Categories
Chuyện ngắn

MÂM CƠM NGUỘI NGẮT VÀ BÀI HỌC VỀ TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG


ua-nuoc-mat-voi-mam-com-thua-canh-can-nha-chong-de-phan-1494844132-149481696545742-anh-2-1494855544-width500height670

Một cuối tuần nọ, tôi cùng vợ con về thăm bố mẹ!
Chiều hôm đấy vợ tôi xuống bếp nấu nướng còn tôi ở trên nhà xem tivi, đến giờ chuẩn bị ăn cơm thì có bác hàng xóm sang nhờ sửa giúp ít đồ điện vì tôi là kỹ sư điện.
Lúc trở về nhà thì cả nhà đã ăn xong và trên bàn là phần cơm và thức ăn đã được đậy cẩn thận bởi lồng bàn. Vừa đói vừa mệt nên tôi cũng không nghĩ gì mà nhanh chóng ngồi vào bàn ăn luôn.
Ngày hôm sau, hai vợ chồng tôi đi thăm hỏi họ hàng gần đó nên về muộn. Về tới nhà, bố mẹ đã ăn trưa xong và đi nghỉ. Vợ tôi bế cô con gái nhỏ lên thẳng phòng để ru con ngủ.
Tôi ngồi xuống bàn và ăn cơm một mình. Lúc ăn gần xong thì bố tôi bất chợt đi vào, ông lặng lẽ ngồi xuống phía ghế đối diện đọc báo.
Một hồi sau khi tôi ăn xong và buông đũa, ông mới ngẩng mặt lên rồi chìa ra một bức ảnh trong điện thoại và nói: “đây là mâm cơm mà tối qua vợ con đã để phần cho con, con thấy đấy, tất cả đều là món ngon con thích nhất và được cất đậy gọn gàng. Giờ thì con nhìn lại bàn ăn mình vừa ăn xong và so sánh xem”. Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống bàn ăn:
– “Con chọn ăn hết những món ngon và chừa lại cho vợ những mẩu vụn của thức ăn thế này sao? Từ việc nhỏ này mà xét thì thấy vợ của con có tấm lòng hơn con nhiều.”
Mặt tôi bỗng nhiên đỏ lên.
Bố tôi nói ý tứ sâu xa: “ Tình cảm vợ chồng thể hiện ở chỗ nào? Là thể hiện ở một giọt dầu, một thìa cơm, một thìa canh trong cuộc sống hàng ngày. Lần trước con vì việc một bữa nấu cơm cãi nhau với vợ, lại còn bao biện hót như khướu, điều đó rõ ràng là con không đúng. Mọi ngày nhà con sạch sẽ, con đi làm về chỉ việc ngồi vào ăn, nếu con về muộn nhất định nó sẽ để phần cho con.”
– “Đừng xem đây là việc nhỏ, nó có thể phản ánh ra tấm lòng của một người, bên trong mâm cơm chứa đựng một bài học lớn về cách ứng xử trong gia đình.
– “Con thử suy ngẫm xem, nếu như vợ con cũng giống như con, làm mọi việc đều không nghĩ đến con nữa, lâu dần, con sẽ thấy thế nào?”
Thực sự là những câu nói làm tôi suy nghĩ. Tôi bỗng nhiên phát hiện ra rằng: thường ngày khi trở về nhà, đôi dép được để gọn gàng, nước trà đã để sẵn trên bàn, mâm cơm ngon ngọt, dù ăn cơm sau nhưng hạt cơm vẫn dẻo thơm khi nguội… đó đều là thể hiện tình cảm yêu thương của vợ tôi, nhưng còn tôi thì sao, lại cứ tùy tiện, coi như không nhìn thấy, không hiểu được những điều đó mà còn suy bụng ta ra bụng người.
***
Tình yêu thương phải được thể hiện qua lại giữa đôi bên với nhau, hãy cảm thông với một nửa của bạn, đừng cho rằng mọi chuyện là họ cố tình gây sự với mình, mà hãy suy ngẫm tìm sai sót của bản thân mình.
Hạnh phúc không phải là ở trong một căn nhà lớn bao nhiêu mà là bên trong căn nhà có bao nhiêu tiếng cười hạnh phúc bên mâm cơm ngọt lành được làm ra từ trái tim ấm áp.
Tác giả: Trần Thơ

