang tên là “Hỏi Thế Gian Tình Là Gì” (3).
Nhân đây, tôi xin gửi tới quý vị nguyên văn bài từ và bản dịch thơ qua Việt ngữ the thể Lục-Bát, dưới tựa đề “Tình Là Gì?”. Mời quý vị thưởng lãm.
Vấn thế gian tình thị hà vật,
Trực giao sinh tử tương hứa?
Thiên nam địa bắc song phi khách,
Lão sí kỷ hồi hàn thử.
Hoan lạc thú,
Ly biệt khổ,
Tựu trung cánh hữu si nhi nữ.
Quân ưng hữu ngữ,
Diểu vạn lý tằng vân.
Thiên sơn mộ tuyết,
Chích ảnh hướng thuỳ khứ?
Hoành Phần lộ,
Tịch mịch đương niên tiêu cổ,
Hoang yên y cựu bình sở.
“Chiêu hồn” Sở ta hà ta cập,
“Sơn quỷ” ám đề phong vũ.
Thiên dã đố,
Vị tín dữ,
Oanh nhi yến tử câu hoàng thổ.
Thiên sầu vạn cổ,
Vi lưu đãi tao nhân.
Cuồng ca thống ẩm,
Lai phỏng nhạn khâu xứ.
Dịch nghĩa:
Hỏi thế gian, tình là gì,
Mà khiến hẹn thế sống chết bên nhau?
Dù trời nam hay đất bắc vẫn luôn sát cánh bên nhau,
Đã trải qua biết bao lúc cùng nhau ấm lạnh.
Niềm vui khi hoan lạc,
Nỗi khổ lúc chia lìa,
Chung quy đều chỉ vì si tình người nữ
Lời người phải nói ra đi,
Nhưng đã xa mịt mù trên tầng mây vạn dặm (tức đã chết).
(Từ nay) ngàn núi tuyết,
Bóng lẻ này biết về đâu cùng ai?
Trên dải sông Phần,
Im lặng, không còn tiếng trống rộn rã năm xưa
Khói hoang như thời chinh chiến cũ.
Bài “Chiêu hồn” cất lên đâu còn kịp,
Khúc “Sơn quỷ” cũng ảm đạm trong mưa gió.
Trời cũng biết ghen tị,
Há vẫn còn chưa tin ư,
Đôi kẻ yến oanh rồi cũng trở thành nấm đất.
Ngàn mối sầu đành để lưu truyền tới vạn đời sau,
Để đối đãi những tao nhân mặc khách.
(Sẽ có người) hát trong điên cuồng, uống rượu trong đau khổ,
Tới tìm thăm lại nấm mộ chim nhạn này.
Tình Là Gì?
Hỏi thế gian tình là gì,
Mà lời sống chết nguyện thề bên nhau?
Trời nam đất bắc thẳm sâu,
Bên vai sánh bước cùng nhau chung đường.
Như chim liền cánh yêu thương,
Đông sang hè đến dặm trường cũng cam.
Bao lần hè đến đông sang,
Có còn xoải cánh bay ngang giữa trời?
Muốn vui bên nhau một đời,
Khổ đau khi phải nói lời biệt ly.
Cũng là thục nữ tình si,
Lời chàng theo gió đã về ngàn xa.
Tuyết rơi đỉnh núi chiều tà,
Tình người lẻ bóng biết là về đâu?
Đi ngang qua bến sông sâu,
Tịch liêu nhớ tiếng trống đâu nơi nào.
Khói thời chinh chiến năm nao,
“Chiêu Hồn Tử Sĩ” nay sao cho vừa?
Bài ca “Quỷ Núi” trong mưa,
Trời cao kia cũng chẳng vừa hờn ghen.
Làm sao giữ được lòng tin,
Yến Oanh rồi cũng nằm im dưới mồ.
Còn lưu lại với người thơ,
Mối sầu vạn cổ đến giờ chưa tan.
“Cuồng Ca” một khúc ngân vang,
Rượu sầu bao chén uống tràn canh thâu.
Cũng chưa vơi bớt niềm đau,
Mồ chim nhạn đó biết đâu mà tìm?
Bùi Phạm Thành
Ngày 15 tháng 12 năm 2022
Chú thích:
(1) Mô Ngư Nhi – Tên một điệu hát. Tương tự như cổ nhạc của miền nam Việt Nam có các điệu như Vọng Cổ, Nam Ai, Nam Xuân, Phụng Hoàng, Kim Tiền Bản, … Như thế “Mô Ngư Nhi – Nhạn Khâu” có nghĩa là bài Mồ Chim Nhạn (Nhạn Khâu) hát theo điệu “Mô Ngư Nhi (điệu hát của người chài lưới).” Có lẽ con chim nhạn được chôn ở bờ sông Phần, nên bài từ được viết để hát theo điệu ca của người chài lưới.
