Categories
Sưu Tầm

TÀU CỘNG SẼ CHẾT THEO CÁI ĐẦM LẦY NƯỚC MỸ KHI ĐẠI ÁN OBAMAGATE ĐANG TỚI LÚC HẠ MÀN


blogtouch_picture_48368af1_f446_9c84_27f7_7c6afd1eb1bc

Tran Hung.

Mặc dù truyền thông chính thống không sôi nổi trong việc đưa tin công tố viên đặc biệt John Durham đã đưa tiếp bản cáo trạng là một phần trong đại án OBAMAGATE dài 27 trang so với sự sốt sắng của truyền thông chính thống khi đưa tin về thợ săn phù thủy Robert Muller trong trò vu khống Nga can thiệp vào bầu cử trước đây nhưng với bản cáo trạng lần này thì bộn tên trùm trong đầm lầy Nước Mỹ sẽ bị lôi ra pháp định và sau đó sẽ tới lượt các chóp bu của Mỹ cộng là Obama – Joe Biden – Hillary Clinton sẽ được lôi ra Đại bồi thẩm đoàn với tội danh TREASON – PHẢN QUỐC.
Ở bài viết trước, tui chỉ mới nói tới việc RINOS PHẢN QUỐC ĐÁNH PHÁ POTUS TRUMP để cứu lấy Tàu cộng và bài viết này tui tiếp tục chủ đề TÀU CỘNG & MỸ CỘNG ĐANG RUN RẨY TRƯỚC ĐẠI ÁN OBAMAGATE như sau:
I. TẠI SAO MỸ CỘNG VÀ RINOS PHẢN QUỐC HÙA NHAU ĐÁNH PHÁ POTUS TRUMP ? 
2. Mỹ cộng đánh phá Tổng thống TRUMP:
Trước tiên, xin nhắc lại khái niệm “cánh tả – cánh hữu, truyền thông chính thống, bảo thủ và cấp tiến” trong hoạt động chánh trị ở Hoa Kỳ.
a. Cánh tả: 
Cánh tả để chỉ cho những người có xu hướng chánh trị dựa trên “chủ nghĩa bình quân xã hội” hay nói theo ngôn ngữ bình dân thì cánh tả là đại diện cho chủ nghĩa cào bằng. 
Mục tiêu của những người theo trào lưu cánh tả là để hướng tới sự bình đẳng cho tất cả mọi người bất chấp sự khác biệt về năng lực, đặc điểm cá nhơn, mức độ lao động. Để thực hiện được cái “lý tưởng” gần như “không tưởng” này, cánh tả thường sử dụng công cụ chính và rất hữu dụng đó là “sự can thiêp của Nhà nước vào nền nền kinh tế, vào đời sống xã hội, vào an ninh quốc gia,…”.
Nói một cách dễ hiểu nhứt thì chánh trị gia cánh tả Hoa Kỳ với chủ nghĩa xã hội của Mác – Lê – Mao có chung quan điểm là “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Chính từ cái quan điểm hết sức tào lao này mà một bộ phận người Mỹ rất khoái cánh tả và không ít người Mỹ gốc Việt ủng hộ cho cánh tả bởi thói hư “biếng làm nhưng thích thụ hưởng”, sống bám vào trợ cấp của chánh phủ. 
Nhưng có một thực tế rõ ràng mà cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói đó là “đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm” đã phản ảnh đúng bản chất của cánh tả. Bởi vì lý tưởng của cánh tả là mang lại bình đẳng cho xã hội, người dân làm chủ đất nước, chánh quyền là đầy tớ trung thành nhưng thực tế ở Nước Mỹ đã cho thấy những chánh sách can thiệp vào kinh tế – xã hội – an ninh quốc gia – tự do ngôn luận,… của cánh tả lại hoàn toàn trái ngược với những gì thuộc về lý tưởng của cánh tả.
Minh chứng cho những điều đó là thời Obama mần tổng thống, hàng loạt chánh sách của chánh phủ liên bang, của Quốc Hội Hoa Kỳ do đảng Dân chủ kiểm soát như Đạo luật Obamacare, chánh sách nhập cư dễ giải, Đạo luật về nạo phá thai, hành vi chánh phủ liên bang can thiệp sâu vào kinh tế, hàng loạt sắc thuế đánh vào người có thu nhập cao,… đã làm cho Nước Mỹ với nền tảng Cộng Hòa trở thành một Nước Mỹ có màu sắc xã hội chủ nghĩa. 
Chỉ ở cái mảng đáng thuế lên người giàu và cái Đạo luật Obamacare đã bộc lộ rõ nét Nước Mỹ thời Obama là một nước cộng sản trá hình. Bởi vì nhà nước thời Obama với những chánh sách can thiệp kinh tế đã gây hậu quả ngược, làm gia tăng sự bất công về lợi tức lẫn bất công cơ hội cạnh tranh bình đẳng.
Giới siêu giàu cổ súy cho xu hướng chánh trị cánh tả do đảng Dân chủ đại diện và trao quyền lực vào tay của Obama bởi vì xu hướng chánh trị cánh tả là môi trường thích hợp nhứt để cho giới tài phiệt bất lương trở thành những kẻ siêu giàu. Giới tài phiệt bất lương chi tiền thông qua truyền thông chính thống và y tế, giáo dục để những tổ chức này vận động, ủng hộ cho cánh tả đổi lại cánh tả can thiệp vào kinh tế – xã hội,… đem lại lợi ích cho giới tài phiệt bất lương.
Ở Hoa Kỳ, khi nói tới cánh tả là nói tới các đảng phái và tổ chức chánh trị sau: Đảng Dân chủ, Đảng xanh, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, Tự do hiện đại,… Các tổ chức mang xu hướng cánh tả là: Black Lives Matter – BLM, Antifa, Open Society Foundations – Quỹ xã hội mở của tài phiệt George Soros,… và các hãng truyền thông chính thống như The New York Times, MSNBC, Washington Post … là các hãng truyền thông cánh tả.
 b. Cánh hữu:
Cánh hữu để chỉ những người có xu hướng chánh trị dựa trên cơ sở của luật tự nhiên, truyền thống, tự do cá nhơn và tự do kinh tế với mục tiêu hướng tới sự giàu có cho toàn xã hội mặc dù điều này có thể gây ra bất bình đẳng nhứt định về mặt hiện tượng theo quan điểm của các nhà phê phán, chỉ trích “tính bất cập của chủ nghĩa tư bản” mà họ nói bằng thuật ngữ “bóc lột” giữa giới chủ và người lao động nhưng thực tế thì ngược lại về mặt bản chất.
Ở đây tui đơn cử một thí dụ minh chứng cho điều ngược lại trong cái gọi là “tư bản bóc lột” ngay tại trang trại của người thân với tui. Người thân tui đã đầu tư tiền của, trí tuệ vào trang trại có quy mô 10 lao động chân tay, mỗi tháng anh ta trả lương cho họ là 02 ngàn đồng, đây là mức lương cố định và được trả lương theo tuần, tức người lao động cứ đến kỳ là lãnh lương mặc cho mưa gió bão bùng, mặc cho giá cả nông sản có tăng hay giảm, lãi suất nhà băng có giảm hay tăng. Rõ ràng, nếu xét theo quan điểm “bóc lột” thì anh chủ trang trại kia mới chính là người “bị bóc lột” vì anh ta phải chịu đủ thứ rủi ro trong công việc còn người lao động chẳng phải lo nghĩ gì ngoài việc làm đúng giờ, làm xong việc rồi về ngáy o o mặc cho ngày mai trang trại có bị bão dập, lửa cháy. Mặt khác, hợp đồng lao động là hoàn toàn tự nguyện không ép buộc, anh thấy hợp lý thì anh ký anh làm, không hợp lý thì anh đi chỗ khác.
Nhưng tại sao phía cánh tả ra rả cáo buộc phía cánh phải là căn nguyên của sự bất bình đẳng trong xã hội? Dễ hiểu thôi vì cánh tả rất dẻo mỏ, mị dân nhờ vào hệ thống tuyên truyền hùng hậu được họ trả tiền hậu hĩnh. Nó cũng như bên Việt Nam thời cộng sản vậy, bất công hà rầm, bóc lột hăng hà nhưng họ vẫn ra rả là người dân làm chủ, cán bộ là đầy tớ trung thành, Việt Nam dân chủ nhứt Trái Đất,…
c. Những khác biệt căn bản giữa cánh tả mà đại diện là đảng Dân chủ với cánh hữu được đại diện bởi những người bảo thủ của Đảng Cộng hòa:
– Lãnh vực kinh tế: 
+ Cánh tả muốn tăng cường sự kiểm soát và can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế. Ngược lại Cánh hữu muốn giảm thiểu sự kiểm soát và can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế. 
Tại sao ? Tại vì khi Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nó sẽ đẻ ra cái gọi là nhóm lợi ích, nhóm thân hữu, cánh hẩy, sân sau,… là những con gà đẻ trứng vàng cho quan chức Nhà nước mà bên Việt Nam đã xuất hiện đầy rẫy như Phạm Nhật Vượng, Trịnh Văn Quyết, Vạn Thịnh Phát, Dũng Lò Vôi,… cho nên cánh tả nó khoái vì như vậy nó mới có được và điều khiến được đam tài phiệt bất lương, Big Pharma, Big Tech, Big truyền thông,…
+ Cánh tả muốn tăng thuế, đặc biệt là thuế đối với người giàu, một điều giới giàu lại rất thích trong thực tế vì thuế đó tuy đánh vào họ nhưng lại lấy một cách gián tiếp chủ yếu từ thành phần trung lưu và lại đi kèm các luật chống cạnh tranh tự do khác. Ngược lại Cánh hữu muốn giảm bớt thuế, là thứ đem lại sự công bằng cơ hội cho thành phần trung lưu và nghèo khổ vươn lên.
Tại sao? Tại vì Cánh tả sẽ lấy tiền thuế ném vào cái chủ nghĩa cào bằng như Đạo luật Obamacare, Đạo luật phá thai,… để dụ khị được đám đông thích “ngồi mát ăn bát vàng”, lười biếng chỉ trông chờ vào tiền trợ cấp mà lực lượng này thì rất ngông cuồng, bất chấp vì miếng ăn họ sẽ làm tất cả theo lời kêu gọi của Cánh tả.
+ Cánh tả muốn tăng chi tiêu của chánh phủ vào phúc lợi, chánh sách xã hội và cơ sở hạ tầng. Cánh hữu muốn cắt giảm chi tiêu của chánh phủ. 
Tại sao? Tại vì bộ máy của cánh tả rất cồng kềnh với đa số là quan tham nên họ thích tăng chi tiêu của chánh phủ.
+ Cánh tả muốn tăng lương tối thiểu. Cánh hữu phản đối tăng lương tối thiểu.
Tại sao? Tại vì khi tăng lương tối thiểu thì nó kéo theo hệ quả là tiền đóng các khoản bảo hiểm cũng tăng theo nhưng chất lượng bảo hiểm vẫn như lúc chưa tăng lương tối thiểu. Và còn rất nhiều hệ lụy khác nữa nhưng có một hệ lụy rõ ràng nhứt là khi tăng lương tối thiểu nhưng năng suất lao động vẫn không tăng vì vẫn con người đó, dây chuyền sản xuất đó. Để thích nghi với việc Nhà nước tăng lương tối thiểu thì các doanh nghiệp phải đưa ra các giải pháp như: đầu tư nâng cấp dây chuyền công nghệ, cắt giảm lao động, sa thải bớt công nhân,… và trong lúc doanh nghiệp bị đánh thuế cao hơn nhưng buộc phải trả lương tối thiểu cũng cao hơn nên nhiều chủ doanh nghiệp đóng cửa hoặc tháo chạy khỏi Nước Mỹ, dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan và lệ thuộc vào hàng hóa nhập cảng. Thất nghiệp cao thì Cánh tả càng có lợi vì các khoản trợ cấp thất nghiệp là quyền lực của Cánh tả mà người thất nghiệp phải cảm ơn rối rít.
Còn nhiều lắm, tui sẽ viết tiếp để khi quý vị biết rõ sự khác biệt giữa Cánh tả do đảng Dân chủ làm đại diện và Cánh hữu do những người bảo thủ của Đảng Cộng hòa làm đại diện thì quý vị sẽ hiểu được tại sao hàng loạt chánh sách dưới trào Mỹ cộng Joe Biden như nhập cư, tăng chi tiêu cho chánh phủ, tăng thuế, tăng ngân khố quốc gia kỷ lục lên mức dự kiến 3,5 ngàn tỷ Mỹ kim,… nhưng bị Cánh hữu bên Đảng Cộng hòa và những người Mỹ chơn chánh bên đảng Dân chủ cự tuyệt. Bởi vì bản chất của Cánh tả là chủ nghĩa cào bằng, là chủ nghĩa xã hội đem lại lợi ích cho khối xã hội chủ nghĩa được đám đông với tư duy hưởng thụ cổ súy do họ yếu kém về năng lực tinh thần, sức khỏe và trí tuệ. 
Tổng thống TRUMP là nền tảng của Cánh hữu, là chánh trị gia theo trường phái bảo thủ của Đảng Cộng hòa cho nên Ông bị phe Cánh tả và đám RINOS phản quốc đánh phá tưng bừng nhờ lực lượng truyền thông chính thống của Cánh tả với sự tham gia của đám Vẹm kiều vì miếng ăn bán rẻ lương tri, chúng mạnh họng chửi bới Tổng thống TRUMP và những người ủng hộ Tổng thống TRUMP là ngu dốt, vô lương tâm nhưng bản chất của chúng mới thực sự là vô lương tâm, ngu dốt, máu nhiễm vi trùng chủ nghĩa xã hội quái thai./.
Tran Hung.

https://www.thesaigonpost.com/2021/10/tau-cong-se-chet-theo-cai-am-lay-nuoc.html

Categories
Chuyện ngắn

CON CHÓ


cho-bi-chet-la-diem-gi

– Sưu tầm –

Có một lần, tôi gọi taxi để đưa con chó đi khám bệnh. Vì con chó ho rất nặng tiếng nên gây chú ý đến người tài xế. Anh ta quay lại hỏi: “con chó bị cảm lạnh à?”