Categories
Chuyện ngắn

CON RUỒI


340937975_153485210989749_5980352900764064251_n
Con ruồi nhỏ, chỉ nhỏ xíu. Vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình.
Tôi ốm. Ðiều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, “đẹp” kinh khủng!
Thế là mọi chuyện bắt đầu…
Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tôi đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không, thì cứ gọi là thức trắng đêm.
Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống. Nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn.
Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:
– Sao vậy anh?
Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:
– Có người chết trôi kia kìa!
Vợ tôi cầm ly sữa lên:
– Chết rồi! ở đâu ra vậy cà?
– Còn ở đâu ra nữa?
Tôi nhấm nhẳng:
– Ố! Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à?
Vợ tôi nhăn mặt:
– Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!
– Hứ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết?
Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:
– Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.
Tôi vẫn chưa nguôi giận:
– Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi.
Vợ tôi trố mắt:
– Nó còn trong ly kia mà!
– Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.
– Anh thấy?.. Sao anh còn uống?…
– Ai mà thấy!
– Không thấy sao anh biết có hai con?
Tôi tặc lưỡi:
– Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.
Vợ tôi bán tín bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:
– Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Ðể em…
Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:
– Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?
Vợ tôi giật mình:
– Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?
– Chứ không phải sao?
– Không phải!
A, còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:
– Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?
– Thì có làm phải có sai sót chứ! Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em?
– Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…
Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:
– Em đâu có nói vậy!
– Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!
Vợ tôi nhún vai:
– Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy? Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy tủ ra mới lấy được đồ đạc?
Tôi khoát tay:
– Nhưng đó là chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy ngàn bạc cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?
– Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi bóng đá bị mất xe đạp? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị lột mất đồng hồ?
Cứ như thế, như có ma quỷ xui khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm từng từng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới lớp bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt radio đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya, v.v…và v.v… chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.
Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật chẳng thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:
– Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa. Tôi ngán tới tận cổ rồi!
Vợ tôi lạnh lùng:
– Tùy anh!
Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:
– Ðược rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ.
Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoáng trên giấy với tốc độ 100 km/giờ. Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.
Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được?
Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.
– Cô định làm gì đấy?
– Ðem đổ đi chứ làm gì?
– Không được! Để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại cẩn thận, rồi đem đến tòa án làm bằng cớ.
Ðặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại.
Tôi hùng hục lấy muỗng vớt con ruồi ra, ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ… Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra…
…Đó chỉ là một mẩu lá trà…
(Nguyễn Nhật Ánh)

Categories
Chuyện ngắn

Làm dâu phố cổ!


Làm dâu phố cổ !

Khi em ngỏ lời muốn lấy tôi làm chồng, tôi đã hỏi em rằng: “Có sợ khổ không?”. Em trả lời: “Không! Lấy giai phố cổ thì đời nào lại khổ!