(Bùi Phạm Thành dựa theo lời giải thích của Đặng Thế Kiệt)
Chúng tôi không hiểu Hoa ngữ và các thể loại ca nhạc cổ của Trung Hoa, nên không chắc bài này có đúng với thể điệu “Mô Ngư Nhi” hay không, và lời lẽ đúng được mấy phần?
VÌ SAO CÁC TRƯỜNG HỌC Ở VN HAY TRỒNG CÂY PHƯỢNG VĨ ?
Năm 1889, một năm sau khi Hà Nội trở thành Thành phố nhượng địa của người Pháp. Chính quyền bảo hộ cho thành lập vườn Bách Thảo. Vườn này có nhiệm vụ là trồng thử nhiều giống cây nhập từ khắp nơi trên Thế giới. Để nhằm tìm ra các giống cây phù hợp trồng trên hè phố, công viên, khuôn viên công sở…
Các nhà sinh vật học đã phát hiện ra. Cây phượng vĩ, giống cây có tên tiếng Pháp là Flamboyant được mang về từ Madagascar có các đặc tính như lớn nhanh, tán rộng và lá nhỏ, khi rụng sẽ không làm tắc cống, rãnh thoát nước. Đặc biệt, khi nở hoa phượng cho từng chùm đỏ thắm rất đẹp. Vì hoa có hình đuôi chim phượng nên người Việt gọi là hoa phượng vĩ.
Các trường học từ Trung Kỳ đổ ra Bắc, chính thức cho trồng loài cây này từ năm 1906. Khi toàn quyền Đông Dương Paul Beau cho ban hành một nghị định về Giáo Dục. Từ đó, cứ mỗi ngôi trường mới mọc lên, là người ta cho trồng phượng vĩ . Khiến nó dần trở thành biểu tượng của trường học.
Nàng không ngủ được, câu chuyện nàng nghe hồi sáng cứ vang vọng mãi trong đầu, hành hạ nàng. Quay sang thấy anh vẫn thở đều, giấc ngủ ngon với gương mặt đầy toại nguyện.Nàng cố dằn để không đánh thức anh dậy nửa đêm hỏi cho ra lẽ. Kinh nghiệm của người phụ nữ nhạy cảm và từng trải dạy cho nàng biết sự điềm tĩnh và thận trọng không bao giờ thừa. Dạo này công việc làm ăn gặp nhiều trục trặc đã khiến nàng trở nên lơ là gia đình, có lẽ đây là cái giá nàng phải trả cho sự tham vọng của phụ nữ, nàng đã quá chủ quan và đặt niềm tin không đúng chỗ.
Nàng đã từng rất tự hào vì có một người chồng luôn ủng hộ sự nghiệp của mình,không đòi hỏi ở nàng trách nhiệm quá cao trong việc làm vợ. Nàng không thể thường xuyên nấu cho chồng những bữa cơm ngon, không thể mỗi tuần cùng chồng về thăm ba mẹ hai bên, không thể có những ngày lễ lãng mạn để ngủ nướng và cùng nhau ăn sáng trên giường, nhưng nàng đã cố gắng rất nhiều để gia đình được no đủ, để họ hàng hai bên được chăm lo chu đáo và hơn hết là để chồng nàng chuyên tâm nghiên cứu. Nàng không muốn chồng nàng vì mưu sinh mà bỏ phí tài năng và đam mê trong góc phòng thí nghiệm. Anh đã từng nói rất biết ơn nàng vì điều đó. Lẽ nào nàng đã sai?
Nàng may mắn có một cô bạn gái thân thiết như chị em ruột từ những ngày ấu thơ. Bạn nàng khôn ngoan lanh lợi, sớm thành đạt và có một người chồng giàu có dù đôi khi nàng thấy những tia buồn trong mắt bạn khi nghe cô tâm sự về cuộc hôn nhân không có tình yêu. Họ hiểu nhau, tin nhau, trong lúc việc kinh doanh sa sút chính cô bạn thân đã không ngần ngại cho nàng mượn một số tiền lớn mà không cần thế chấp. Và cũng chính nàng đã là bờ vai, là chỗ dựa, là nơi trút lòng, sẵn sàng bỏ buổi họp để bên cạnh bạn khi cuộc hôn nhân thiếu tình yêu kia có dấu hiệu rạn nứt. Lẽ nào nàng đã sai?