Tôi đáp: “Đúng vậy, nó ho liên tục từ hôm qua đến giờ.”

Người tài xế thở dài hỏi:”Chà, ho giống người vậy.”

Rồi anh ta bắt đầu câu chuyện. Anh ta kể về những trải nghiệm đau khổ khi anh ta nuôi con chó của mình. Nhiều năm trước đây, anh ta nuôi một con chó becgie. Nó có thân hình cao lớn, ăn rất khỏe, tiếng sủa của nó rất vang.

Một hôm, anh cảm thấy mình không còn đủ sức để nuôi nó, anh cho nó vào bao tải và chở đi vứt.

Vì sợ nó quay về nhà, anh đã lái xe đến một vùng núi cách nhà hơn 100km rồi thả nó ở đó.. Sau khi thả con chó, anh lái xe thật nhanh, con chó đuổi theo mấy cây số rồi biến mất.

Một tuần lễ sau, vào lúc nửa đêm anh nghe ngoài cửa có tiếng lạch cach. Mở cửa ra nhìn thì hóa ra con chó quay về. Thân hình của nó gầy còm, dáng vẻ bối rối, rõ ràng là nó đã trải qua một thời gian tìm kiếm khá lâu.

Tuy rất ngạc nhiên nhưng anh ta chẳng nói câu nào, lẳng lặng vào trong nhà lấy ra một chiếc bao tải và cho con chó vào, vứt nó đi một lần nữa.

Lần này anh đi theo đường quốc lộ số 1. Dọc đường đi anh nghe thấy tiếng con chó khóc thúc thít. Khi đến nơi, anh ta mở chiếc bao tải ra, thì thấy toàn là máu. Ở khóe miệng của con chó, máu vẫn tiếp tục trào ra. Anh dùng tay banh miệng con chó ra thì thấy lưỡi nó đã đứt làm đôi. Hóa ra con chó đã cắn lưỡi tự tử.

Khi người tài xế kể xong chuyện, một không khí im lặng lạ thường bao trùm chiếc xe. Từ chiếc kính chiếu hậu, tôi nhìn thấy khóe mắt của anh ta đỏ lên.

Một lát sau, anh ta mới nói: “Mỗi lần nhìn thấy chó của người khác, tôi đều nhớ đến con chó đã cắn lưỡi tự tử của tôi. Sự việc này khiến cho tôi đau khổ suốt cả một đời. Tôi không phải con người. Tôi không phải con chó.”

Nghe xong câu chuyện của người tài xế, trước mắt tôi như hiện ra cảnh tượng: con chó ấy chạy lang thang giữa núi sâu, giữa những cánh đồng hoang, giữa những thành phố ngoại ô. Để trở về nhà gặp lại chủ nhân, nó đã chạy hàng trăm cây số. Khó khăn lắm mới tìm được đường về nhà, vậy mà chủ nhân không những không mở cửa, không một lời động viên nào còn lập tức vứt nó đi lần nữa. Đây là một cú sốc lớn chừng nào đối với một con chó trung thành và tình nghĩa. Để khỏi bị chối bỏ lần nữa, con chó đã tự kết liễu đời mình.

Người tài xế kể tiếp. Anh đã mang con chó về chôn cất ở trong vườn, thường xuyên cầu nguyện cho nó. Vậy mà đến nay anh vẫn chưa gạt bỏ được nỗi ân hận trong lòng. Vì thế anh thề rằng, phải kể cho những người nuôi chó nghe câu chuyện này, khuyên mọi người hãy yêu quý con chó của mình nhiều hơn. Anh hy vọng việc này sẽ giúp anh chuộc lại phần nào tội lỗi của mình.

Một con chó có tình có nghĩa nhưng lại bị vứt bỏ một cách vô tình, điều này khiến cho người tài xế đau khổ suốt cả cuộc đời.

Chó còn như thế huống hồ là con người.

Khi ai đó bỏ mặc một người có tình có nghĩa, liệu anh ta có thể sống yên ổn suốt cả cuộc đời hay không?

Với những kẻ làm cha làm mẹ chối bỏ con cái mình, với những kẻ làm con nhưng lại bỏ mặc cha mẹ tuổi già sức yếu thì tội ác lớn biết chừng nào.

– Sưu tầm –

https://www.yan.vn/cam-dong-voi-cau-chuyen-cho-can-luoi-tu-tu-vi-bi-bo-roi-49850.html

Categories
Chuyện ngắn

TRỞ VỀ QUÊ CŨ


244635850_2259982927499094_7876062281343303148_n

Lê Thy Ka

(Kỷ niệm chuyến đi về Miền Bắc)

Tôi sinh ra ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1953. Khi di cư vào miền Nam năm 1954, tôi chẳng biết gì.
Lớn lên ở Sài Gòn, trải qua biết bao nhiêu là những biến cố lịch sử, để rồi ngày 30/04/1975, Cộng sản lại chiếm miền Nam.
Nơi sinh ra và lớn lên, ai cũng muốn được trở về để được nhìn thấy nó một lần. Ngay từ nhỏ, Bố Mẹ vẫn kể về miền Bắc với biết bao nhiêu là kỷ niệm ngày thơ ấu. Mình chỉ biết nghe. Họ hàng nhà tôi đâu có còn ai là ruột thịt, chỉ còn vài người anh em họ bên Mẹ, tính ra cũng đến đời thứ ba rồi. Vài năm trước về Hải Phòng, chưa về được Hưng Yên, nhưng tôi đã thấy hoảng vì những câu chửi tục của những kẻ bán hàng. Hơi một tí là họ địt, mà họ vừa địt vừa trợn mắt, nghiến răng mới là khiếp!
Mình từ miền Nam ra là họ biết ngay. Chỉ cần nghe giọng nói và cách ăn mặc là họ nắm ngay chóc. Vài ông anh thì cứ nay gọi điện, mai gọi điện vào hỏi thăm và mời ra Bắc chơi một lần cho biết quê hương làng mình.
Thứ Hai tuần trước, suy nghĩ mãi tôi mới quyết định về Bắc một chuyến cho biết “Nơi chôn nhau cắt rốn”. Trước khi ra Bắc, tôi đã phải gửi tấm hình mới nhất của mình ra ngoài đó để các anh nhận ra mà đón.
15g chiều, máy bay đáp xuống sân bay Nội Bài. Sau khi làm thủ tục xong, tôi bước ra ngoài sân bay. Hình ảnh đầu tiên mà tôi nhìn thấy là cánh xe ôm, họ mời chào rất nhiệt tình. Có nhiều tay xe ôm đi giày trông rất lịch sự và hầu hết tay nào cũng lù lù chiếc nón cối trên đầu.
Có lẽ hình ảnh của ông Hồ đã gắn chặt trong ký ức người dân miền Bắc, cho nên ngoài đó rất nhiều người đội nón cối. Mặc áo sơ mi, bỏ áo trong quần, giày tây bóng lộn mà chơi cái nón cối trên đầu thì nhìn rất buồn cười, nhưng có lẽ ngoài đó, người ta đã quen với cái kiểu như thế rồi.
Cánh xe ôm mời chào kinh quá, nhớn nhác mãi, vừa nhìn chung quanh vừa ôm cái giỏ cho chặt, vì lơ mơ mà kẻ nào nó giật mất thì chỉ có ăn “cái ấy” cho no rồi đi bộ về Miền Nam.
“Ka ơi! Anh đây này”. Đang ngơ ngác thì ông anh gọi và lấy tay vẫy vẫy. Anh tôi mặc bộ quần áo bộ đội đã cũ, chân đánh đôi giày da và trên đầu là chiếc nón cối. Một tay xe ôm tưởng ông anh đón tôi giành khách, anh ta đi ra chỗ ông anh và nói gì đó mà tôi không nghe. Tôi chỉ thấy anh tôi trợn mắt và quát lên:
“ĐM! Em tao trong Nam vừa ra đấy”.
Tay kia biến mất, tôi lên chiếc xe Dream và trực chỉ Kim Động – Hưng Yên. Xe đang ngon trớn bỗng đảo nghiêng sang bên kia đường. Anh tôi lẩm bẩm:
“ĐM! Chó toàn ra đường ỉa bậy”.
Tôi buồn cười mà không dám cười. Đang chạy xe, Anh tôi dừng lại, trước mặt là anh thanh niên giơ tay chào. Anh tôi hỏi:
“Đi đâu mà vất thế? Vãi cả mồ hôi ra vậy?”
“Em đi mua tí thịt chó, hôm nay nhà có khách”
“ĐM! Có khách thì phải làm con gà, thịt chó thì đéo ra gì rồi”
“Mà bác đèo ai đấy?”
“ĐM! Cô em trong Nam ra chơi!”
16g30 thì xe về đến làng, mấy đứa con chạy ra vỗ tay mừng bố đã về. Bố nói với thằng lớn:
“Vỗ, vỗ cái đéo gì! Vào bảo mẹ thịt ngay con gà hôm qua mổ vỡ trứng”.
Bữa cơm tối có thịt gà luộc, vài lon bia Hà Nội. Anh tôi bảo là ăn thịt gà là phải có con bia này nó mới hợp. Ngoài Bắc họ uống bia không có đá thì phải, tôi thấy anh tôi mở bia là rót ngay vào ly, tôi cũng không dám đòi đá. Bia Hà Nội uống cũng tạm được. Anh tôi nổ trong bữa cơm kinh quá: Nào là làng mình kỳ này cũng phất lên rồi, không đến nỗi vất như ngày xưa, nhà nào cũng nuôi vài con lợn, chó thì vô tư.
243791245_2259896804174373_7430206923861258937_n
Mà tôi phải công nhận là nhà anh chị tôi lắm chó thật. Nhà xây cấp bốn bình thường, mà tôi nhìn thấy tám con chó. Anh tôi bảo là có khi thịt hết lứa chó này là chúng nó sẽ cấm ăn thịt chó. Mà ĐM! mấy thằng rỗi hơi, tự nhiên lại nghĩ ra cái trò cấm ăn thịt chó. Chị tôi góp chuyện: “Cấm cái đéo gì! Toàn chuyện não lợn”. Tôi không nhịn được cười và buộc phải cười và cười rất lớn.
Hình như văng tục là một nét văn hoá của những người Miền Bắc thì phải! Chuyện gì cũng địt được và cái gì cũng văng đéo.
Tôi vừa bước xuống sân sau để rửa mặt, đánh răng thì dẫm ngay phải bãi cứt chó. Anh tôi nhìn thấy:
“Em ra rửa chân đi. Mẹ nó ơi! ĐM! Xem con chó nào vừa ỉa ra sân, ngày mai thịt luôn, để làm cái đéo gì”.
Cứt chó nhiều thật! Mà hình như cả nhà quen rồi thì phải, vì đâu có ai đi mà dẫm vào cứt chó, chỉ có tôi là dẫm phải, bởi vì mình chưa quen đường lối.
Sáng hôm sau, anh chị tôi dẫn tôi đi xem làng xóm, nhìn lại căn nhà xưa mà Bố-Mẹ tôi đã ở, nơi mà tôi chào đời. Căn nhà rộng tám mét và sâu chừng hai mươi lăm mét, nhà bây giờ là chủ khác ở, chứ không phải là họ hàng, vì khi mình di cư, Nhà nước đã lấy hết và sang nhượng cho nhau. Làng tôi còn nghèo lắm! Tôi thấy cô bé bán thịt đặt vài ký thịt trên mặt bốn cái ghế đôn chập lại, tôi hỏi nó ngày bán được mấy ký thịt thì nó trả lời:
“Báo cáo với bà, cả ngày cháu bán được năm cân. Hôm nào ế thì đéo bán được cân nào!”.
Chung quanh làng không có nhiều quán xá và chỗ nhậu nhẹt như ở trong mình. Anh tôi dẫn tôi đi chung quanh xóm, trên đường nhiều cứt chó lắm. Anh tôi bảo là: “ĐM! Ở đây cả làng đều như thế! Đi đường là phải tinh mắt…”
Vừa tờ mờ sáng, tôi đã nghe thấy tiếng chó kêu, tôi ra sân thì đã thấy con chó bị xích dưới gốc cây mít. Thấy tôi dậy, anh tôi lên tiếng:
“Em ngủ nữa đi, dậy làm đếch gì mà sớm thế?”.
Tôi bảo là lạ nhà nên khó ngủ. Thật ra là cả đêm tôi ngửi thấy mùi cứt chó, nó cứ phảng phất đâu đây. Phải nói là ngoài Bắc họ nhiệt tình. Đúng là làng quê có khác! Mới tám giờ sáng mà cả chục tay thanh niên trong xóm đã tụ tập để làm thịt chó. Vài bà hàng xóm mua hộ anh tôi cặp gà để thịt. Anh tôi phấn khởi lắm, một tí lại: “Em báo cáo với các bác, các chú, hôm nay em làm thịt con chó để mừng cô em trong Nam ra”. Một tay thanh niên nói: “ĐM! Thảo nào cỗ lớn là phải!”…
Tôi đã bỏ thịt chó từ lâu nên cũng chẳng tha thiết gì với món này. Vào những năm 1977, 1978, được con chó như thế này mà thịt thì còn gì bằng, nhưng cái thời khốn nạn ấy đã qua lâu rồi. Bữa cơm ồn ào quá! Họ uống toàn rượu, chỉ có đàn bà là uống bia.
Tiếng chửi tục vang lên loạn xạ. Đàn bà cũng văng tục. Từ nhỏ đến bây giờ tôi mới được ăn bữa cơm như thế này. Đàn bà cứ nói là chửi tục, đàn ông thì văng còn mạnh hơn nữa. Mà họ chửi tục không phải vì giận nhau hay cãi nhau, họ chửi tục vui cơ mới là buồn cười. Đang uống rượu, anh thanh niên đứng dậy:
“ĐM! Em còn mấy lít rượu rễ cây đinh lăng, để làm đéo gì. Biết có sống được đến mai không mà để dành củ khoai đến tối. Em mang sang đánh luôn”…
Mới ở được hai ngày là tôi đã thấy chán! Chị tôi bảo hay là mình thuê xe cho em nó ra Ba Đình thăm lăng Bác. Anh tôi nói luôn:
“Thăm cái đéo gì mà thăm, Anh vào một lần từ lâu rồi, đéo nhìn thấy gì vì cách xa lắm”.
Ngày thứ tư là tôi quyết định ra về, vì tôi mua vé khứ hồi. Bữa cơm trưa lúc mười giờ và chỉ có gia đình. Tôi biết hoàn cảnh của anh chị tôi mà! Tôi biếu anh chị tôi ít tiền. Chị tôi bảo là:
“Chị đéo có nghĩ gì đâu, Em làm như thế Chị ngại lắm”.
Anh tôi chen vào:
“Ngại cái đéo gì mà ngại! Em nó cho thì cứ cầm lấy để hôm nào vào Nam chơi”…
Ngồi trên máy bay, tôi cứ thắc mắc một điều là tại sao họ lại văng tục nhiều thế? Có thể vì họ không được giáo dục, cũng có thể là do thói quen đã nhiễm vào đầu óc từ đã lâu.