Mẹ em bảo, nếu Hà Nội là miếng trứng ốp lết thì phố cổ là cái lòng đỏ, là tấc đất tấc vàng!”.
Có lẽ khi ấy, em cũng giống như bao nhiêu người khác, chỉ biết đến phố cổ với những nhà hàng, cửa hiệu hào nhoáng, có những ông Tây lang thang trên những con phố lung linh, ngợp lá thu vàng, mà không thấy rằng, phía sau những ánh đèn long lanh ấy là rất nhiều những con ngõ nhỏ gầy gò, ẩm thấp, là những dãy nhà xập xệ, xuống cấp, là những căn phòng chật chội, tối tăm.
Chỉ đến khi tôi dắt em về nhà tôi ra mắt, vào một chiều mưa lay lắt, tôi mới thấy nỗi buồn của em dâng lên trong mắt chập chờn. Em phải gửi chiếc Attila ở cửa hàng hoa, bởi con ngõ quá nhỏ khiến cái xe không thể lọt qua! Mình phải đi bộ một đoạn khá xa mới vào được nhà. Vừa đi, tôi vừa nắm tay em, cười xòa:
– Ở đây, ai đi xe tay ga cũng đều phải gửi ở ngoài như vậy cả! Xe số muốn qua cũng phải cụp gương, bẻ gập tay ga, được cái là xe đạp thì vô tư em à!
Em cười trừ, cố nén tiếng thở dài hoang hoải. Nhưng đến khi bước vào nhà thì em đã không thể nén thêm được nữa, bởi sự ngỡ ngàng đã nằm ngoài sức chịu đựng, bởi thực tế phũ phàng đã vượt xa khả năng tưởng tượng…
– Sao nhà bé thế anh?
Đó là câu đầu tiên em thốt lên khi nhìn thấy căn phòng rộng chửa đầy 20m2 với những vệt loang lổ trên tường, không chiếu, không giường, chỉ có lổm nhổm những người ngồi đứng ngổn ngang. Đó là bố tôi, là vợ chồng con cái anh chị tôi, cả thảy 7 người trong một căn phòng nhỏ và chật chội như một chiếc nôi. Có lẽ, em cũng hiểu vì sao nhà tôi lại không chiếu, không giường, không bàn uống nước. Bởi nếu kê mấy thứ đó ra thì chẳng còn chỗ để ngồi, chẳng còn đường đi lối lại. Tôi quay sang em, giải thích bằng giọng ngài ngại:
– Ở khu này, nhà nào cũng thế cả em à!
Trong bữa cơm, em gần như chẳng nói gì, chỉ im lặng, rồi cuối cùng mới ngập ngừng ghé tai tôi thì thầm:
– Tối cả nhà ngủ ở đâu anh?
– Thì trải đệm nằm dưới nền nhà! Em thấy cái rèm kia không, là của anh trai và chị dâu đấy, lúc nào muốn làm việc riêng thì quây rèm kín lại, làm xong thì lại kéo rèm lên!
– Thế đêm tân hôn, mình động phòng ?
– Ở đây chứ ! Anh sẽ làm thêm cái rèm nữa, giống như của anh chị ấy!
– Có vẻ là không ổn anh à, bởi anh chưa biết đấy thôi, chứ những lúc bị kích động, em thường la hét ầm ĩ, rồi vớ được cái gì là túm, là giựt cái đó, em sợ là mình sẽ giựt đứt cả cái rèm xuống mất?
– Thật vậy sao? Được rồi, để anh tính!
Em thở dài, cúi đầu ăn tiếp. Nhưng có vẻ như ăn đồ ăn nhà tôi không hợp với em thì phải, bởi chỉ lát sau, tôi thấy em ôm bụng nhăn nhó:
– Nhà vệ sinh đâu anh? Em đau quá!
– Ở đầu ngõ! Em đi nhanh đi kẻo không kịp!
Tôi vừa nói vừa vội vàng lấy cuộn giấy vệ sinh và một miếng bìa carton nhỏ đưa cho em. Dẫu đang nhăn mặt vì đau thì em vẫn không giấu nổi vẻ ngạc nhiên:
– Gì đây anh?
– À, là nhà vệ sinh chung của cả khu, nên ai đi thì người ấy mang giấy, chứ để sẵn ở đấy thì bao nhiêu cho vừa?!
– Không, em hỏi miếng bìa cơ mà?
– Là vì nhà vệ sinh quay ra ngõ, mà cái cửa lại hỏng rồi, nên phải mang theo miếng bìa này để che lại!
– Che cái gì ạ?
– Che gì là tùy sở thích! Với hầu hết những người dân trong khu này, vì đã quen mặt nhau nên họ thường che mặt, bởi dù có nhìn thấy bộ phận bên dưới thì cũng không nhiều người có thể nhận ra đấy là ai! Còn em mới tới đây lần đầu, anh nghĩ em cũng chưa cần thiết phải che mặt, che cái bên dưới thôi là được rồi!
Thế rồi cũng đến giai đoạn tôi và em cuống cuồng chuẩn bị cho đám cưới. Thật đen đủi là trong cái lúc bận mải ấy, bố tôi lại không được khỏe cho lắm! Ông cụ hay bị cảm, sốt, ho, đau lưng, đau bụng, nói chung là đau lung tung.
Thực ra, người già bị mấy cái bệnh vặt đó cũng không phải chuyện lạ, vấn đề là cứ hơi hơi đau một tí là bố lại bắt tôi đưa đi viện. Nhiều lúc đang đi in thiếp, đang chụp ảnh cưới, bố tôi cũng gọi điện bảo tôi về chở ông đi. Vợ tôi thấy vậy, dù không dám trách móc nhưng qua giọng nói cũng thể hiện đôi chút phiền lòng:
– Anh đang lo việc như thế, bố không thương anh hay sao mà chỉ mới ho vài tiếng đã bắt đưa đi viện?
– Em đừng hiểu lầm bố! Bố đòi đi viện thực chất là vì bố thương anh thôi! Bởi đi viện, chẳng may có chuyện gì xảy ra thì đưa luôn vào nhà tang lễ, rất rộng rãi và tiện lợi, chứ nếu chết ở nhà thì khổ lắm, không đưa được quan tài vào, không có chỗ đặt mâm phúng viếng, không có chỗ cho bà con khu phố đến hỏi han, chia buồn! Bố không muốn cả nhà vất vả mà thôi!
Buổi tối hôm đám cưới, không biết vợ tôi mệt thật hay sốt ruột chuyện động phòng mà tôi thấy vợ ngáp liên tục, ý muốn đi ngủ sớm! Tôi thì cũng háo hức lắm rồi, nhưng nhìn đồng hồ mới chưa đến 9 giờ tối, chẳng lẽ lại giục cả nhà đi ngủ?!
Cũng may, bố tôi là người tinh ý, ông kêu mỏi lưng, muốn đi nằm trước, rồi bảo là mấy hôm nay lo đám cưới, chắc ai cũng mệt rồi, cả nhà cũng nên đi ngủ sớm thôi! Trong lúc mọi người lục đục trải ga, kê đệm thì bố tôi lạch cạch mở tủ lấy ra hộp bông gòn. Ông véo từng hòn bông nhỏ đưa cho từng người, bảo là để nhét vào tai! Vợ chồng anh trai tôi và đứa con gái lớn của anh chị đã hiểu vấn đề nên ngoan ngoãn làm theo. Chỉ có thằng nhóc con anh trai tôi thì vẫn còn ngơ ngác…
– Sao ông lại nhét bông vào tai con?
– Để ngủ cho ngon con ạ! Đêm nay có biến!
– Thế sao cô chú lại không phải nhét hả ông? – Nó hỏi rồi quay sang nhìn vợ chồng tôi.
– Cô chú có nhét chứ con, nhưng nhét chỗ khác, không nhét vào tai, và không nhét bằng bông đâu con!
Công nhận không ai hiểu tôi bằng bố thật! Đúng là tôi đã thủ sẵn trong túi quần một chiếc khăn mặt để nhét vào miệng vợ. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo của vợ chồng tôi cùng sự hỗ trợ tích cực của cả gia đình mà buổi động phòng đã diễn ra tốt đẹp, đạt kết quả cao.
Ấy vậy mà cũng đã mấy năm kể từ cái ngày em về làm dâu nhà tôi ấy! 7 người chúng tôi vẫn sống, vẫn sinh hoạt đều đặn, bình thường trong căn phòng tuy nhỏ nhưng đầy ắp tình thương. Chiều qua đi làm về, tôi thấy đứa con gái lớn của anh chị tôi ngồi khóc sụt sùi, mặt buồn rười rượi. Tôi gặng hỏi mãi nó mới chịu trả lời:
– Con định lấy chồng, nhưng bố mẹ con phản đối, vì chê anh ấy nhà quê, tỉnh lẻ…
– Tỉnh lẻ hay nhà quê thì có sao đâu, miễn là người tốt và yêu con thật lòng là được! Để chú nói với bố mẹ con giúp cho!
– Nhưng mà… anh ấy muốn ở rể!