Đôi ba tin đồn ác ý về mối quan hệ mập mờ giữa hai người nàng hết sức tin tưởng đến tai nàng cũng chẳng mảy may nghi ngờ. Nàng vẫn biết thói đời thêu dệt nhiều chuyện oái oăm, con người ta luôn thấy chút gì đó thích thú trước những bất hạnh của đồng loại. Tuy nhiên nàng cũng thừa nhạy cảm và đủ thông minh để thiết lập một hàng rào bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Những câu chuyện vu vơ về mối quan hệ ngoài luồng của ai đó. Những tâm sự đàn bà về người chồng đầu ấp tay gối. Những tín hiệu ngầm như cảnh báo. Những khẳng định chắc nịch của lòng tin về sự chung thủy và cả những tia quan sát ngấm ngầm sẵn sàng chặn đứng mọi tội lỗi có thể. Nàng đã chu đáo, đã cẩn thận, đã tự tin như thế. Lẽ nào nàng đã sai?
Nàng nhìn hai con người trước mặt mình, hai con người nàng đã yêu thương tin tưởng biết dường nào, nay bắt tay cùng nhau phản bội nàng. Cuộc gặp gỡ ba người mà nàng cố tình sắp xếp khiến cho đối phương không giấu kịp sự ngỡ ngàng. Nàng thấy lòng hơi hả hê khi nhận ra vị trí phán xét của mình trước hai con người tội lỗi không dám nhìn thẳng vào mắt nàng. Họ không nhìn nàng và cũng không dám nhìn nhau. Nàng đã hồi hộp chờ đợi giây phút này, để tuôn ra muôn ngàn lời chì chiết chửi rủa thậm tệ, nàng nghĩ ra tất cả những câu đau đớn nhất có thể, nàng biết rõ từng điểm yếu của đối phương vì đã có thời nàng coi họ là máu thịt của chính mình. Nàng có thể giết họ, chỉ bằng một câu nói. Vậy mà giờ đây, nàng không thể thốt nên lời, nàng nhìn họ đăm đăm rồi vội quay đi, cố ngăn không cho những giọt nước mắt trào ra. Không được khóc, nàng tự nhủ, mình không được khóc. Chính họ mới là người phải khóc vì đã phản bội mình. Lòng kiêu hãnh giúp nàng ngẩng mặt lên ngạo nghễ. Họ cất lời xin lỗi càng khiến nàng thêm tức giận. Đồng thanh đồng khí làm sao!
– Tại sao lại là hai người? – nàng hỏi mà không mong một câu trả lời- hai người thèm nhau tới thế sao?
– …!
– Dù sao đây cũng chẳng phải chuyện tốt đẹp gì. Tôi cũng không muốn làm to chuyện để mọi người cười chê, chúng ta nên giải quyết trong nội bộ ba người thôi.
Nàng nhếch môi cười khi bắt gặp cái thở phào dù rất khẽ. Dám làm mà còn sợ người ta biết, hèn thế!
– Nếu em mở lòng tha thứ, chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu như không có chuyện gì xảy ra, anh hứa sẽ…
Nàng giơ tay ngăn chồng nói tiếp
– Em sẵn sàng để hai người đến với nhau mà tận hưởng hạnh phúc! Cứ yên tâm!
– Không, mình không…!
Nàng lại trừng mắt khi cô bạn vừa mở lời. Trong lúc này, nàng mới là người được quyền lên tiếng và quyết định chứ không phải họ. Bất kỳ câu nói nào phát ra từ hai cái miệng đáng ghét kia cũng có nguy cơ làm cơn giận trong lòng nàng bùng nổ.
– Đổi lại chúng ta có một thỏa thuận – nàng nhìn cô bạn đang ủ dột cúi đầu – cậu đã cho mình mượn năm trăm triệu cách đây ba tháng. Mình là người sòng phẳng và không muốn nợ nần ai, nhất là với cậu, cho nên mình bán anh ta cho cậu để trừ nợ. Cậu lấy anh ta và chúng ta không còn nợ nần gì nhau.
– Em! Sao em có thể…?
– Tại sao không? Điều kinh tởm nhất là ngoại tình với bạn vợ anh còn làm được thì anh có quyền gì mà trách móc ai? Đúng, tôi bán anh cho cô ta đó, năm trăm triệu là quá tốt rồi chứ con người anh thực ra không đáng một xu. Tuy nhiên cô ta thèm khát anh như vậy thì bỏ năm trăm triệu ra lấy anh về mua vui chắc cô ta chẳng tiếc đâu, đúng không?
Nàng nhìn hai gương mặt tái xanh vì hổ thẹn và bị xúc phạm, biết mình đã đánh đúng chỗ yếu nhất. Trái tim nàng có giây lát sung sướng hả hê. Hai con người trí thức, tự tôn và hiểu biết kia, câu nói của nàng còn đau đớn, nhục nhã hơn vạn lần xỉa xói chửi rủa mỉa mai. Nàng xách túi đứng lên, nhìn hai người ngồi đó bằng ánh mắt khinh bỉ nhất mà nàng có thể.