Lê Thy Ka

(Kỷ niệm chuyến đi về Miền Bắc)

Categories
5 – Sưu Tầm

MỘT NGƯỜI CẦN ĐƯỢC DỰNG TƯỢNG TẠI VN.


Sưu tầm

Chuck Feeney
Chuck Feeney in New York

Mấy hôm nay chắc các bạn cũng đọc tin về một tỉ phú Mỹ, ông Charles ‘Chuck’ Feeney, 89 tuổi, đã cho đi hết 8 tỉ USD, chỉ giữ lại 2 triệu USD để sống cùng vợ những ngày cuối đời.

Các bản tin cũng cho hay ông đã dành nhiều triệu đôla giúp Việt Nam nhưng ít bài nào cho biết cụ thể đó là gì.
Vừa qua Quỹ từ thiện Atlantic của ông Charles ‘Chuck’ Feeney tuyên bố đóng cửa ngày 15/9 sau đã cho đi hết tài sản của ông.
Theo tài liệu của Quỹ Atlantic, ông Charles F. Feeney, người sáng lập Quỹ Từ thiện Atlantic, có những chuyến thăm dò sang Việt Nam cuối thập niên 1990.
119514543_330422224828901_560793519463123615_n
Các dự án từ thiện của ông tại Việt Nam là tiến hành từ 1997, kết thúc năm 2015. Tổng cộng 297 dự án của Atlantic hiến tặng cho 97 cơ sở địa phương, với tổng số tiền là 381,6 triệu đô la Mỹ.
Trong đó có các ví dụ như:
15 triệu xây dựng trường RMIT tại Hà Nội
11 các tổ chức tại Úc đã nhận được 68 triệu đô la Mỹ của Atlantic để làm việc tại Việt Nam.
2005–2016: 51,4 triệu cho xây dựng, cải tạo, trang thiết bị, đào đạo cán bộ và nâng cấp các trạm xá xã trong 8 tỉnh: Khánh Hòa, Đà Nẵng, Thừa Thiên
Huế, Vĩnh Long, Thái Nguyên, Cà Mau, Đăk Lăk và Yên Bái
2004–2006: 45 triệu nâng cấp và hỗ trợ Bệnh viện Mắt Đà Nẵng
2005–2014: 4 triệu xây dựng năng lực chăm sóc chữa trị về mắt tại 8 tỉnh trọng điểm
2006: 4 triệu xây dựng và trang bị Khoa Mắt và Trung tâm Huấn luyện tại Bệnh viện Trung ương Huế
2009–2012: 2 triệu củng cố năng lực đào tạo cho Viện Mắt Trung ương
2009: 1 triệu cho Trung tâm Cộng đồng Huấn luyện Chăm sóc Mắt tại Bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh
Những món hiến tặng cuối cùng ($2,5 triệu cho Sở Y tế Yên Bái; $1 triệu cho Đại học Y tế Công cộng)
(BBC)
Cách nay 3 ngày, ông đã đặt bút ký giấy đóng cửa quỹ từ thiện Atlantic Philanthropies vì toàn bộ tài sản của ông đã được phân phát hết. Năm nay 89 tuổi, ông không còn là tỷ phú nữa vì đã tặng toàn bộ tài sản và tiền quyên góp là 8 tỷ usd cho người dân và các chương trình từ thiện. Ông từng TN đại học Cornell danh giá và là người giàu thứ 23 của thế giới dù xuất thân từ một khu phố nghèo ở tiểu bang New Jersey và lăn lộn kiếm sống. Vợ và 5 con của ông cũng theo gương ông, sống giản dị dù rất giàu có và cùng làm từ thiện.
119813889_330422194828904_960117022847943917_n
Ông dành 3,7 tỷ USD cho giáo dục, 870 triệu USD cho nhân quyền và hoạt động thay đổi xã hội, 700 triệu USD cho chăm sóc sức khỏe, trong đó có 270 triệu USD để cải thiện nền y tế Việt Nam.
Ông còn cấp rất nhiều học bổng cho sinh viên Việt Nam du học thạc sĩ tại Australia.
Ông Feeney từng có 6 căn hộ sang trọng ở Côte d’Azur (Pháp), Mayfair và đại lộ Park (New York). Ông đã bán tất cả và giờ đây ông thuê lại một căn hộ nhỏ chỉ có hai phòng ở San Francisco để sống.
Trên tường nhà ông có vài tấm hình chụp cùng gia đình, bạn bè. Ở trên có một kỷ niệm chương nhỏ ghi: “Chúc mừng Chuck Feeney đã quyên góp 8 tỷ USD”. Mặc dù là tỷ phú và là chủ chuỗi cửa hàng miễn thuế Duty Free nổi tiếng toàn cầu nhưng xưa nay ông toàn đeo kính cũ, đi máy bay hạng phổ thông và uống rượu loại 2 tại các nhà hàng, chi tiêu dè sẻn và tiết kiệm. Mục tiêu của ông là làm từ thiện.
Câu chuyện ưa thích của ông là về con sóc ăn quả bồ đào mà ông hay kể lại :“Một con sóc thấy bồ đào trong vườn, muốn vào trong ăn một chầu cho đã, nhưng nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để gầy đi, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó chui được ra, bụng vẫn thót lại như lúc chưa chui vào.”
Ông hiểu rằng con người sinh ra trắng tay thì cũng nên tay trắng trở về với cát bụi! và “ tấm vải liệm không có túi”! Vì vậy hãy cho tất cả những gì có thể để có một cuộc đời hữu ích và sống thanh thản.

Ông cho biết “Tôi hạnh phúc vì cho đi toàn bộ tài sản trước khi hết thời gian của cuộc đời”.

Sưu tầm

Categories
6 - Trang lượm lặt

HIỆN TƯỢNG CON BỌ CHÉT


(Sưu tầm)

240119908_1877144572492184_4409466255502926341_n

Các nhà khoa học đã làm thí nghiệm với con bọ chét, họ đặt nó lên bàn. Khi vỗ bàn, con bọ chét vội vàng nhảy lên, nhảy lên đến độ cao gấp một trăm lần cơ thể nó.

Sau đó, người ta cho nó vào một lọ thuỷ tinh đậy nắp lại để nó nhảy thử: lần này con bọ chét đụng phải nắp thuỷ tinh. Sau nhiều lần, con bọ chét đã thay đổi độ cao của bước nhảy cho phù hợp với hoàn cảnh, mỗi lần nhảy luôn giữ một độ cao dưới đỉnh nắp.
Lần sau người ta lại tiếp tục thay đổi độ cao của nắp thuỷ tinh, con bọ chét sau vài lần đụng phải nắp đã chủ động nhảy thấp hơn. Cuối cùng, khi nắp thuỷ tinh đậy gần sát, con bọ chét lúc này không nhảy được nữa.
Các nhà khoa học lại mở nắp thuỷ tinh ra, đặt nó lên bàn. Con bọ chét không nhảy nữa. Nó đã đổi thành “bò chét” rồi.! 🙂
Bọ chét biến thành “bò chét”, không phải vì nó đã mất đi khả năng nhảy, mà do nhiều lần thất bại nên tự thay đổi và hạn chế khả năng vốn có. Điều đáng buồn nhất là ở đây, khi nắp thuỷ tinh kia trên thực tế đã không còn tồn tại, nó cũng không còn đủ dũng cảm để “thử thêm lần nữa”. Nắp thuỷ tinh đã nằm trong tiềm thức của nó. Dục vọng và bản năng của hành động đã bị bản thân nó bóp chết! Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là “tự đặt giới hạn cho bản thân”.

Có rất nhiều người chúng ta cũng giống trường hợp này. Trong quá trình sống đã gặp phải thất bại, đã học quen dần với thất bại, đánh mất tự tin và dũng khí. Từ từ họ đã tạo nên tính cách và diện mạo yếu đuối, do dự, tự ti, không dám mạnh dạn, không dám dốc sức. Khi đó họ cũng giống như “bò chét” mà thôi!

(Sưu tầm)

Categories
5 – Sưu Tầm

Lịch Sử Xe Đạp


Phạm Văn Tuấn
(Đặc San Lâm Viên)

1/ Nguồn Gốc Xe Đạp.

Rất nhiều phát minh lớn lao có giá trị đáng kể đối với nhân loại đã bắt nguồn từ những món đồ chơi. Trong trường hợp xe đạp, nó bắt đầu từ con ngựa gỗ. Vào cuối thế kỷ 18, trẻ em tại thành phố Paris đều biết tới ông De Sivrac. Ông này đã làm một con ngựa gỗ có hai bánh gọi tên là “velocifère”. Có khi đầu con ngựa được thay thế bằng đầu một con sư tử hung dữ. Người lái xe này chỉ việc cưỡi lên lưng con ngựa gỗ rồi đầu tiên, đạp đất bằng một chân, tiếp theo bằng chân kia và giữ thăng bằng để xe chạy một quãng xa.

Từ khi có xe velocifère, các người đưa thư đã chạy thử loại xe này trong công tác hàng ngày, nhưng lúc đầu, nhiều người còn ngượng ngùng. Theo ngày tháng trôi qua, món đồ chơi xe ngựa gỗ đó trở nên quen thuộc đối với người dân Pháp rồi ngay cả tại thành phố London, những nhà thể thao trẻ tuổi cũng ưa thích lái loại xe hai bánh đó.

Xe đạp Draisine, 1817

Tới khi nhiều người lớn bắt đầu dùng loại xe velocifère thì đầu con ngựa hay đầu sư tử được bỏ đi. Các nhà phát minh người Pháp đã làm ra các kiểu mẫu mới, thêm vào đó yên xe và càng trước quay được (pivoted front fork) khiến cho người xử dụng xe bẻ lái dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chính Nam Tước Von Drais, một nhà phát minh người Đức, đã biến đổi chiếc velocifère thành một thứ xe có hình dáng giống xe đạp ngày nay, chiếc xe vì thế được gọi là “draisine” và đã được trưng bày tại Paris vào năm 1818.

Càng trước của xe được kéo dài cao hơn thân xe, tới đoạn gỗ ngang dùng làm tay lái. Thân xe được chế tạo bằng gỗ và sắt, và được uốn cong để thích hợp với chiếc yên xe nhồi bông. Giữa tay lái và yên, có một đệm tỳ tay. Xe “draisine” chẳng bao lâu được người dân Paris ưa chuộng. Mặc dù có rất nhiều loại và có cả loại cho đàn bà, người dùng thứ xe này vẫn phải đạp chân xuống đất để đẩy cho xe chạy.

Một cải tiến khác về xe đạp draisine tiện lợi hơn được bác thợ rèn người Anh tên là Macmilan phát minh ra. Macmilan thêm vào hai thanh sắt nối với bánh sau. Trong khoảng các năm từ 1840 tới 1850, Macmilan đã sản xuất nhiều loại xe đạp đó. Khung xe thời bấy giờ làm bằng gỗ uốn cong, cao lên về phía trước và thấp xuống về phía sau. Xe lại có yên gắn trên các lò xo, một cái dè chắn bùn ở bánh sau và có cả thắng nữa. Trong kiểu xe này, bánh  trước nhỏ hơn bánh sau. Trong cuộc chạy thử 40 dậm, Macmilan đã kết thúc cuộc biểu diễn bằng việc chạy quá tốc độ, khiến cho anh ta cán phải một em bé đứng trong đám khán giả. Anh ta bị phạt vạ 5 bảng vì lái xe bạt mạng.

Cũng trong khoảng thời gian này, Ernest Michaux, con của một người làm xe ngựa tại nước Pháp, rất quan tâm tới xe đạp. Vào năm 1860 tại nước Pháp, đã có rất nhiều xe draisine và chàng Michaux 19 tuổi, thường dùng thứ xe này làm một môn thể thao khi không bận giúp việc cha. Vốn bản tính lười biếng, Michaux ưa thích xuống dốc hơn là leo dốc, vì vậy chàng ta cân nhắc về các cách làm cho việc dùng xe bớt mệt nhọc và thích thú.