– Ừ! Cũng không sao! Hồi trước, chú mua vải may rèm, vẫn còn thừa một mảnh, chú sẽ cho con để con may cái rèm nữa! Với cả, cái lọ bông gòn của ông nội hình như vẫn còn hơn nửa, thoải mái dùng con ạ!

Published: 17 August 2018

Lụm trên mạng

Categories
Chuyện ngắn

NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG…


283669974_746748769899648_6823534474732823565_n

NỖI ÂN HẬN MUỘN MÀNG…

Anh Hai là con trai duy nhất mà 30 tuổi vẫn độc thân nên ba má tôi sốt ruột lắm. Hồi đó, tới tuổi băm mà “chưa có gì” thì thế nào cũng xảy ra nhiều suy diễn kiểu như “chắc thằng đó kỹ tính quá”. Đàn ông con trai mà bị mang tiếng kỹ tính thì coi như… hết cứu.

Chị em tôi lần lượt “bấm còi” vượt mặt, anh Hai vẫn giậm chân tại chỗ, mặc kệ má tôi bồng bế cháu ngoại, nói gần nói xa, rồi hỏi thẳng: “Tới chừng nào con mới chịu cho má bế cháu nội?” Anh Hai cười hì hì trốn sự thúc giục của má bằng cách xách cưa và búa lên chùa.