– Thế nhé, nếu có ai quen hỏi thăm tôi sẽ nói ngắn gọn là bán chồng cho bạn thân với giá năm trăm triệu, còn những việc khác hai người muốn giải thích thế nào thì tùy, tôi không quan tâm, từ nay chúng ta không còn bất cứ quan hệ nào với nhau nữa. Chúc may mắn!
Nàng kiêu hãnh quay bước đi, biết chắc hai người ngồi lại sẽ vì câu nói của mình mà không thể yên ổn. Đối với nàng đây mới thực sự là đòn trừng phạt đáng giá.
Nàng dắt xe, nổ máy, cố giữ cho tay mình bớt run rẩy. Trong sự thích thú hả hê khi làm cho đối thủ kinh hãi, nàng nhận thấy cả nỗi đau ngấm ngầm mà giờ đây chỉ còn riêng với mình, nàng cảm nhận nó trào sôi dữ dội. Nàng đeo khẩu trang, đeo kính, mặc áo khoác, che đậy mình thật kỹ và chạy đi. Dưới lớp bọc kín đáo, nỗi đau vùng lên thổn thức và nước mắt nàng không ngừng tuôn rơi. Trong dòng người hối hả trên đường, không ai hay có một người đang giấu gương mặt đầm đìa sau lớp khẩu trang. Nàng lướt đi như trôi vào cõi mộng du.
***
Sân bay Tân Sơn Nhất một ngày nhiều gió, người đàn bà trung niên quấn lại chiếc khăn quàng cổ, dõi mắt nhìn trời xanh như tìm kiếm một hình ảnh quen thuộc, một mảnh trời quê mà bà nghĩ có lẽ suốt đời mình chẳng bao giờ gặp lại. Đã hai mươi năm kể từ ngày bà rời bỏ quê hương, mang theo trong tim nỗi đau như cắt và cả lòng tin đã vụn vỡ, hy vọng xứ người xa lạ có thể làm hàn gắn một vết thương. Nhưng người đàn bà càng thành đạt bao nhiêu càng thấy lòng mình nhức nhối bấy nhiêu vì vết thương tưởng chừng như hóa thạch vẫn thầm âm ỉ trong tim. Sống trong nỗi giận hờn đau đớn suốt hai mươi năm, một ngày chợt nhận ra tóc đã bạc màu, môi thôi thắm tươi và mắt đã hằn những vết thời gian, lại chợt thèm quay quắt trở về, trở về để thứ tha, để quá khứ không còn hành hạ đêm đêm, để tìm cho mình phút bình an cuối cuộc đời. Tha thứ cho người và cho cả chính mình.
Căn nhà nhỏ hơn bà nghĩ, giản dị đến không ngờ. Trước sân trồng bụi hoa nguyệt quế xum xuê, loài hoa mà bà vẫn yêu thích. Bà hít một hơi rồi nhấn chuông, lòng không dưng hồi hộp kỳ lạ. Một người phụ nữ gầy gò khắc khổ bước ra mở cửa, họ nhìn nhau, sững sờ, ca nước trên tay chủ nhà rơi xuống vang một tiếng khô khốc.
Họ ngồi trong phòng khách, đã hai mươi phút trôi qua mà vẫn chưa ai cất nên lời, ngập ngừng bà hỏi một câu khách sáo
– Hai người vẫn khỏe chứ?
– Tôi vẫn khỏe, nhưng ông ấy thì…
Chủ nhà ngập ngừng đưa mắt nhìn vào nhà trong
– Ông ấy bệnh à?
– Ông ấy đột quỵ, nằm một chỗ đã năm năm nay rồi!
– Vậy ư? Ông ấy vốn rất khỏe mà. Hai người thay đổi nhiều quá, suýt nữa tôi không nhận ra.
– Còn bà vẫn đẹp như xưa, thậm chí còn đài các hơn rất nhiều, thời gian có vẻ như không làm ảnh hưởng tới bà mấy. Chắc bà sống rất hạnh phúc?
– Hạnh phúc? Nếu tôi thật sự hạnh phúc liệu hai người có thấy thanh thản hơn không? Hai người cũng đang rất hạnh phúc cơ mà.