Vào một buổi chiều kia, Michaux trở về nhà, mệt phờ. Chàng ta nói với cha: “Thưa cha, con có thể giữ cho xe thăng bằng được, nhưng co chân lên lơ lửng thì cũng mệt nhọc như là đạp chân xuống đất để đẩy cho xe đi vậy”. Nghe con nói, người cha đã trả lời: “Được rồi, thế sao không lắp thêm hai cái tựa tại hai bên càng trước (front fork), như vậy mỗi khi đi xe, con có thể giữ thăng bằng trên xe và lại có chỗ để chân”. Rồi sau một lúc suy nghĩ, ông Michaux lại bảo con: “Nhưng lại có cách này hay hơn, ta nên lắp một trục quay tại bánh trước và con có thể đạp cho bánh trước quay giống như thể ta quay trục của hòn đá mài dao vậy”.

Xe đạp kiểu mới dành cho phụ nữ

Từ đó, xưởng đóng xe ngựa của ông Michaux trở thành nơi chế tạo một loại xe đạp kiểu mới. Chẳng bao lâu, một công ty được ông ta thành lập để chuyên sản xuất xe đạp. Thời bấy giờ, trục quay và bàn đạp được gắn liền vào bánh trước và bánh xe này lớn hơn bánh sau. Khung xe thời đó thường bằng gỗ và rất nhẹ và xe có một thắng tay gắn trên tay lái.

Năm 1866, một người thợ làm trong xưởng của ông Michaux tên là Lallemont qua Hoa Kỳ, anh ta đã thử chế tạo loại xe đạp Michaux, lập ra cơ xưởng sản xuất tại Connecticut và lấy bằng phát minh Hoa Kỳ, nhưng chiếc xe mới này không được phổ thông hóa và công việc làm ăn của Lallemont bị thất bại.

Trong các năm 1870 và 1880, chiếc xe đạp còn rất nặng nề, với trọng lượng từ 75 pounds tới 100 pounds. Bánh xe trước chiếm phần lớn tỉ lệ và người lái xe ngồi vắt vẻo trên cao một cách rất nguy hiểm. Mặc dù nhiều tai nạn đã xẩy ra khi dùng loại xe chế tạo vụng về này, việc xử dụng xe đạp vẫn ngày một gia tăng tại châu Âu cũng như tại châu Mỹ.

Vào năm 1870, đã có một cuộc đua xe đạp tại thành phố New York. Tại nước Pháp, chặng đua xe đạp quốc tế Paris – Rouen dài 83 dậm đã trở nên một tục lệ. Trong cuộc đua này, ban giám khảo cấm đổi xe, cấm dùng chó kéo xe và cấm cả cách dùng buồm! Người dự cuộc đua được 24 giờ để đi hết cuộc hành trình. Cuộc đua bắt đầu từ 7 giờ 15 sáng và người thắng cuộc đầu tiên tới mức đến lúc 6 giờ 10 chiều. Các tai nạn thường là chết ngất vì kiệt sức!

Thêm vào các cuộc đua xe đạp, các hiệu buôn bán xe cũng dần dần xuất hiện và tin tức về xe đạp trở nên một tin quốc tế quan trọng. Các xưởng chế tạo xe đạp mọc lên tại khắp châu Âu và châu Mỹ. Xe đạp đã trở thành một phương tiện vận chuyển. Rồi các thay đổi cuối cùng của xe đạp được thực hiện.

Kiểu xe đạp năm 1885

Vào năm 1877, bàn đạp và trục quay gắn liền vào bánh trước đã được Rousseau, một người thợ máy tại Marseille, thay thế bằng bánh xe có răng và xích xe, giống như thứ thường thấy tại các xe đạp ngày nay. Khung xe bằng sắt vừa khỏe hơn, vừa nhẹ hơn thay thế cho thân xe bằng sắt và gỗ, cả hai bánh xe được thu lại gần nhau, loại thắng bàn đạp làm cho việc lái xe an toàn hơn, lốp xe khiến cho việc ngồi lái trở thành êm ái. Sự cải cách từ các bánh xe to lớn và không bằng nhau thành các bánh xe nhỏ hơn và bằng nhau đã giúp cho việc loại bỏ được trục quay và hai  bàn đạp đạp thẳng vào bánh xe trước.

Sau khi rất nhiều cải tiến đã được thực hiện tại nước Pháp thì nước Anh mới bắt đầu góp phần vào công việc chế tạo xe đạp. Nhiều loại xe 3 bánh và 4 bánh được thực hiện nhưng đều bị báo chí Anh chỉ trích là “những mối đe dọa mới trên đường phố”. Dù sao, kỹ nghệ xe đạp cũng bắt rễ tại Coventry. Tại nơi này, James Stanley đã thêm vào ý kiến lắp nan hoa (spoke) bằng thép vào năm 1874. Hai mươi năm sau, con của Stanley dùng các ống thép để chế tạo khung xe. Cả hai phát minh này đã làm cho xe đạp nhẹ hơn và khỏe hơn. Sự nhẹ nhàng của xe đạp còn nhờ vào Tauffault do cách xử dụng càng trước rỗng lòng.

Chiếc xe đạp của đầu thế kỷ thứ 20

Liên quan tới chiếc xe đạp, ruột bơm hơi có lẽ là phát minh lớn lao nhất. Loại ruột này được Thompson lấy bằng phát minh tại nước Anh vào năm 1845 nhưng tới năm 1889, Dunlop mang áp dụng ruột bơm hơi vào việc chế tạo xe đạp và chỉ 3 năm sau, phát minh này được dùng tại khắp nơi. Thắng tay chẳng bao lâu cũng nhường chỗ cho thắng bàn đạp đằng sau (back pedal brake) là thứ cho phép giảm bớt tốc độ do người lái chạy xe càng ngày càng nhanh.

2/ Xe Đạp Tại Hoa Kỳ.

Xe đạp được người dân Hoa Kỳ dùng muộn hơn so với nhiều nơi khác. Kỹ nghệ xe đạp tại Hoa Kỳ chỉ được phát triển vào năm 1886 với loại “xe đạp an toàn” của Đại Tá Pope tại Hartford, Connecticut. Trong 10 năm tiếp theo, xưởng chế tạo xe đạp của ông Pope đã cải tiến xe đạp khiến cho trọng lượng của xe giảm từ 100 pounds xuống còn 25 pounds và giá mua từ 150 mỹ kim xuống 50 mỹ kim. Cũng trong khoảng các năm này, số xe đạp tại Hoa Kỳ tăng từ vài trăm xe lên tới 4 triệu xe với hàng trăm xưởng chế tạo toàn thể chiếc xe cũng như vài thành phần của xe đạp.

Sự đòi hỏi về xe đạp bắt buộc các nhà sản xuất phải cải tiến phương pháp làm việc chân tay cổ truyền bằng cách dùng tới máy móc. Lối sản xuất hàng loạt được khai triển, các cơ xưởng trở nên chuyên môn về một vài bộ phận và các bộ phận này có thể thay đổi được. Phương pháp làm việc dây chuyền đã trở nên rất quan trọng sau này trong việc chế tạo xe tự động. Cũng nhờ các kinh nghiệm về xe đạp mà các nhà sản xuất Hoa Kỳ có thể chế tạo được xe hơi rẻ tiền hơn với nhịp độ nhanh chóng hơn.

Sự tinh xảo do kỹ nghệ xe đạp mang lại đã có giá trị rất lớn lao cho sự tiến bộ của ngành xe hơi. Vài xưởng chế tạo xe đạp được đổi thành nơi sản xuất xe hơi, chẳng hạn như hãng Stanley và vài nhà tiên phong về xe hơi trước kia đã từng là những chuyên viên sửa chữa xe đạp, chẳng hạn như anh em Durya.

Xe đạp “vận tải”

Các xe đạp tân tiến ngày nay có các đường nét đẹp đẽ hơn, lại được tô điểm bằng nhiều đồ phụ tùng và trong các năm gần đây, ít có thêm các cải tiến căn bản khác. Hiện nay, xe đạp được bình dân hóa và ngay cả vào thời chiến, xe đạp còn là một phương tiện vận chuyển có giá trị, nhất là tại các địa thế hiểm trở mà loại xe hơi rộng hơn và lớn hơn không chạy được.

Phạm Văn Tuấn

(Đặc San Lâm Viên)

Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org., Britannica Encyclopedia. Egon Largen, A History of Invention, Phoenix House, London, 1962.

Source : http://www.dslamvien.com/2021/09/lich-su-xe-dap.html

Categories
5 – Sưu Tầm

Alexandre Yersin.


241249871_1875643679308940_426171343720026715_n

Đầu năm 1943, ông đau nặng. Sáng sớm ngày 1/3, ông bảo người hầu già nâng ông ngồi dậy, nhìn ra biển Đông, rồi nhắm mắt, bình thản ra đi ở tuổi 80 mà không có người thân nào bên cạnh. Ông để lại chúc thư, dặn hãy chôn cất ông ở Nha Trang để mãi được gần gũi những người ông yêu mến.

Cả xóm Cồn hôm ấy và mấy ngày liền sau đó không ai đi biển. Họ khóc như mưa trước cái chết của người ân nhân dành cả cuộc đời cho họ: “Thầy Năm qua đời, từ nay ai giúp đỡ chúng tôi đâu?”. Nhà nhà đều bày bàn thờ với tấm hình ông ở nơi trang trọng nhất.

Ngày nay, cứ ngày 1/3 hàng năm, dân chúng trong vùng lại kéo đến viếng mộ ông.

Ông chính là Alexandre Yersin.
Ông là học trò của Luis Pasteur, người tìm ra vaccine. Khi tưởng chừng sắp được giải Nobel Y học tiếp theo về bệnh bạch hầu, ông quyết định ra đi. Ông lên tàu, làm bác sĩ trên tàu, rồi yêu mến mỗi lần tàu cặp bến Nha Trang. Ông chọn nơi đây làm nơi cư ngụ, chữa bệnh tại địa phương và dành những ngày nghỉ đi thám hiểm.
Ngày 21-3-1893, ông tìm ra cao nguyên Lang Biang. Nói cách khác, ông là “cha đẻ” của thành phố Đà Lạt.
Năm 1894, ông tìm ra chuột chính là nguyên nhân gây bệnh dịch hạch. Ông mở Viện Pasteur ở Nha Trang để bào chế vaccine giúp người Việt chống lại bệnh này.
Ông sống giản dị trong ngôi nhà gỗ nhỏ, nói tiếng Việt giỏi, ngày đêm có ai nghèo ốm đau ông đều tới chữa miễn phí.
Ông làm những dụng cụ đơn giản để dự báo thời tiết. Khi sắp có bão to, ông treo ngọn đèn rất sáng ở một cột cao ngay trên nóc nhà báo cho dân xóm Cồn biết mà không ra biển.
Ông bỏ tiền riêng thuê kéo ống nước về đặt máy nước nhiều nơi cho dân sử dụng.
Ông dành một tủ sách lớn cho bọn trẻ vào đọc. Ông chia bánh kẹo, dạy chúng thiên văn và dự báo khí tượng.
Năm 1902, ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Y Dược Hà Nội.
25 năm cuối đời, ông tập trung nghiên cứu di thực các loài cây ôn đời vào nước ta. Nhờ ông, ta có thêm su hào, bắp cải, cà rốt, xà lách, súp lơ… Và đặc biệt có thêm cà phê và cao su.

Sưu tầm

Categories
Video Clip Thời sự Tran MaiCoUSA

BẢN ĐIỀU TRẦN BẦU CỬ ARIZONA 2020


242822404_3006111206272281_8589708276594160589_n

242697903_3006111162938952_7429748116631653488_n

242729558_3006111136272288_257662161719667795_n

242975000_3006111252938943_7904555750995636255_n

242755087_3006111299605605_268486446065998946_n

Categories
6 - Trang lượm lặt

KIM VỀ VỚI CỔ, CẠN MỘT HỒ TRƯỜNG


Ngô Đình Kính

240143554_1874036529469655_2446932130692265348_n

Khi Kim Dung tạ thế, tên tuổi của Cổ Long – đã qua đời cách đây 36 năm – cũng được nhắc lại. Bởi vì làm sao có thể nói/viết về Kim mà quên đi Cổ, với chiếc gạch nối Minh Báo.