Ba má tôi là Phật tử, từ khi còn nhỏ, anh chị em tôi đã được ba má dắt tới chùa lễ Phật và tập làm công quả như quét sân, kết hoa vải, dọn dẹp trong những ngày lễ lớn… Nhà chùa đang chuẩn bị mở lớp học cho các em nhỏ lang thang. Bàn ghế thu gom từ các nơi cần được sửa chữa và anh Hai đảm nhận phần việc này.

Trong số các giáo viên tình nguyện đến dạy các em, có một cô dạy toán là người theo đạo Công giáo. Chuyện bắt đầu từ đây. Anh Hai tôi thường xuyên lên chùa nhưng không chỉ để làm công quả mà còn để đưa đón cô dạy toán.

Ba má tôi cắn răng thở dài, ông bà mong biết mấy được thấy con trai có đôi có cặp, nhưng khi có rồi thì vui không nổi. Con trai đầu có bổn phận cúng kính mà lấy vợ khác đạo thì làm sao?

Anh Hai biết tình yêu của mình gây khó cho ba má, nên chẳng dám nói năng gì, cũng không dám đưa chị về chào gia đình. Tôi hỏi nhỏ: “Anh đã tới chào ba má chị chưa?” Anh Hai lắc đầu. Tôi hiểu là nhà bên đó cũng chẳng đồng tình.

Hai gia đình biết rõ con mình thương ai, nhưng làm như không biết. Thời đó, chuyện yêu đương mà chưa có tiếng nói của người lớn thì coi như chuyện ngoài đường. Giả vờ như không biết, nhưng ba má tôi âm thầm theo dõi, thấy anh đưa chị đi lễ nhà thờ. Và nhà bên ấy cũng thầm theo dõi, thấy chị theo anh lên chùa lễ Phật ngày rằm. Hai bên cùng thấy, cùng biết và cùng nín lặng chờ đợi.

Chờ đợi gì cũng không rõ, có lẽ, không bên nào muốn là phía đầu tiên thốt lời khiến con mình đau khổ.

Mối tình của anh Hai kéo dài đến năm thứ ba thì má tôi không kiên nhẫn được nữa. Con mình là con trai, lỡ có bề gì thì mang tiếng ác với con gái người ta. Má ra tối hậu thư “hoặc tình, hoặc hiếu”. Anh Hai cúi đầu chọn bên hiếu.

Lựa chọn của anh Hai khiến má mềm lòng, nhưng thật ra, do âm thầm theo dõi, má đã sinh lòng mến thương người con gái hiền ngoan, vừa đẹp vừa nhân hậu, biết đến với trẻ em khốn khó. Được con dâu như vậy thì cũng đáng để má chịu lùi một bước. Má thuyết phục ba cho phép anh Hai ngỏ lời với nhà bên đó, với điều kiện đạo ai nấy giữ.

Ba má chị lắc đầu, với lời phân tích ngọn ngành rành mạch là phải từ chối người con trai nghề nghiệp đàng hoàng, tính tình tử tế, hiền lành thì cũng tiếc lắm, nhưng mai này sinh con ra thì làm sao? Đứa nào theo cha lên chùa, đứa nào theo mẹ đi nhà thờ? Ừ thì cho phép chúng tự chọn đức tin, nhưng khi mới sinh ra chưa biết gì thì cha mẹ là người dìu dắt, lúc đó làm lễ rửa tội thì sao? Đã nhận lễ rồi thì dĩ nhiên là con của Chúa, ông bà nội có chịu không?

Câu trả lời của ba má tôi là không, cháu nội nhất định phải theo đạo nhà mình.

Vậy là anh chị chia tay. Để khỏi gặp gỡ, khỏi xao lòng, chị không đến chùa dạy lớp học tình thương nữa, người thay thế chị là anh Hai. Trước đó, anh chỉ làm những việc công quả cần sức vóc đàn ông, tới lúc ấy, anh nhận luôn việc dạy học. Bọn trẻ thắc mắc: “Sao cô không dạy tụi em nữa hả thày?”, anh Hai trả lời: “Tại các em làm cô buồn”. Bọn nhóc chẳng hiểu câu trả lời này, thường ngày đứa nào cũng có nhiều lần nói chuyện trong lớp, không làm bài tập về nhà, rồi cãi nhau chí chóe… Cô giáo buồn là đúng rồi.