Bà chủ nhà giật mình trước cái nhìn của vị khách, bà thu người trong cái ghế, thân hình gầy ốm càng có vẻ teo tóp lại trước vẻ tự tin và ánh mắt nhiều hàm ý kia. Mất một lúc lâu bà chủ nhà mới lên tiếng
– Chúng tôi không hạnh phúc như bà nghĩ đâu. Ngày đó, sau khi bà bỏ đi, chúng tôi đã sống những ngày thật kinh khủng dưới sự lên án và dè bỉu của những người thân quen. Chúng tôi có lỗi và phải chịu hình phạt. Nhưng hình phạt lớn nhất, kinh khủng nhất không phải là cái nhìn của dư luận mà chính là câu nói sau cùng của bà : “ bán chồng cho bạn với giá năm trăm triệu!”. Câu nói đó ám ảnh hai chúng tôi đến tận bây giờ.
– Tôi không nghĩ sau việc làm của hai người thì còn có điều gì khiến hai người phải e ngại!
– Thật ra mối quan hệ của chúng tôi chỉ là một phút không kiềm chế mình. Tôi không phải là thanh minh! Nhưng chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đến với nhau, nhất là ông ấy, ông ấy vẫn rất yêu bà và chưa bao giờ có ý định bỏ bà cả.
– Nhưng rốt cuộc hai người vẫn đến với nhau!
– Phải, có lẽ vì chúng tôi quá cô đơn và cùng chịu chung một nỗi dày vò. Điều đó đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn, chứ không phải là tình yêu. Chúng tôi sống cùng nhau để động viên nhau, an ủi nhau, cùng nhau chờ đợi…
– Chờ đợi điều gì?
– Sự tha thứ của bà!
– Thật khó tin!
– Phải, có lẽ bà không tin, nhưng hơn hai mươi năm sống chung chúng tôi trên danh nghĩa luật pháp vẫn không phải là vợ chồng. Chúng tôi không có giấy hôn thú, ông ấy không muốn đăng ký kết hôn vì đối với ông ấy bà là người vợ duy nhất! cuộc sống của chúng tôi thật chẳng dễ dàng. Ông ấy không còn đam mê nghiên cứu, công việc của tôi cũng gặp khó khăn, có lẽ đó là quả báo. Chúng tôi ở chung một nhà, ăn chung một mâm cơm, ngủ chung một giường và cùng chung một người để nghĩ đến. Chúng tôi không dám nhìn vào mắt nhau, không dám ôm nhau ngủ, thậm chí không dám cả việc có con, tất cả chỉ vì nỗi ân hận và sợ hãi dày vò. Chúng tôi cô đơn và mệt mỏi, tận cùng, như một cái giá phải trả. Năm năm trước ông ấy đột quỵ, nằm liệt một chỗ, nói năng cũng trở nên khó khăn, vậy mà ông ấy vẫn luôn gọi tên bà. Chúng tôi luôn cầu mong một ngày nào đó bà quay về và tha thứ cho chúng tôi.
Người đàn bà ngồi nghe, lặng người, tâm trí hoang mang. Lẽ ra bà phải thấy thích thú, hả hê lắm khi chứng kiến cuộc sống thương tâm của hai người đã từng hủy hoại lòng tin yêu trong bà. Vậy mà giờ đây, trước người đàn bà một thời bà căm hận, bà chỉ thấy một nỗi xót xa không nói nên lời.
– Bà cho tôi vào thăm ông ấy!
Bà không dám tin vào mắt mình nữa, hai mươi năm, hai mươi năm làm người ta thay đổi đến thế này ư? Nằm bất động trên giường là một người đàn ông gầy gò, già nua và mỏi mệt. Bà không dám tin đây chính là người đã từng là chồng mình, đã từng là người đàn ông bà hết mực yêu thương, đã từng là người đàn ông làm bà đau đớn vì yêu và hận suốt mấy chục năm trời.
– Ông có nhận ra ai đây không?
Đôi mắt người đàn ông nhìn bà thật lâu, cái nhìn ban đầu vốn lãnh đạm phút chốc trở nên thảng thốt
– Yến… Yến!…em Yến, …vợ…vợ anh!
Người đàn ông lắp bắp, khuôn miệng méo xệch, những âm từ rời rạc vang lên, vội vã, vui mừng lẫn tủi hổ. Bà nhìn ông, bật khóc. Bà bước tới, nắm bàn tay giơ ra chờ đợi, bà căm giận ông, nhưng muôn ngàn lần không muốn ông phải khổ sở thế này. Đôi mắt người đàn ông ầng ậc nước, cái nhìn dán vào mặt bà như tìm kiếm, van nài, cái nhìn khẩn khoản đầy hy vọng.
– Đừng…đừng…bán …anh!