Tác phẩm của cả hai bao trùm toàn bộ thế giới võ hiệp. Nhiều người vì yêu Kim mà ghét Cổ, cũng chẳng ít người vì mê Cổ mà hạ thấp Kim. Nhưng ngày Kim tạ thế, người ta tin rốt cục cả hai cũng đã có thể vứt bỏ những phiền muộn cả đời đeo mang, để cùng nhau cạn một hồ trường.
Kiếm hiệp, đầu tiên và trên hết, là phương tiện để Kim Dung và Cổ Long bộc bạch lòng mình. Khát vọng lập danh, tình yêu và tình bạn. Ngày Kim Dung lập Minh báo, sinh kế luôn là vấn đề thúc bách. Ông vừa phải làm chủ bút, làm biên tập rồi kim luôn người viết. Ông viết xã luận và viết feuilleton kiếm hiệp để thu hút độc giả. Ông bảo mỗi ngày đều phải nuốt ít nhất 7.000 chữ, liên tục suốt 20 năm không dứt, đến nhiều lúc cơm nuốt không nổi.
Cổ Long cũng chọn nghiệp viết để lập danh. So với một Kim Dung xuất thân danh gia, học hành bài bản, vẻ ngoài ưa nhìn, Cổ Long tướng mạo tầm thường, cao chỉ 1,56 mét, đầu to như đấu, mắt nhỏ miệng rộng, đến tuổi trung niên lại còn phát phì. Đã xấu trai lại còn thất học, Cổ Long bỏ học từ rất sớm, lăn lộn mưu sinh. Điều đó khiến Cổ Long dù thông minh và tài hoa nhưng luôn mang đầy tự ti, mặc cảm. Bởi vậy nhân vật của Cổ Long ai cũng phong tư tài mạo tót vời, vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Chính là để bù trừ cho người viết ngoài đời vậy.
Xuyên suốt gần một trăm bộ tiểu thuyết võ hiệp của hai người (Kim Dung 15, Cổ Long gần 70), tất cả đều tập trung bày tỏ nỗi lòng trăn trở của cả hai về nhân sinh. Như những gì đã được Nguyễn Bá Trác ghi lại từ một khúc ca Trung Hoa, rồi đặt tên là Hồ Trường:
“Miên miên mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”
Năm 1972, không lâu sau khi đăng kỳ cuối cùng của Lộc Đỉnh Ký trên Minh Báo, Kim Dung tuyên bố phong bút, vì biết đã đạt đến đỉnh cao của nghề viết tiểu thuyết. Nhưng vì mục feuilleton kiếm hiệp trên Minh Báo đã ăn khách quá lâu, gần như là mục đinh của tờ báo, Kim Dung đã âm thầm tuyển lựa người thay thế mình, để giữ cho tờ báo không mất đi sức hút.
Trần Mặc, trong phần trích đầu sách “Đa tình kiếm khác vô tình kiếm”, thuật lại câu chuyện như sau:
“Khi Kim Dung viết thư tay gửi cho Cổ Long, đấy không chỉ là một lá thư thuần túy của một chủ bút dành cho một người viết để mời cộng tác, mà còn là động thái truyền lại ấn tín của võ lâm minh chủ. Vu Đông Lâu, cộng sự của Cổ Long ngày ấy, cho biết Cổ Long hờ hững nhờ mình bóc thư, xem tay nào từ Hồng Kông lại đi gửi thư cho mình. Đến khi biết là Kim Dung, Cổ Long giật ngay thư lại, xem như báu vật. Đọc xem thư, bần thần nằm dài trên sofa hồi lâu mới ngồi dậy, vì không thể tin đấy là sự thật. Cổ Long đã được Kim Dung thừa nhận. Và để xứng đáng lòng tin của võ lâm minh chủ, Lục Tiểu Phụng truyền kỳ đã được Cổ Long dồn nhiêu tâm huyết, đăng dài kỳ từ 1972 đến 1976 mới hết.”
Sau đó, Cổ Long viết cho Kim Dung, giữa họ là những bức thư. Tình bạn vong niên giữa hai con người khác nhau xa lắc về xuất thân, địa vị xã hội thật đẹp. Kim Dung là bác học, nhưng chưa từng coi thường kẻ mang sở học tạp nham Cổ Long. Cổ Long kiêu ngạo dễ tổn thương, nhưng với Kim Dung luôn trước kính sau quý. Cũng bởi Kim Dung đã đi đến tận cùng nghệ thuật tiểu thuyết bác học, Cổ Long đã nghĩ ra con đường riêng cho mình, để vượt thoát khỏi người đàn anh vĩ đại. Nói cách khác, Cổ Long không hoàn toàn kế thừa y bát của Kim Dung, mà tự mình bước ra, khai sơn lập phái.
Truyện của Kim Dung lẫn Cổ Long nói lên rất rõ sự khác biệt như mặt trăng và mặt trời của cả hai. Điều đó dễ giải thích vì sao fan của người này lại thường không mê được người kia.
Kim Dung, sau khi phong bút, có hai lần dụng công sửa chữa toàn bộ bản thảo của mình. Cổ Long sau khi viết, như chính ông thừa nhận, hoàn toàn không có nhu cầu đọc lại. Kim Dung nghiêm túc với tác phẩm của mình bao nhiêu, Cổ Long vô trách nhiệm bấy nhiêu. Bởi vì Kim Dung luôn trăn trở, nghiền ngẫm khi tỉnh táo. Cổ Long lại chỉ làm việc ấy khi say. Một bên là triết gia, một bên là nghệ sĩ.
Kim Dung viết câu văn thường rất dài. Văn của ông như một lộ thái cực kiếm, kết thúc chiêu này là khởi đầu chiêu khác, ý nối ý, tình kết tình, cứ thế mà liên miên bất tuyệt. Câu văn của Cổ Long lại rất ngắn. Nhịp điệu nhanh, dồn dập như một bộ phim hành động, trinh thám. Kim Dung là danh gia kiếm thuật, Cổ Long là cao thủ ám khí. Ngay cả nhân vật ưng ý nhất của đời Cổ Long – Lý Tầm Hoan – cũng là một bậc thầy về ám khí, với ngọn Tiểu Lý Phi Đao. Và cái tên Tầm Hoan ấy cũng vận vào đời Cổ Long. Cả một đời tìm kiếm niềm vui.
Tình yêu trong Kim Dung thuần phác đôn hậu, chưa nhuốm mùi sắc dục. Quách Tĩnh – Hoàng Dung bên nhau một bước không rời, tình ý miên mang nhưng chưa một lần vượt vòng lễ giáo. Với cả giang hồ, Tiểu Long Nữ có thể đã mất trinh. Nhưng Dương Quá mang nàng trong tim, như một vị hôn thê băng thanh ngọc khiết. Lệnh Hồ Xung trước yêu Linh San, sau yêu Doanh Doanh, giữa đường ăn ngủ cùng với đám tăng ni phái Hằng Sơn, tuyệt chưa một lần nghĩ đến chuyện trên bộc trong dâu. Đoàn Dự, bị ép uống âm dương hòa hợp tán, cho vào trong một phòng với Mộc Uyển Thanh, lửa dục thiêu đốt tâm trí, người bên cạnh lại xinh như ngọc, nhưng thà chết không xâm hại đối phương. Rồi chính chàng sau đó đã yêu và si mê Vương Ngữ Yên như nữ thần. Giữa cái giếng khô, đôi bên hiểu lòng nhau, toàn bộ chân tình dành cho Mộ Dung Phục, nay trao hết cho chàng. Vậy mà tuyệt đối không có màn “hãy ngồi xuống đây, hôn nhau lần này”. Tình yêu đã vượt lên tình dục rất xa.
Cổ Long thì khác. Tác phẩm của ông ngập tràn sắc dục. Nhân vật chính của Cổ Long tuyệt đại đa số là phường đam mê tửu sắc, giết người không gớm tay, chơi gái không gớm… khúc này đã phá vỡ sự nghiêm trang của bài viết, xin lỗi độc giả. Đàn bà trong truyện Kim Dung thanh cao dịu vợi, đàn bà trong Cổ Long dâm tà trá ngụy. Trong vấn đề tình yêu và tình dục, Kim lại rất cổ, còn Cổ lại rất kim.
Trong uống rượu, Kim Dung là dân sành sỏi, biết thưởng thức, mượn chén rượu để trò chuyện. So với Tổ Thiên Thu – bậc thầy thẩm rượu, đám nhân vật chính của Cổ Long chỉ là nhũng đệ tử của Lưu Linh không hơn không kém. Kim Dung dùng rượu để kết giao, Cổ Long dùng rượu để quên sầu. Người ta nói ngày Cổ Long chết, đám bạn chí cốt không mang hoa đến, mà mỗi ông vác một chai Hennessy, cứ thế mà rót xuống mồ, rồi lại mang 48 chai khác chôn theo Cổ Long, tượng trưng cho 48 năm sống trên đời, cùng lời phúng điếu bi thương: “Tiểu Lý Phi Đao thành thất truyền, nhân thế hết gặp Sở Lưu Hương.”
Kiến thức của Kim Dung rất rộng, của Cổ Long rất hẹp. Nếu như tài hoa của Kim Dung đi theo con đường phát huy sở trường thì Cổ Long đích thị là hạn chế sở đoản.
Nhân vật của Kim Dung dẫu cho bị ràng buộc rất nhiều bởi lễ giáo và các khái niệm anh hùng nhưng vẫn ung dung khoái hoạt, càng về sau tư tưởng tự do càng mạnh. Nhân vật Cổ Long thoạt nhìn tự do, kỳ thực luôn bị mắc kẹt với quá khứ lẫn hiện tại. Nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ.
Kim Dung luôn cho cho nhân vật của một một “backstory” rất mạnh. Anh là con ai, học nghệ ở đâu, quá khứ thế nào, tình đầu ra sao? Sau khi đã có backstory đủ mạnh, Kim ném nhân vật vào tiểu thuyết, để họ tự tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Và vì đã có quá khứ lẫn hiện tại, Kim Dung chẳng thể quản tương lai của họ được nữa. Như trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Kim Dung rất thích để cho Trương Vô Kỵ thành đôi với Tiểu Chiêu, cô gái mà ông yêu nhất. Nhưng rốt cục, Trương giáo chủ vẫn từ bỏ giang hồ, về vẽ lông mày cho Triệu Mẫn.
Vì nhân vật của Kim Dung có đời sống riêng, nên họ rất sống động. Và ta luôn nhìn thấy chính mình, ở phần đời của một nhân vật đó. Phụ nữ có lẽ sẽ đồng cảm với Nhạc Linh San thật nhiều, khi nàng từ bỏ “anh trai mưa” Lệnh Hồ Xung để về với tình yêu đích thực của mình: Lâm Bình Chi. Cuộc sống là những lựa chọn. Và dẫu chọn sai, vẫn không có gì hối hận. Đến chết, Nhạc Linh San cũng chỉ cầu xin anh trai mưa chu toàn cho anh yêu của mình. Giây phút ấy, Lệnh Hồ Xung hoàn toàn rũ bỏ được tình yêu đầu thuần khiết, để dành trọn con tim cho Doanh Doanh. Còn nếu trong những giây cuối cùng, Nhạc Linh San lại chuyển sang giọng hối hận, xin lỗi Lệnh Hồ đại ca, hãy tha thứ cho tiểu muội, thì Lệnh Hồ Xung có lẽ chưa thể hoàn toàn quên nàng được. Mối tình giữa chàng và Doanh Doanh tất nhiên vẫn còn một vết gợn, khúc Tiếu Ngạo chưa thể toàn mỹ.
Lại nói về Doanh Doanh, con gái giáo chủ, quyền lực nghiêng thành, lại yêu một chàng lãng tử mê rượu, không có thanh kiếm thì gần như là người vô dụng. Và người con gái ấy yêu nhưng không ghen, dẫu gái bao vây Lệnh Hồ thiếu hiệp như ruồi. Và nàng cũng chẳng hể sốt ruột khi biết Lệnh Hồ Xung chưa thể yêu mình toàn ý. Cái gì của mình sẽ là của mình, không phải của mình, cưỡng cầu cũng chẳng có được. Cẩm nang chinh phục đàn ông, ngoài Doanh Doanh, còn ai có thể viết được đây?
Trong lúc nhân vật của Kim Dung nhân thân rõ ràng, Nhân vật của Cổ Long lai lịch bất minh, là những vì sao lẻ loi trên trời. Khi thế sự giang hồ mở ra, họ đã ở đó với nỗi cô đơn muôn thuở. Nếu Kim Dung là bậc thầy của blockbuster, Cổ Long lại đi theo dòng art-house. Nhân vật của ông hành động và di chuyển, nhưng chẳng biết đi đâu, về đâu. Họ thủy chung không xử lý những mối quan hệ xã hội phức tạp. Dường như cuộc đời của họ chỉ có hai trạng thái: say xỉn và tỉnh táo, sinh tồn và tử vọng. Họ uống rượu thật mạnh, dùng binh khí thật sắt. Họ tiêu diệt kẻ thù trên một hành trình tự diệt.
Bổi cảnh của Kim Dung bao la hùng vĩ, đa dạng thú vị. Độc giả mê Kim Dung sao thể có thể quên được những đại cảnh choáng ngợp: Quang Minh Đỉnh, núi Hoa Sơn, Nhạn Môn Quan, ngọn Thiếu Thất, thành Tương Dương… Kim Dung ném những số phận nhỏ bé vào bối cảnh vĩ đại, như để làm nổi bật sự tương phản của đời người trước số mệnh. Cổ Long thì trước sau chỉ kéo nhân vật của mình vào những chỗ thật nhó bé, chật hẹp: quán rượu, tửu điểm. Nếu có núi thì cũng chỉ là ngọn, nếu có Tử Cấm Thành thì cũng chỉ là nóc nhà.
Những hiệp khách của Kim Dung hành động quang minh, lỗi lạc. Những trận chiến kinh tâm động phách nhất đều diễn ra vào ban ngày, dưới ánh mặt trời. Trong khi đó, hiệp khách của Cổ Long thuộc về màn đêm. Có lẽ vì ban đêm người ta mới… nhậu. A Phi là con sói dưới đêm trăng, Tây Môn Xuy Tuyết là tảng băng dưới trăng, Lý Tầm Hoan là kẻ si tình dưới trăng. Những trận đánh kinh điển của Cổ Long đều diễn ra dưới ánh nguyệt.
Ôn Thụy An khẳng định: “Địa vị của Kim Dung và Cổ Long, tuyệt đối là song song”. Sự so sánh, đối chiếu là điều không thể tránh khỏi trong những ngày này. Kim và Cổ, ai giỏi hơn? Các nhân vật trong truyện Kim Dung, ai giỏi nhất, ai đẹp nhất? Có lẽ chính Kim Dung cũng chẳng có… tư cách để trả lời. Vì như chính ông nói, nhân vật có đời sống và số phận của riêng họ. Chúng ta tuyệt đối chẳng có quyền can dự vào.
Phán xét làm cho con người đau khổ. Kim Dung bị người vợ đầu phụ rẫy, lại đi phụ rẫy người vợ thứ hai, kết hôn với người vợ thứ ba kém mình 30 tuổi. Sau khi phong bút tưởng sống đời khoái hoạt ung dung như Lệnh Hồ Xung, rốt cục cũng chỉ chuốc thêm nhưng ê chề của nhân thế. Con trai đầu treo cổ tự vẫn năm 19 tuổi, con gái thứ bị sốt mà điếc cả hai tai. Nhân thế bảo Kim Dung chỉ vĩ đại trên trang sách, nhưng quá tầm thường giữa đời thực.
Cổ Long một đời đau khổ vì đàn bà, sinh ra hận đàn bà, vùi đầu vào bia rượu. Bỏ địa vị của một tiểu thuyết gia, Kim Dung còn là một nhà lịch sử, nhà ẩm thực học, sinh vật học, nhà nghiên cứu lịch sử… Bỏ địa vị ấy, Cổ Long có lẽ là một ma men thất bại toàn tập. Nhưng dù là bác học như Kim Dung hay thất học như Cổ Long, ở giai đoạn cuối đời họ cũng đã ngộ ra thế nào là tri túc.
Cuộc đời đầy những muộn phiền, chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc và những sát na an ủi. Khi ta biết thỉnh thoảng, ở tận cùng khổ đau, vẫn có người đến bên ta, cùng cạn một hồ trường.