Anh Hai gầy sọm đi. Cả nhà tôi thở dài, bệnh buồn tình chỉ có thầy thuốc thời gian chữa lành mà thôi. Chữa lành thật không, tôi tự hỏi khi thấy anh Hai vẫn đi về một mình, vẫn cười cười nói nói nhưng ánh mắt chẳng còn sáng lên lấp lánh.

Tai nạn xe cộ bất ngờ cướp đi mạng sống của anh Hai.

Đám tang anh, chị lặng lẽ đến vào buổi tối, khi khách viếng đã ra về hết. Chị lặng lẽ chảy nước mắt trước di ảnh của anh. Nén nhang chị thắp cũng như người, lặng lẽ tỏa làn khói mỏng mà làm cay mắt tất cả. Ba tôi lau nước mắt quay mặt đi, còn má tôi ôm lấy chị mà nức nở. Quá muộn màng!

Sư thầy nói tục lệ đốt quần áo cho người chết đem theo là mê tín dị đoan, lãng phí, thay vì vậy, hãy đem làm từ thiện để làm phước. Tôi rủ chị xếp áo quần của anh để đem đi cho. Những ngón tay chị run run vuốt từng nếp vải như đây mới đúng là lần cuối cùng chị được chạm vào anh. Tôi chọn cái áo màu xám tro anh hay mặc, muốn nói chị hãy đem về giữ cho riêng mình, nhưng cái đầu tỉnh táo của tôi lại nghĩ, nỗi nhớ đã đủ làm khổ chị rồi, tốt nhất là để chị quên anh đi.

Tục lệ quê tôi là người vừa nằm xuống sẽ cảm thấy lạnh lẽo nên hằng ngày sẽ đốt củi sưởi ấm ngôi mộ. Sáng sớm, tôi chở má xuống nghĩa trang, ngang qua cổng, ông bảo vệ hỏi thay lời chào: “Con dâu của dì là cô giáo hả?”. Má tôi chảy nước mắt nhìn chị và bọn nhỏ lớp tình thương xúm xít mỗi đứa một khúc củi xếp lên nhau. Rồi những bàn tay nhỏ bé khum khum nối nhau che gió cho chị mồi lửa.

Tôi và má đứng lại ở xa xa nhìn tới, để cho chị được tự do chăm sóc anh. Má tôi vừa khóc vừa nói: “Biết vậy thì hồi đó má đã gật đầu. Chúa và Phật đều dạy người ta thiện tâm mà”.

Không ai biết trước được điều gì, nếu biết trước thì chẳng ai nỡ làm đau người khác. Tôi thường nói vậy để an ủi ba má và cũng là tự nói với mình. Tới tận ngày giỗ lần thứ bảy của anh Hai, sáng sớm mang hoa xuống mộ, tôi vẫn gặp chị bên cạnh đống lửa; lứa học trò ngày đó đã phiêu bạt khắp nơi, chị ngồi một mình…

Tương Giang

Categories
Chuyện ngắn

NỖI ĐAU KẺ ĂN CẮP CHỒNG NGƯỜI


tay-3

NỖI ĐAU KẺ ĂN CẮP CHỒNG NGƯỜI

Tác giả: Trần Linh

Tôi 30 tuổi, xinh đẹp và có công việc ổn định. Tôi có nhiều mối tình nhưng vẫn chưa tìm được người nên vợ chồng. Quả thật, vì thấy nhiều chuyện tình đổ vỡ xung quanh mà tôi e sợ bước vào hôn nhân. Lấy chồng có quá nhiều bất ngờ và may rủi, tôi cần gì phải có chồng khi bản thân vẫn có thể tự nuôi bản thân và có con nếu muốn?

Bởi thế, tôi định làm mẹ đơn thân để được tự do không vướng bận. Và ý định này của tôi lại càng mạnh mẽ khi gặp anh, người đàn ông khá thành công với chuỗi cửa hàng tiện lợi, hơn tôi 15 tuổi. Anh đã có vợ con, và tôi cũng chỉ muốn có với anh một đứa con để hoàn thành kế hoạch của mình. Tôi muốn con mình có những nét giống anh, giỏi giang và bản lĩnh. Bởi thế, tôi là người chủ động làm người thứ ba để quyến rũ và chinh phục anh.

Anh lúc đầu không hề bị tôi làm lung lay, nhưng dần dà lại say mê tôi lúc nào không hay. Đến lúc đi quá giới hạn, mọi phòng thủ của anh đều đổ vỡ trước tôi. Anh chia sẻ với tôi mọi chuyện, cả việc anh và vợ từ lâu đã không gần gũi thân mật. Họ bên nhau không còn cảm giác, chỉ còn nghĩa vụ.