Bà sững sờ nhìn ông nghe lòng nghẹn đắng. Trời ơi, hóa ra câu nói của bà đã ám ảnh ông đến tận bây giờ. Thốt nhiên bà thấy ghê sợ chính mình, bà thấy mình cũng độc ác, cũng hèn hạ, cũng nhẫn tâm, thậm chí nỗi đau bà gây ra cho đối phương còn kinh khủng gấp mấy lần. Tại sao, tại sao khi đó bà lại nói ra câu nói độc địa đó? Phải chăng vì lời nói tàn nhẫn đó mà chính bản thân bà suốt hai mươi năm vẫn không được một ngày vui vẻ?
– Tha…tha thứ…cho anh!
Ông vẫn lắp bắp nói, ông có lẽ nuốn nói rất nhiều, phải chi ngày đó bà cho ông một cơ hội lên tiếng, bà đã để cơn giận lôi mình đi quá xa. Nước mắt ông vẫn ứa ra làm hai người đàn bà nghẹn ngào tức tưởi không thốt nên lời.
– Ông ấy vẫn còn rất yêu bà! Ông ấy và cả tôi nữa đều mong nhận được sự tha thứ từ bà, có vậy chúng tôi chết mới nhắm mắt được.
– Khi tôi quay về đây là tôi biết mình cần phải làm gì. Bản thân tôi mang nỗi căm hận trong lòng cũng chưa từng có một ngày được sống yên ổn. Tôi tha thứ cho hai người, và tôi cũng muốn tha thứ cho chính mình. Chúng ta đều đã già, hãy sống những ngày còn lại thật vui vẻ. Những hỉ nộ ái ố của cuộc đời đã không còn dành cho chúng ta nữa rồi.
Bà quay sang ông, dùng tay lau đi những giọt nước mắt đang ứa ra trên gương mặt nhăn nhúm vì xúc động của người bà một thời yêu thương, và nở một nụ cười nhẹ nhàng.
– Em đã tha thứ cho anh từ rất lâu rồi! tha thứ cho cả hai người! anh và cô ấy!
Người đàn ông gật gật đầu, môi nở một nụ dẫu méo mó nhưng đầy sức sống, nước mắt vẫn cứ chảy ra, chảy ra không sao ngăn lại.
Người đàn bà rời khỏi căn nhà đơn sơ sau buổi trùng phùng. Bà chủ nhà bịn rịn tiễn chân, lúc quay vào nhận ra trên bàn một phong bì trắng. Có một lời nhắn gửi lại: “ Đây là năm trăm triệu ngày xưa bà cho tôi mượn, tôi xin trả lại đồng thời rút lại lời nói khi đó, tôi không bao giờ bán chồng cho bạn với giá bao nhiêu đi nữa. Mọi chuyện đã xảy ra xin hai người hãy quên đi để cả ba chúng ta có thể có những ngày cuối đời thanh thản! Thân ái. Bạn gái thân của bà: Phi Yến.”
Tất cả Chúng ta Người trước Kẻ sau Ai rồi cũng phải Già. Làm sao tránh được !
Ðã có “Sinh” là có “Lão”.
Một giai đoạn Tất yếu của Cuộc sống.
Nếu ngày đầu tiên Mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có Ai bảo rằng mỗi ngày Mình lớn lên là một ngày mình sẽ Già đi và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là Mình đã không tin.…
Nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một Người đã quá 60 với thời Anh mới 20 tuổi thì theo Curtis Pesman, Tác giả cuốn “How a Man Ages,” ta có thể ghi nhận những Thay đổi như sau:
• Tóc bạc, thưa và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns – 1 phần triệu của 1m so với 101 microns hồi 20 tuổi.
• Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.
• Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ Tai ngoài vào Tai trong đã suy thoái.
• Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình Nhai, Nghiến, trong khi đó Lợi răng co rút lại làm lộ rõ khoảng trống giữa các Chân răng.
• Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.
• Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu Thân, một phần do Cholesterol đóng dày trên thành động mạch nên Tim phải hoạt động nhiều hơn mới Bơm được máu đi.
• Các Cơ bắp làm cho Phổi hoạt ðộng bình thường Suy yếu dần, độ co giản của Lồng ngực yếu đi, làm cho lượng Dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.
• Trọng lượng của Thận giảm từ 20% ðến 30%, sức Lọc chất thải của Thận chỉ bằng nửa hồi Trẻ và sức Chứa của Bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa – 8 fluid ounces, khoảng non 230cl.
• Với năm tháng qua đi, khối Não cũng rút nhỏ lại và Giảm trọng luợng, hàng tỷ Tế bào Não bị mất đi, Trí nhớ bị Giảm sút…
Hiểu được lẽ Vô thường của Cuộc đời sẽ thấy quyền lực, danh xưng cũng chỉ là những ảo vọng mà thôi, chỉ lôi cuốn Con người vào vòng Tục lụy không lối thoát.