Ngô Đình Kính

Categories
6 - Trang lượm lặt

Những lời khuyên vô cùng quý báu của bác sĩ


242873894_1874073099465998_173802380779139213_n

Bệnh nhân: ăn rau cỏ nhiều, thân hình sẽ thon thả, ăn nhiều thịt thì sẽ mập ù, phải không Bác sĩ?
Bác sĩ: Sao cô khờ quá vậy, con voi ăn toàn cỏ mà sao nó mập thù lù vậy? Con cọp, con beo ăn toàn thịt mà sao nó mảnh dẻ thon gọn vậy?
Bệnh nhân : Thưa Bác sĩ tôi nghe nói tập thể dục thể thao tốt cho tim giúp mình sống thọ hơn, có phải không ạ ?
Bác sĩ : Thượng Đế cho mỗi người 1 trái tim chỉ có thể đập tổng cộng bao nhiêu nhịp đó rồi sẽ hư. Không cần tập thể dục cũng không cần chơi thể thao. Tập thể dục thể thao làm cho tim đập mạnh hơn, nhanh hơn, chẳng khác gì anh nói tôi muốn cho xe tôi bền hơn bằng cách rú ga dọt mạnh. Muốn sống lâu hơn hả ? Cứ ngủ nghê không vận động gì hết …
Bệnh nhân : Tôi có nên ăn bớt thịt và thêm nhiều rau cải hay không ?
Bác sĩ : Anh phải nhớ điều này, bò ăn cái gì ? Cỏ và bắp. Cỏ và bắp thuộc loại gì ? Rau và ngũ cốc, phải không ? Vậy thì ăn thịt bò chẳng phải là một phương cách hữu hiệu và chí lý để chuyển rau vào cơ thể anh chứ là gì ? Cơ thể cần ngũ cốc ư ? Thì ăn thịt bò. Thịt bò cũng là nguồn thực phẩm tốt từ rau lá xanh, vì bò ăn cỏ. Vậy thì 1 miếng thịt bò cũng đủ cung cấp 100% năng lượng cần thiết cho cơ thể trong ngày rồi, bớt thịt là làm sao ? Hả?
Bệnh nhân : Tôi có nên giảm uống rượu mỗi ngày không ?
Bác sĩ : Không, không nên. Rượu vang làm từ trái cây. Rượu brandy làm từ rượu vang nguyên chất, có nghĩa là nước được chắt ra khỏi trái cây để làm rượu, chỉ còn lại cốt tốt của trái cây, cho nên anh lại càng hưởng được các chất bổ nguyên chất của hoa qủa khi uống brandy. Bia cũng vậy, làm từ ngũ cốc.
Bệnh nhân : Ăn đồ chiên xào nhiều qúa cũng không tốt phải không Bác sĩ ?
Bác sĩ : Nãy giờ tôi nói anh có nghe không ? Đồ chiên xào ngày nay dùng dầu thực vật (vegetable oil), vậy thì làm sao ăn nhiều đồ chiên bằng dầu mà lại hại cho anh ?
Bệnh nhân : Tập thể dục vùng bụng như hít đất giúp cho bụng nhỏ lại phải không?
Bác Sĩ : Không, không và không! Khi một bắp thịt nào đó vận động nhiều qúa, nó sẽ sưng vù lên. Nếu anh muốn bụng to thì cứ tập thể dục bụng.
Bệnh nhân : Bơi lội cũng giúp cho thân hình đẹp ?
Bác sĩ : Nếu bơi lội giúp cho thân hình đẹp, anh hãy nhìn mấy con cá voi rồi giải thích cho tôi nghe coi.
Bệnh nhân : Lâu nay tôi ăn uống không kiêng cử thân thể không được đẹp không dám nghĩ tới lập gia đình, những lời chỉ dạy của Bác sĩ làm tôi thức tỉnh bây giờ tôi quyết định lập gia đình !
Bác sĩ : Theo luật Hôn nhân gia đình thì đàn ông (con trai) ít ra cũng được tự do 20 năm (trước khi cưới vợ).

Bệnh nhân : Thưa Bác sĩ, tôi đã có tuổi không còn trẻ.

Bác Sĩ : Cô gái già là phụ nữ không thành công trong việc kiếm chồng, còn trai già là đàn ông thành công trong việc không lấy vợ.

Bệnh nhân : Vậy là sao Bác sĩ ?

Bác sĩ : Hôn nhân là nghệ thuật sống chung hai người mà vẫn hạnh phúc như khi sống một mình!

(Sưu tầm)

Categories
6 - Trang lượm lặt

LỊCH SỬ ÁO TẮM PHỤ NỮ


42551909_167187180863686_8948266350615199744_n

Nhu cầu cho trang phục đồ bơi đã bắt đầu khi việc nghỉ dưỡng tại những vùng biển nhiệt đới xa xôi trở nên phổ biến đối với tầng lớp thượng lưu. Một câu hỏi nóng bỏng được đặt ra khi đó là: “Phụ nữ sẽ mặc gì và mặc như thế nào trên những triền cát trắng… có mặt cả đàn ông? Họ nên phô bày sự hấp dẫn giới tính hay kín đáo che đậy như trước giờ vẫn vậy?”.

42435574_167187440863660_6178486815243108352_n

Câu trả lời đầu tiên đến vào những năm 1800 với một loại trang phục bơi là áo tay phồng vận cùng váy dài quá gối, bên trong là quần, không khác gì so với trang phục ban ngày. Đây là bước đánh dấu đầu tiên cho thời trang áo tắm.

Đến đầu thế kỷ 20 khi thời trang chứng kiến một vài cuộc cách mạng nho nhỏ, mang tới sự giải phóng cơ thể cho người phụ nữ, bộ đồ bơi dần trở nên ngắn hơn, nhẹ hơn và thoải mái hơn. Năm 1907,
42585802_167187517530319_4111903970094481408_n VĐV người Úc Annette Kellerman lần đầu tiên mặc kiểu đồ bơi để lộ hai cánh tay và khoe những đường cong đầy nữ tính và ngay lập tức bộ đồ bơi này trở thành một chuẩn mực cho đến tận 20 năm sau đó. Đến những năm 1940, đồ bơi bắt đầu được thiết kế bằng loại vải cao su giúp tạo dáng ôm sát người mặc với phần hông được khoét sâu và cao hơn.
42596882_167187570863647_2653890576012804096_nĐến năm 1946, bikini – đồ bơi hai mảnh mới được ra đời, thể hiện sự thay đổi tư duy sâu sắc trong xã hội về quyền tự do của phụ nữ, họ được phép mặc và… khoe những gì họ muốn! Bộ bikini bắt đầu được ví von như một bức khung tôn vinh những bộ phận “gây chết người” nhất đối với phái mạnh trên cơ thể người phụ nữ, như phần ngực, eo, chân…
42533430_167187644196973_8104052887493017600_n
Không kém phần thú vị là “tác phẩm nghệ thuật” này có mặt hóa ra lại nhờ công của hai người… đàn ông, Louis Réard và Jacques Heim. Heim đặt tên cho loại trang phục này là Atome (bom nguyên tử), trong khi Réard đặt cho thiết kế của mình bằng tên của đảo san hô Bikini ở Thái Bình Dương – địa điểm diễn ra cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân của Mỹ vào tháng 7/1946. Chỉ qua cách đặt tên thôi, bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được sức công phá mãnh liệt và đầy ghê gớm của bikini với nhận thức của công chúng phương Tây thời bấy giờ về việc phụ nữ được phép hở bao nhiêu cho vừa!
Vì không người mẫu nào đủ can đảm nhận lời diễn, Réard đã phải thuê một cô vũ nữ thoát y để trình làng thiết kế mang tính cách mạng này. Thế giới khi đó vẫn đang trong giai đoạn thoi thóp sau cuộc Đại Khủng hoảng và Thế chiến nên thời trang cho phụ nữ cũng bị ép lại vào khuôn khổ cũ với váy luôn phải dài hơn đầu gối và lưng cao ôm sát eo. Việc trình làng một thiết kế táo bạo chỉ gồm một mảnh che ngực trên, một mảnh che điểm nhạy cảm và vòng 3, trong khi những khoảng thân thể khác để phơi trần của Réard đã gây một chấn động mạnh cho giới truyền thông và công chúng.
Nhưng chỉ một thập kỷ sau, người ta bắt gặp thiết kế gợi cảm này xuất hiện tràn ngập trên bãi biển khắp nước Pháp. Người Mỹ, không ngờ còn cổ hủ hơn, vẫn không chấp nhận bikini cho đến giữa năm 60! Tương tự, ở những nước châu Âu khác, bikini khi đó cũng không được ưa chuộng mấy và thậm chí còn bị cấm ở một số nước như Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Gợi cảm & gợi cảm hơn
Dù Réard, trước đây đã diễn tả phát minh của mình là “áo bơi nhỏ đến nỗi không thể nhỏ hơn” nhưng mỗi năm qua đi, thiết kế của bikini đời sau bao giờ cũng được tiếp tục làm nhỏ hơn đời trước. Nếu ai đó đã từng cho rằng thiết kế năm 1946 của Réard là tột đỉnh táo bạo thì chắc hẳn sẽ… nghẹt thở khi nhìn thấy mẫu bikini của năm 1970. Đó là thiết kế gồm 4 mảnh vải nối nhau bằng những sợi dây mỏng, chỉ đủ che những gì cần thiết.
Không thể phủ nhận bikini là món hàng quảng bá cực kỳ hiệu nghiệm cho những ngôi sao trẻ đang lên. Rita Hayworth đã từng chụp hình bìa cho tạp chí Life, mặc trên người độc mỗi một bộ bikini màu trắng. Jayne Mansfield tham dự một buổi khiêu vũ năm 1956 không mặc gì khác ngoài bộ bikini họa tiết da báo. Hình ảnh của Raquel Welch trong bộ bikini họa tiết động vật trong bộ phim One Million Years B.C (1966) và Bond Girl Ursula Andress trong Dr. No (1962) đã trở thành biểu tượng của thời đại. Và ngày nay, bạn sẽ chưa được công nhận là “siêu mẫu quốc tế” nếu chưa xuất hiện trên trang bìa tạp chí Sports Illustrated với bộ bikini không thể nhỏ hơn được nữa.

Ngày nay, phụ nữ ở tất cả mọi lứa tuổi đều ưu ái bikini, và đã từ lâu họ không còn ngần ngại những khoảng hở của cơ thể khi mặc những thiết kế (đã từng được coi là) táo bạo ấy. Các hãng thời trang ngoài những BST Ready-to-wear định kỳ vẫn cho ra mắt những kiểu áo bơi hợp mùa. Những cái tên được phái đẹp ưu ái phải kể đến là Eres, Missoni, Mara Hoffman, Diane von Furstenberg, Agent Provocateur…

(Sưu tầm)

Categories
6 - Trang lượm lặt

“Lời nguyền Tecumseh” cho các TT Mỹ


VietTimes

242847052_2402293819902515_6412264294677148062_n

“Lời nguyền Tecumseh” từng phán cứ mỗi 20 năm kể từ năm 1840, mỗi đời tổng thống Mỹ đắc cử hay tái đắc cử vào các năm tận cùng bằng số 0 (ví dụ 1880, 1900) đều qua đời khi đang tại nhiệm.