Và để đúng theo kế hoạch, tôi không hề chuẩn bị biện pháp gì khi gần anh, anh lại tin tưởng rằng tôi sẽ uống thuốc tránh thai. Như dự định, vài tháng sau tôi biết mình có thai. Tôi cũng thẳng thắn nói với anh rằng tôi không cần anh có trách nhiệm với đứa trẻ này, đây là đứa con tôi muốn.

Vợ anh cũng biết sự thật về người chồng ngoại tình của mình. Chị gọi điện cho tôi, lịch sự và tử tế hẹn tôi gặp mặt. Tôi đã lường trước một cuộc gặp chẳng nhẹ nhàng gì, thậm chí có thể xảy ra đánh ghen để dằn mặt và giành giật chồng. Nhưng hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ của tôi, chị chỉ đến để tâm sự. Chị nói chị biết chồng yêu tôi và bản thân chị cũng hiểu cuộc hôn nhân của mình đã không còn tình yêu. Chị sẵn sàng ly hôn để cả hai có cơ hội hạnh phúc cùng nhau.

Tôi cũng không ngại nói rằng bản thân không cần danh phận, chỉ cần đứa con. Nhưng chị dứt khoát nói với tôi rằng, nếu tôi không cần danh phận thì chị cũng sẽ ly hôn. Chị không chấp nhận được việc sống cùng người đàn ông đã ăn nằm với một người phụ nữ khác. Chị không vì bất cứ điều gì mà phá hủy ý nghĩa thiêng liêng của hôn nhân, dù là con cái hay gia đình.

Chị bình thản rời đi, còn tôi cứ bần thần rối bời suy nghĩ. Khi tôi gặp anh, tình trạng của anh cũng không khá khẩm gì hơn tôi. Anh không chỉ buồn bã một hai ngày, mà càng về sau càng đau khổ. Vì chị nhất quyết đòi ly hôn, còn dọn ra khỏi nhà.

Dù rằng sau đó anh luôn bên tôi nhưng tôi biết rõ trong anh luôn tràn ngập đau khổ và hối hận, anh nhớ nhung gia đình cũ của mình. Đỉnh điểm là khi bị con cái gọi điện trách móc, anh hầu như không ăn uống được, sống cạnh tôi như một cái cây vì thiếu nước mà héo mòn.

Bản thân tôi mang bầu lần đầu mệt mỏi đã đành, không được vỗ về ủi an đã đành, thấy anh khổ sở vì gia đình cũ lại càng không chịu nổi. Nhưng dù tôi có đuổi anh đi, anh vẫn ở lại. Hơn ai hết, tôi biết anh ở lại chỉ vì trách nhiệm của một người đàn ông. Để ngày qua ngày, bên cạnh tôi chỉ còn người đàn ông tàn tạ, còm cõi với nỗi ân hận, nhu nhược với tội lỗi của chính mình.

Tôi như sống không bằng chết khi cứ nhìn anh lại thấy bản thân mang tội lỗi quá lớn. Có lẽ đây là cái giá tôi phải trả khi phá vỡ gia đình người khác. Những gì vợ nhân tình làm dù nhẹ nhàng nhất nhưng đã là đòn trả thù chí mạng khiến chồng và người thứ ba là tôi như sống dở chết dở…

Đừng nghĩ nhân danh tình yêu để giành giật người đàn ông của người khác, hay đúng hơn bố của những đứa trẻ là yêu được hạnh phúc. Đừng nghĩ đàn ông có vợ họ yêu mình chẳng qua họ hám của lạ chơi bời đổi món cho đỡ nhàn chán. Yêu chẳng qua là giả dối nếu phụ nữ không mở lòng thì họ cũng ngoại tình với ai.

Phụ nữ à hãy tỉnh táo nếu không địa ngục đang chờ. Cả trong gia đình lẫn ngoài đời. Đừng ngộ nhận họ vung tiền đổi tình cho mình là họ yêu mình. Đừng bao giờ ngộ nhận yêu là vĩnh cửu, chỉ tình nghĩa mới vĩnh cửu. Họ bỏ vợ được thì mình họ cũng bỏ được, hay họ sống thể xác đó còn hồn họ về vợ cũ và con của họ.