Cuộc đời Ngắn ngủi quá, sự Sống và cái Chết chỉ cách nhau bằng một hơi thở.
Cái lằn ranh vô hình đó Ai cũng biết nhưng được bao nhiêu Người Tỉnh thức?
Hôm nay ta còn sống, còn nói cười, còn nghĩ mình cứ sống mãi, sống hoài để tận hưởng những Lạc thú của Trần gian để hơn thua, vênh váo, được mất với đời.
Nhưng khi nhắm mắt rồi, Cát bụi lại trở về với Cát bụi Hư vô…
Hãy “Lắng Nghe và Chăm Sóc” sức khỏe mình
CHÚC AN LÀNH
Tôi ngước nhìn lên bức ảnh cưới treo ở góc phòng, hai kẻ kia đang tay trong tay, tay ôm hoa tươi cười mãn nguyện.
Mười năm trước chắc hẳn cả tôi và chồng tôi đều nghĩ, được cùng nhau sống dưới một mái nhà là niềm hạnh phúc nhất thế gian. Thực ra thì cũng đã có những ngày như vậy.
Cho đến khi áo cơm đè nặng, và những đứa con lần lượt ra đời…
Thỉnh thoảng tôi vẫn có cảm giác không hiểu nổi mình, không hiểu bản thân mình đang thực sự muốn gì. Tôi có còn yêu chồng tôi nữa không? Tại sao vợ chồng sống với nhau bao nhiêu năm, rồi một ngày nhận ra chẳng còn niềm hứng khởi, yêu thích và rung động nào nữa. Chúng tôi đã cùng nhau đi qua những tháng năm như thế, bận rộn mưu sinh và lơ là yêu thương, hiểu nhau rõ đến mức nhàm chán. Tôi dù sao đi nữa cũng chỉ là đàn bà, có thể mạnh mẽ ngoài đời nhưng trong tình yêu vẫn cần những lời âu yếm. “Đàn bà yêu bằng lỗ tai mà”. Nhưng chồng tôi thì cho rằng: lãng mạn chỉ dành cho những kẻ yêu nhau chưa vướng bận gia đình. Có nhiều lúc tôi thèm một vòng tay ôm, thèm một nụ hôn cho ngày kỉ niệm nào đó mà anh đã quên vì cho rằng nó vẽ vời. Và giờ tôi cũng không nhớ, lần cuối cùng chúng tôi hôn nhau là khi nào nữa.
Tôi gặp người đàn ông ấy trong một bữa tiệc nhỏ. Người đàn ông ấy cũng như tôi, đã có gia đình. Vậy mà cái cách anh ta nhìn tôi, hỏi han quan tâm tôi khiến tim tôi loạn nhịp. Người đàn bà dễ bị khuất phục nhất là khi họ cô đơn. Có lẽ anh ta xuất hiện vào lúc tôi cảm thấy mình cô đơn và chống chếnh.
Tối đó anh đưa tôi về, dừng cách xa nhà một đoạn vơí lí do “sợ chồng em thấy hiểu nhầm lại khổ em”.
Tôi bước vào nhà, thấy chồng đang kéo chăn đắp lại cho con, miệng phàn nàn với tôi về việc thằng lớn học hành chểnh mảng, còn con bé con thì bướng bỉnh cứng đầu. Rồi anh hỏi tôi vài câu trước khi chìm vào giấc ngủ.
Tôi nằm bên cạnh anh, xấu hổ nhận ra lòng mình đang nghĩ về một người đàn ông khác.
Chuyện gì cũng thế, đã có sự khởi đầu thì mọi chuyện tiếp theo chẳng có gì là khó khăn. Tôi và anh ta từ vài tin nhắn, vài cuộc gọi rồi gặp gỡ nhau, ăn tối, cà phê, hẹn hò. Mỗi ngày trôi qua đều nhớ nhau đến cuồng dại. Cảm giác đó không phải tôi chưa từng có với chồng tôi, chỉ có điều nó quá xa rồi. Người đàn ông này đang làm cho tôi nhận ra tôi không phải là một phụ nữ hai con tẻ nhạt và đơn điệu. Mỗi lời anh ta nói, mỗi việc anh ta làm đều khiến tôi hài lòng và xúc động.
Một lần sau cuộc hẹn, anh ta đề nghị cả hai vào khách sạn. Đúng là tôi si mê anh ta thật, nhưng lên giường cùng anh ta tôi lại thấy phân vân. Tôi không phải là kẻ độc thân, đi đến giới hạn cuối cùng của tình yêu rồi sẽ nhận được gì? Cuối cùng tôi đành làm một phép thử. Chúng tôi đi thuê một phòng nghỉ nhỏ, cảm giác như anh ta cũng không quá vồn vập, vội vàng. Bởi có lẽ trong đầu anh ta đang nghĩ: Tôi trước sau gì chả là của anh ta.