“Lời nguyền” đã ứng nghiệm hơn 100 năm
“Lời nguyền Tecumseh(Tecumseh’s curse) được dùng để mô tả thời kỳ mà cứ mỗi 20 năm kể từ năm 1840, mỗi đời Tổng thống Mỹ đắc cử hay tái đắc cử vào các năm tận cùng bằng số 0 (ví dụ 1880, 1900) đều qua đời khi đang tại nhiệm.
Lúc đầu người ta coi lời nguyền của Tecumseh chỉ là điều bịa đặt. Tuy nhiên, những gì xảy ra với Henry Garrison buộc nhiều người phải thay đổi ý kiến của mình. Những sự kiện xảy ra tiếp theo sau cái chết của Garrison mới củng cố niểm tin của người Mỹ vào sự tồn tại của lời nguyền.
Cái tên Tecumseh xuất phát từ tên trận Tippecanoe (năm 1811). Vào thời điểm đó, với tư cách thống đốc vùng Idiana, William Harrison đã mua chuộc những người da đỏ để họ nhượng lại đất cho Chính phủ Hoa Kỳ, đồng thời Harrison cũng đưa rượu whiskey vào cuộc sống của những người thổ dân gây ra nạn nghiện rượu và tội phạm cho cộng đồng này.
Những hành động của chính quyền đã dẫn tới việc Tecumseh (1768-1813), tù trưởng bộ lạc Da Đỏ Shawnee (vùng Đông Bắc Mỹ), đứng lên đánh lại quân đội Hoa Kỳ. Năm 1811 Harrison đã đánh bại đội quân da đỏ của Tecumseh tại làng của ông. Có thể sau trận Tippecanoe, Tecumseh, anh ruột của Tenskwabawe, người được biết tới như là Nhà tiên tri của người Shawnee, đã đưa ra lời nguyền cho Harrison và các tổng thống Mỹ kế nhiệm.
Lời nguyền Tippecanoe lần đầu được đề cập tới trong cuốn sách “Ripley’s Believe It or Not” được xuất bản phát hành năm 1931. Nó đề cập tới việc kể từ cái chết của tổng thống William Henry Harrison (qua đời năm 1841 sau khi trúng cử năm 1840), cứ 20 năm lại có một tổng thống Mỹ chết khi đang tại nhiệm.
Năm 1860, người đắc cử là Abraham Lincoln. Ngay trong thời gian đầu nắm quyền, Tổng thống Lincoln bị người ủng hộ phương Nam là John Wilkes Booth giết chết.
Năm 1880, James Garfield đắc cử năm 1880 nhưng chỉ sống sót được 4 tháng. Ông bị Charles J.Guiteau, một kẻ thần kinh bất ổn ám sát.
Năm 1900, William McKinley tái đắc cử nhiệm kỳ hai. Sau đó một năm rưỡi, ông bị Leon F. Czolgosz, tự nhận là kẻ theo chủ nghĩa vô chính phủ ám sát.
Năm 1920, sau Thế chiến II, người Mỹ tỏ ra mệt mỏi với Tổng thống Wilson và cử tri đã bỏ phiếu cho một người hoàn toàn đối lập ông. Tân Tổng thống là Warren G.Harding, người bị coi là một trong những lãnh đạo tệ nhất của nước Mỹ. Trong một chuyến vi hành, Harding bị chết vì đau tim ngay trong phòng tại khách sạn Palace.
Năm 1940, Franklin Delano Roosevelt, một trong những vị Tổng thống được lòng dân Mỹ nhất, và là người đắc cử Tổng thống tới 4 lần. Năm 1940, ông tái đắc cử lần thứ 3, nhưng không lâu sau khi được bầu làm Tổng thống lần thứ 4, Roosevelt đã qua đời vì chứng phình mạch.
Năm 1960, John F. Kenedy, vị Tổng thống trẻ nhất của nước Mỹ đắc cử. Ngày 22/11/1963, ông Kennedy bị bắn tại Dallas. Ủy ban Warren đã buộc tội Lee Harvey Oswald là thủ phạm vụ ám sát. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng Oswald chỉ là thế mạng cho một trong những âm mưu lớn nhất trong thế kỷ 20.

242888272_2402293793235851_8272847138403895075_nRonald Reagan vẫy tay chào người dân và báo chí khi rời khỏi khách sạn Hilton tại Washington và bị ám sát hụt chết ngày 3031981. Ảnh Corbis.

Vị Tổng thống đầu tiên thoát khỏi lời nguyền chính là Ronald Reagan, đắc cử năm 1980. Ông Reagan đã bị bắn bởi John Hinckley sau 69 ngày nhậm chức, ông bị thương rất nặng và các bác sĩ nói rằng Reagan có thể mất mạng.

Tuy bị ám sát chỉ 69 ngày sau khi được bầu nhưng Reagan đã hoàn thành trọn vẹn hai nhiệm kỳ tổng thống và chỉ qua đời vì tuổi già năm 2004. Vài ngày sau khi Ronald Reagan bị ám sát không thành, nhà báo Jack Anderson trong bài “Reagan and the Eerie Zero Factor” (“Reagan và nhân tố 0 kỳ quái”) đã nói rằng hoặc vị tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ đã chứng minh lời nguyền là sai, hoặc mạng ông ta quá lớn (he had nine lives). Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ thứ hai năm 1988, Reagan trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên sau 152 năm được bầu vào một năm tận cùng 0 mà không chết khi đang tại nhiệm.

Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, Reagan may mắn thoát chết trong vụ ám sát năm 1981là do viên đạn bắn vào Reagan chỉ cách tim có 2 cm, trúng vào phổi. Valeri Podolxki, tác giả của ấn phẩm “Từ Lubianca đến Kremli” cho rằng phổi bị tổn thương của Reagan được coi là vết thương gây chết người trong thế kỷ XIX, tức là vào thời gian Tecumseh thốt ra lời nguyền của mình.

Có một bí mật lưu truyền trong Nhà Trắng rằng, tất cả các cam kết và nghị định thư mà Tổng thống Reagan phê chuẩn đều được thực hiện theo sao và thuật chiêm tinh. Các chuyến thăm chính thức, nghị định thư hay tiếp đón đều được tổ chức theo thuật chiêm tinh. Thời đó, Đệ nhất phu nhân Nancy đã tổ chức những buổi cầu nguyện tập thể cầu cho chồng thoát nạn. Buổi lễ này có đông đảo người Mỹ tham gia, gồm cả người Mỹ bản địa (người da đỏ). Người ta cho rằng việc này đã giúp ông phá bỏ được lời nguyền

Còn đương kim tổng thống Joe Biden thì sao?

Có xảy ra điều gì tương tự cho người được bầu vào vị trí tổng thống trong năm 2020 Joe Biden hay không? Nếu theo lý thuyết thì các lãnh tụ nước Mỹ chiến thắng trong các cuộc bầu cử vào những năm có số cuối là con số “0” sẽ bị chết hay bị sát hại, thì có thể lời nguyền đang treo lơ lửng trên đầu ông Biden. Và ở đây không nhất thiết nói về cái chết cưỡng bức của Biden. Cần nhớ rằng Biden đã 78 tuổi và đang là người giữ kỷ lục về độ tuổi trong số các tổng thống Mỹ. Chưa có ai lớn tuổi như ông mà ở vào cương vị này.

Như vậy Biden đã là người cao tuổi, chắc sẽ có cơ hội để biện minh cho lời nguyền của thủ lĩnh da đỏ hơn là ai đó trẻ tuổi hơn. Ngoài ra, Podolxki khẳng định rằng Tecumseh nguyền rủa các tổng thống Mỹ chỉ đến “chi thứ bảy”. Đầu tiên là Garrison, sau đó Lincoln, Garfield, MacKinley, Harding, Roosevelt và Kennedy. Có nghĩa chỉ có 7 người. Vụ ám sát Kennedy là cuối cùng trong chuỗi cái chết.

Như Podolxki cho thấy, sức mạnh của Tecumseh không đủ để “lôi”sang thế giới bên kia những người giữ vị trí tổng thống sau Kennedy. Chính vì vậy, âm mưu ám sát Ronald Reagan và George Bush-con đã bị thất bại. Hơn nữa, những tổng thống tiếp theo sẽ chuyển giao quyền hạn của mình một cách thuận lợi cho những người kế nhiệm.

Sưu tầm
VietTimes

Categories
5 – Sưu Tầm Uncategorized

20 ĐIỀU BẠN NÊN BIẾT


118517952_339647170566635_3587457892082824151_o

1. Tiền xu luôn gây ra tiếng động… nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Vì thế khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình luôn khiêm tốn…và nói ít đi!

2. Càng nói ít, càng nghe được nhiều.

3. Khi trưởng thành, tôi ngày càng ít quan tâm đến những gì mọi người nói. Tôi chỉ xem những gì họ làm được.

4. Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”

5. Không ai cần đến một nụ cười nhiều như người không thể cho đi nụ cười.

6. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã!

7. Rất nhiều người không dám nói lên những gì họ muốn. Đó là lý do tại sao họ không có được chúng.

8. Kiên trì làm việc tốt sẽ mang lại nhiều thứ. Như mặt trời có thể làm tan băng, lòng tốt có thể làm bốc hơi sự hiểu lầm, hoài nghi và thù địch.

9. Cuộc sống giống như một cuốn sách. Một vài chương khá buồn, một số chương hạnh phúc và một số chương rất thú vị. Nhưng nếu bạn chưa bao giờ lật thử một trang bạn sẽ không bao giờ biết những gì ở chương tiếp theo!

10. Bạn có thể kết bạn được nhiều hơn trong vòng hai tháng bằng cách quan tâm đến người khác hơn là hai năm cố gắng bắt người khác quan tâm đến bạn.

11. Tình bạn là một tâm hồn trú ngụ trong hai cơ thể.

12. Tôi tiến bộ bằng cách ở cạnh với những người tốt đẹp hơn mình và lắng nghe họ. Và tôi giả sử rằng mọi người đều tốt đẹp hơn tôi ở một mặt nào đó.

13. Tranh cãi với một kẻ ngốc sẽ chứng minh rằng có hai kẻ ngốc.

14. Những người làm việc cùng bạn phản ánh chính thái độ của bạn.

15. Đừng quá khắt khe với chính mình. Thậm chí những sai lầm cũng có nghĩa là bạn đang cố gắng!

16. Không có hành động tử tế nào, dù nhỏ, lại bị xem là lãng phí.

17. Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!

18. Cuộc sống vốn không công bằng, hãy tập quen dần với điều đó!

19. Lưỡi không xương nhưng đủ cứng để làm vỡ nát một trái tim… vì thế hãy cẩn thận với ngôn từ của bạn!

20. Đừng bao giờ cố giải thích con người bạn với bất cứ ai. Vì những người tin bạn không cần điều đó còn những người không thích bạn sẽ không tin lời bạn đâu!

(Sưu tầm)

Categories
5 – Sưu Tầm

ĐỌC SÁCH CÓ ÍCH GÌ?


Sưu tầm

242430471_1871678836372091_8809872162414636549_n

Chuyện kể rằng, tại một ngôi chùa trên núi, có một vị sư phụ đều thức dậy sớm ngồi vào bàn để đọc sách – dù những cuốn sách này đã cũ kỹ. Tiểu hòa thượng bên cạnh sư phụ thấy vậy, cũng cố gắng bắt chước sư phụ mình đọc sách.

Một ngày cậu hỏi sư phụ: ” Thưa sư phụ, con đã cố gắng đọc những quyển sách như sư phụ nhưng vẫn không thể hiểu nó. Có những đoạn con hiểu, nhưng khi gấp sách lại thì quên nó ngay. Vậy đọc sách có lợi ích gì đâu?”

Vị sư phụ liền đứng dậy, lấy hết than trong giỏ đặt vào lò và nói: “Con hãy mang giỏ đựng than này ra ngoài sông và mang nước về giúp ta nhé!”

Vị tiểu hòa thượng làm theo lời dặn, nhưng toàn bộ nước chảy ra hết trước khi cậu quay về đến nhà. Sư phụ liền cười và nói: “Lần sau con cần đi nhanh hơn nữa”. Rồi ông đưa lại cho cậu bé cái giỏ để đi lấy giỏ nước khác.

242537034_1675831125956885_84921801743107065_n

Lần này, cậu bé chạy nhanh hơn, nhưng cái giỏ đã trống rỗng khi cậu về đến nhà. Thở không ra hơi, cậu nói với sư phụ: “Chúng ta không thể đựng nước trong cái giỏ này được”, và cậu định đi lấy cái xô để chứa nước.

Vị sư phụ liền nói: “Ta không muốn đựng nước trong chiếc xô mà là trong chiếc giỏ kia. Con có thể làm được điều này, do con chưa cố gắng hết sức đấy thôi”. Vị sư phụ lại đưa cái giỏ và bảo cậu bé ra ngoài sông lấy nước lần nữa.

243076195_1675113392695325_6421816778808165587_n

Mặc dù cậu biết điều đó không thể nhưng không muốn cãi lời sư phụ, cậu cố chạy nhanh hết sức, nước vẫn chảy hết ra ngoài giỏ trước khi cậu về đến nhà. Tiêu sư phụ nói: “Sư phụ nhìn này, thật là vô ích!”

“Con nghĩ nó vô ích? Hãy nhìn vào chiếc giỏ kia!”, vị sư phụ nói.
Tiểu sư phụ liền nhìn vào chiếc giỏ và lần đầu tiên cậu nhận thấy rằng chiếc giỏ trông thật khác. Thay vì một chiếc giỏ đựng than cũ kỹ và bẩn, nó lại trông sạch sẽ.

“Đó là tất cả những gì xảy ra khi con đọc sách. Có thể con không hiểu hoặc không nhớ mọi thứ, nhưng khi đọc, sách sẽ làm thay đổi bên trong tâm hồn của con, như nước đã làm sạch giỏ than kia vậy”

242493537_1674812522725412_1462424476330339948_n

Sưu tầm

Categories
5 – Sưu Tầm Sưu Tầm Việt Nam

Một Cơn Gió Bụi (Trích đoạn về Cộng Sản)


20994087_1744422655600411_4504540136194777860_n

Trần Trọng Kim

“… Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì? Cứ như ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội, oan ức.

Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì giải phóng ở đâu? Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v.v…thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần.
Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngược tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: ‘’Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ thuế’’. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. Khi Việt Minh đã nắm quyền bính rồi, lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ: ‘’Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà ?’’ Họ trả lời: ‘’Ấy trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc’’. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâu?
Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu ‘’nói như Vẹm’’. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt VM, đọc nhanh mà thành ra…”

-Trần Trọng Kim, “Một Cơn Gió Bụi” (1949)

Categories
Uncategorized

NGHỆ THUẬT CÂU CÁ


Cau ca'2

Có một ông lão câu cá bên bờ sông, một cậu bé ở gần đó nhìn thấy, chẳng mấy chốc mà ông lão đã câu được đầy một giỏ cá, ông lão nhìn thấy cậu bé nhìn mình thật lâu liền muốn đem giỏ cá tặng cho cậu bé, cậu bé lắc đầu, ông lão ngạc nhiên hỏi: “Tại sao cháu không muốn nhận thế?”, cậu bé trả lời: “Cháu muốn cái cần câu mà ông đang cầm cơ!”.

Ông lão hỏi: “Cháu muốn cái cần câu để làm gì?”.
Cậu bé trả lời: “Cái giỏ cá này ăn chẳng mấy mà hết, nếu như cháu có cái cần câu, cháu có thể tự mình câu cá, thế thì cả đời ăn cũng không hết”.
Mọi người xung quanh nghe thấy đều thốt lên: “Cậu bé này thật là thông minh!”.
Nhưng mà ông lão lại nói: “Sai rồi! Cậu bé nếu như chỉ muốn cái cần câu này, thì có khi một con cá cũng không có mà ăn đâu”.
Mọi người xung quanh nghe xong đều không hiểu, ông lão lại tiếp tục nói: “Vì cậu bé chưa hiểu kỹ thuật câu cá thì chỉ có cần câu sẽ là vô tác dụng, bởi vì câu cá quan trọng nhất là “kỹ thuật câu”.”
Rất nhiều người cho rằng trong cuộc sống miễn là bạn có “chiếc cần’ rồi thì sẽ không sợ khó khăn gì nữa, giống như đứa trẻ nhìn thấy ông lão, cho rằng chỉ cần có cần câu thì sẽ có cá ăn đến không hết, thế nhưng cậu bé đâu biết được rằng, ông lão vì học tập kỹ thuật câu cá mà trải qua bao nhiêu khổ luyện, bỏ ra bao nhiêu cố gắng.
Có một vị giám đốc nói: “Một số người trẻ tuổi cho rằng mình có bằng cấp tốt thì không phải lo nghĩ gì nữa rồi, kỳ thực đây chỉ là đã có cần câu mà thôi, con đường tiếp sau còn phải nỗ lực rất nhiều, không học kỹ thuật câu cá, nói không chừng một ngày nào đó có khi còn bị té ngã bên bờ sông!”.

Sưu tầm

Categories
2 – Nhạc Lê-hữu-Nghĩa và Con Gà Què 3 - Nhạc Thầy Trò Trịnh Hoài Đức

CHỈ LÀ CƠN MƠ


Tình thơ/nhạc chẳng là gì khác hơn một cơn mơ cuồng, dù vẫn đủ để đớn đau bất tận… Hãy để thơ nhạc dẫn đưa ta đi tới cõi vô thường, dù cho CHỈ LÀ CƠN MƠ !

sad

***

Mời nghe trên  YouTube Chỉ Là Cơn Mơ – Quốc Duy

Mời nghe bản nhạc này đã được posted trên FaceBook, do nhạc sĩ Phan Đê hòa âm, với sự trình bày của ca sĩ Khánh Vy, dưới một hình thức làm clip khác.

Đính chính : ConGàQuè Azalea viết lời của bản nhạc này (Lyrics) sau khi đã có phần nhạc do anh Nghĩa viết. Thế nên, không phải là thơ (được phổ nhạc) .

CHỈ LÀ CƠN MƠ ! (Lyrics – Lời nhạc)

Chiều mưa gió,
Chiều mưa gió, bão trong hồn tôi bỗng dưng òa vỡ.
Chiều hoang sơ !
Chiều hoang sơ nhớ bao lời ca nhớ bao lời thơ !
Người thơ ơi !
Người thơ ơi lắng nghe từng câu nói rơi tả tơi !
Hồn chơi vơi…
Hồn chơi vơi tiếc thơ tàn theo nỗi sầu khôn nguôi.

Ôi lòng tê tái,
Niềm thương nhớ vấn vương âm thầm mãi.
Thơ là mê say,
Là thương đau đã chôn theo tàn phai…
Là mộng trời mây,
Mộng tình trôi trọn đời tìm không thấy.
Là một vòng tay,
Một vòng tay đầy ắp con tim gầy !

Tình thơ hỡi !
Tình thơ hỡi cớ sao hồn nông nổi không còn lối !
Thời gian ơi !
Thời gian ơi nhớ khi chìm trong nỗi đau mình tôi !
Tình ngu ngơ…
Tình ngu ngơ cuốn mây cuồng mưa lũ tan hồn thơ !
Tình hay thơ ?
Tình hay thơ hỡi ôi tình thơ chỉ là cơn mơ !!!

ConGàQuè Azalea  
(Mpt. 12/2019)

Nghe thêm ….Nhạc LHN

Đọc thêm : Thơ Lê-hữu-Nghĩa – Chuyện ngắn Lê-hữu-Nghĩa  –

HOME

Categories
Chuyện ngắn

Mắt của trái tim


imagesmu

Celine Dion có một bài hát Because You Love Me, lời ca viết rằng :”Nếu em không nhìn thấy, anh sẽ làm mắt em, nếu em không thể nói, anh sẽ là tiếng em”. Lời bài hát đã khiến tôi nhớ đến một đôi vợ chồng mù ở trong thôn của bà ngoại…

Đôi vợ chồng mù trong thôn bà ngoại tôi năm nay đã sắp sửa tám mươi tuổi, đã có một đống con cháu. Nghe bà ngoại kể lại, khi cưới nhau, chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu chú rể đều không nhìn thấy màu sắc, song chú rể vẫn sai người cuốn đầy lụa điều lên xe bò và đầu bò. Đón cô dâu về nhà, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, rà mò khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình.

Việc khó hơn cả là múc nước ở cạnh giếng, lần nào cũng thế, hai người dắt nhau đi, vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, cón tay kia níu chặt bàn tay chồng. Chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên. Trong thôn có người ra giúp, hai người thường từ chối, họ bảo:“Các anh giúp được chúng tôi một giờ, không giúp được chúng tôi một đời“.

Cứ như thế, hai vợ chồng luôn luôn tay dắt tay nhau gánh nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh nổi một gánh nước. Dân làng cảm thấy lạ lùng, đã có mười mấy trai gái trẻ trong thôn đã từng vì đất trơn, trượt chân ngã xuống giếng, nhưng hai vợ chồng mù chưa bao giờ bị như vậy. Càng lạ lùng hơn là chuyện, mặc dù có đông người đang cùng nhau nói chuyện hỉ hỉ hả hả, hai người mù vẫn có thễ nhờ vào tiếng hít thở dài dài mà tìm ra nhau.

Bởi không nhìn thấy, dù mưa dù gió, người ta thường trông thấy hình ảnh hai người dắt tay nhau. Dù làm việc gì, họ cũng tay trong tay. Tay trong tay, hình tượng để nhiều nhà văn viết đi viết lại ấy, đã xuất hiện suốt nửa thế kỷ ở cái thôn nhỏ bé chẳng ai biết đến này.

Ông chồng là tay thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê, thường đến các đám cưới của người khác thổi nhửng bài:“trăm con chim phượng hoàng“, „niềm vui đầy nhà“… mặc dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng chỉ có một yêu cầu, cho người vợ mù cùng đi.

Để vợ ở nhà một mình, ông không yên tâm thổi kèn. Khi chồng thổi kèn, vợ ngồi bên chồng lặng lẽnghe, dường như những điệu nhạc vui nhộn này đều là ông thổi cho bà. Trên khuôn mặt người vợ mù thường hay đỏ ửng lên, khiến ai nấy cũng cảm thấy người đàn bà mù đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết chừng nào.

Về sau này, hai vợ chồng đều đã già, không bao giờ đi ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trồng nhiều hoa trong sân to nhà mình, tất cả đều là những giống hoa tươi rực rỡ, đến kỳ hoa nở, cả sân đỏ rực.

Một lần, ông sơ ý bị ngã què chân. Trong những ngày ông nằm bệnh viện, bà bốn ngày liền không ăn một hột cơm vào bụng, bà bảo, không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà chẳng còn lòng dạ nào mà ăn nữa.

Con cái sáng mắt cũng từng hỏi đùa bố mẹ :“Nếu trời giành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có định dùng mắt nhìn nhau không?“ Bà mẹ mù trả lời:

– Các con nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim, tim sáng hơn mắt, thật hơn mắt.

Ông bố mù thì bảo:

– Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa bao giờ trông thấy một người đẹp nhất, trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả.

Cần mắt để làm gì, mắt là thứ tham lam nhất trên trần đời, nhìn cái gì cũng chia ra tốt hay xấu, xinh hay không xinh, nhìn cái gì muốn có cái đó, trên mặt người ta có một cái rỗ cũng có thể để trong tim suốt đời.

*****

Cũng có người nêu ra ví dụ, nếu vợ mù trông thấy mặt chồng bị bỏng sẽ có cảm tưởng thế nào. Lại có người đặt già thiết, nếu chồng nhìn thấy hai tròng mắt vợ lõm hẳn xuống, liệu có hối hận lời mình nói không?

Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt mà quên dùng trái tim. Đúng như người vợ mù đã nói, con mắt của trái tim mới là sáng nhất, thật nhất.

(Sưu tầm)

Categories
1 - TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 5 - Thơ GS Hồ Xưa (Hồ Nguyễn) 8 - Thơ Lê-hữu-Nghĩa 9 - Thơ Trần Đông Thành

HỔNG SỢ NHỊN THÈM VÀ CÁC BÀI HỌA (THƠ CHUA)


Mời quí bạn THĐ4 coi chậu sen của LHN nè . Một chậu mỗi năm có 4-5 bông thay phiên nhau nở rồi tàn . Suốt mùa luôn có em Liên kề cận .

unnamed (88)
unnamed (89)
unnamed (92)
unnamed (91)

HỔNG SỢ NHỊN THÈM
Cô chị qua rồi tới ả em
Để cho anh rể có tòm tem
Lựa nhà con gái năm ba đứa
Làm rể quanh năm hổng nhịn thèm .
LHN

Họa 1 :
1. CHA DÊ XÒM
Chăm sóc vườn hoa tưởng tượng em
Nằm mơ sướng mắt muốn tòn tem
Ê càng chị hỏi 35 hả!
Lẽo lự chối quanh bố há thèm!
2. MÈO GIÀ THÈM MỠ
Chị cả xa nhà chớ mó em,
Nằm tù gỡ lịch khỏi mua tem.
Coi chừng ống quyển co ro giản,
Rủi té nhăn răng đố gái thèm!
XCQ

Họa 2 :
RÁN CẮN RĂNG
1- Ở nhà đừng có mó sờ em,
Anh có bao bì đã dán tem.
Hai chị đi xa xin chớ giỡn,
Cắn môi ngậm nước rán dù thèm!
2- Nên nhớ đừng sờ mó đến em,
Em đâu ham hố phải cần tem.
Tem này đã dán lên anh chị,
Chị biết nguy cho …dẫu có thèm!
HN

Trở về => Đầu TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 4 –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 3   –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 2 – TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 1  –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA  –

HOME

Đọc thêm =>  Thơ Con Gà Què Azalea   Thơ Trần Đông Thành  – Thơ Nguyễn Cang – Thơ Thầy Hồ Nguyễn –Thơ Lê Hữu Nghĩa – Thơ Hương Lệ Oanh –  Thơ Nhiều Tác Giả

Categories
Chuyện ngắn

Tình nghĩa Vợ, Chồng …


Khi kẻ mất, người còn …đời sống sẽ ra sao?

unnamed - 2021-09-18T191938.107
Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết.“. Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình. Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ, vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.

Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.”. Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ, người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống? Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ. Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.

Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ, để khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình. Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về, bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng. Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt. Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm, bà đi đâu rồi? Khi chợt nhớ bà không còn nữa, nước mắt của ông chảy ra ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt, nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được. Ông tiếc, vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại. Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ muốn nói lời ân hận, thì làm sao cho bà nghe được. Ông tự xét, ông là một con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa. Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai miả. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng, vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh. Lấy kinh nghiệm đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng, họ đang có hạnh phúc quý báu, họ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chỉ còn chiếc bóng, thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.

Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ, vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ. Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn, thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?

Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó làm gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó. Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng, cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý, thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn, thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn, và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống, và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Em ơi! lửa tắt bình khô rượu.
Đời vắng em rồi say với ai?”

Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp. Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.”. Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục. Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết. Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?”. Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ dặp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến. Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó, thì hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ. Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt khách thuê sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện.”. Một lần đi Âu châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các ‘tua’ du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một, để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn. Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!”. Ông cám ơn bà, và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.

Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng. Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu,về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thiá. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng. Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen thui rồi … rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà, thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ? Như một thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện, như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông, vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.

unnamed - 2021-09-18T192717.143

Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn rời khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.”. Có những ngày chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều. Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.

Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạng suy sụp trầm trọng. Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn. Một buổi sáng khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng. Ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc: “Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…”. Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nẩy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thiá và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.”. Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”

Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khoẻ và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không. Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.

Mỗi sáng ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây? cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc vi thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè. Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”.

Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”. Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ ‘phục vụ” làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi. Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng, mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng. Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí. Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn. Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông. Bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn, bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng, chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa, để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết. Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân áí, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn. Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già.

Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ‘ông Phật đất’. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.

Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”

Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã li hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”

Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy. Có thật vậy không?”

Ông chồng cũ của bà Huyền ngững mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”

Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông. Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn: “Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”
Tràm Cà Mau.