Tôi cởi một vài nút áo rồi hỏi:
-Vì sao anh yêu em?
– Vì em đáng được yêu mà.
– Chúng ta có thể mãi ở bên nhau không?
– Cả hai chúng ta đã có gia đình rồi mà. Như thế này chẳng tốt hơn sao?
– Vậy thì anh bỏ vợ, còn em bỏ chồng. Chẳng lẽ mình cứ mãi thế này?
Người ta thường nói trong tình yêu, đàn ông và đàn bà là hai sự khác biệt. Đàn ông có thể lên giường với cả những phụ nữ họ không có tình cảm. Còn đàn bà chỉ ngủ với người mà họ yêu. Đàn ông ngoại tình rồi sẽ trở về với vợ con. Đàn bà khi đã ngoại tình thì chẳng muốn về nhà nữa.
Trong phút giây, tôi nhận thấy ánh nhìn anh ta có chút sửng sốt. Anh ta bắt đầu nói năng không còn được mạch lạc với muôn vàn lý do. Và tôi trong cơn mê sảng vì yêu vẫn còn đủ thông minh để nhận ra anh ta không muốn vứt bỏ gia đình của mình. Anh ta cũng ngoại tình, tôi cũng ngoại tình, nhưng xét cho cùng là tôi thua hẳn anh ta.
Tôi đi ra khỏi nhà nghỉ, không thèm nói một câu từ biệt.
Tôi về nhà mẹ đẻ hai ngày để đầu óc mình tỉnh táo lại. Tôi kể chuyện mình cho mẹ nghe. Mẹ buồn bã nhìn tôi, ánh mắt lộ rõ vẻ vừa thất vọng, vừa thương xót. Mẹ nói:
“Cuộc đời có phải là tiểu thuyết ngôn tình đâu mà con đòi hỏi nhiều thế. Chồng con yêu con là muốn bên con cả đời. Còn người đàn ông kia yêu con vì muốn cùng con đi một đoạn đường ngắn ngủi. Chồng con không dùng quá nhiều sức lực và thời gian cho con, bởi nó còn phải để dành sức lực chăm lo cho gia đình, cuộc sống. Còn người đàn ông kia yêu con tưởng như chết đi sống lại bởi anh ta chỉ cần yêu con một vài hôm, ngủ với con một vài đêm rồi sẽ vứt bỏ con. Chồng con chăm sóc cho cuộc sống của con. Còn người đàn ông kia chỉ chăm sóc cho tình cảm của con thôi. Con sẽ chẳng thể tìm đâu ra, một người vừa làm tròn trách nhiệm người chồng người cha lại cuồng nhiệt yêu đương và lãng mạn như một người tình. Đừng có tự làm khó mình như thế. Ngôi nhà hôn nhân, bước ra thì dễ, muốn về rất khó, con hãy cẩn trọng từng bước đi”.
Tôi ngồi nghe từng lời của mẹ, cảm giác miệng mình khô khốc không nói thành lời. Giá như mẹ tát cho tôi vài cái, có lẽ tôi đỡ đau hơn những lời mà mẹ vừa nói. Bởi vì càng nghe tôi càng nhận ra tôi là một người đàn bà không ra gì, cảm thấy ghét chính mình, khinh bỉ chính mình. Làm người ai cũng có lúc đúng lúc sai. Và khi sai, người ta có thể ngụy biện bằng muôn vàn lí do, nhưng ngoại tình thì chỉ có sai chứ không bao giờ đúng. Mẹ tôi nói:
“Lạc đường không đáng sợ, điều đáng sợ nhất là không biết mình muốn đi đâu”.
Sau đó tối ngày thứ ba tôi trở về nhà, lên sập ngủ một giấc dài chìm sâu sau một đêm,
Tôi mở mắt khi mặt trời đã chói lòa qua khung cửa sổ. Không gian im ắng lạ thường, không có tiếng léo nhéo mè nheo của lũ trẻ, một lúc mới nhớ ra hôm nay là chủ nhật.
Có tờ giấy nhỏ đặt ở đầu giường, trong đó là nét chữ nguệch ngoạc của chồng tôi:
“Thấy mẹ ngủ ngon, ba bố con không nỡ thức. Bố con anh đi sang ông bà nội, mẹ dậy rồi sang sau nhé”.
Bật mình ngồi dậy, nắng chói hắt vào mặt. Đúng mà, phải đi qua đêm tối, mới thấy được sự rực rỡ của ánh vầng dương. Hạnh phúc đích thực chẳng ở đâu xa, cớ sao cứ mệt nhoài đi đâu tìm kiếm.