Hạnh phúc ấy nó đau lắm, đâu cả thế xác lẫn tâm hồn, đi đến đâu chỉ cần giới thiệu “ … Bà sau” là tủi hổ dâng trào khi họ nhìn ánh mắt coi thường có phần mỉa mai nhất là những người biết cả vợ cũ. Đàn ông thì đêm khuya tỉnh giấc nhớ con, nhớ vợ cũ nhớ thủa lần đầu đón về làm vợ. Nhìn sang bên cạnh thở dài … Nợ đời. 😡

Trần Linh!

Categories
Chuyện ngắn

Ông Việt-Kiều nuôi gái 


107832984_859232264480386_3405415211583737708_n

Ông Việt-Kiều nuôi gái 

Người bạn vong niên nói với Quảng “Ông kể đã nhiều về nuôi rắn, nuôi cá, nuôi dơi, nuôi heo nọc…vậy còn chuyện nuôi gái thì thế nào?”
Hỏi mắc cười thì thôi.
Nhớ hồi Quảng hơn 20 tuổi đang đóng quân trong phi trường Đà Nẵng, lãnh lương gần 30 ngàn trong khi lương Binh Nhì có chừng 12 ngàn. Như vậy so với người ta thì Quảng chẳng đến nỗi đói khát, thế mà chẳng tháng nào Quảng không phải đi cầm thẻ lương ở Khu Gia Binh, nơi vợ mấy ông Thượng Sĩ chuyên cầm thẻ với tiền lời xanh xít đít đui.
Chung qui cũng vì …nuôi gái!
Ở quê Quảng, mấy ông già búi tó, thường ngồi ngâm nga sách thánh hiền bên chai rượu đế như sau:-Muốn giàu nuôi cá
-Muốn khá nuôi heo
-Muốn nghèo nuôi gái…

Nuôi cá, nuôi heo giàu đâu chưa thấy, nước lũ tràn về heo mẹ heo con, cá lớn cá bé trôi tuột ra ngoài biển. Như thế cả hai vế trên đã sai rồi, vế thứ ba ắt cũng cùng một lứa, vậy nuôi gái chắc cũng chẳng nghèo. Tâm đắc như vậy, nên suốt đời Quảng từ hồi trẻ cho đến bây giờ cứ nai lưng ra nuôi gái.
Hồi đó để cuộc sống được thoải mái hơn là ở trong trại, Quảng bèn dông ra phố mướn nhà.
Đối với những em bé nữ sinh ở gần nhà trọ, khởi đầu gọi Quảng là chú- đến khi em bỏ chiếc áo lá phía trong áo dài, mà thay bằng cái chuối-chiên (hình như tiếng Tây kêu là cái soutien) thì xoay ra kêu bằng anh xưng em ngọt xớt- Quảng chỉ tốn tiền dẫn đi xi nê, mua sách Tuổi Hoa màu tím để tặng, dẫn đi ăn kem, ăn bánh bèo rồi “uống ly chanh đường uống môi em ngọt” thì cũng chẳng tốn hao bao nhiêu.

Cho đến một ngày Phi Đoàn ra lệnh đứa nào cũng phải tập nhảy đầm. Không Quân mà không biết nhảy đầm thì quá yếu.
Quảng quê mùa, từ nhỏ đã chân lấm tay bùn, chỉ biết nhảy dây, nhảy cò cò, vô lính biết thêm món nhảy xổm khi bị phạt trong quân trường. Thằng partner dậy cho Quảng cứ kêu oai oái khi đôi bốt đờ sô của Quảng đạp lên chân nó liên tu bất tận. Nó than thở nhảy đầm là môn khiêu vũ rất nghệ thuật, mà phải vần Quảng cứ như vần cái cối xay, rồi từ chối không chịu dậy nữa.
Quảng sợ bị ký củ, vì tội không biết nhảy đầm, nên một mình len lén chui vô Đăng-xinh.

Thấy Quảng khờ khạo nhưng cũng xinh giai, các em xúm bu vào dậy Quảng nhảy. Tiền trả tích-kê thì có đây vì Quảng mới cầm thẻ luơng, nhưng nhảy đầm thì ôm xiết, cọ quẹt tùm lum khiến Quảng rất là “bức xúc”. Quảng cũng biết, rủ mấy em Cave này đi phố hay về nhà trọ thì chết, vì các em là những cỗ máy ngốn tiền, nên đành lom khom tới thăm con cái của bà Tư Nước Nóng hay ghé quán chị Hai Tình. Mục này thâm lạm vào túi tiền của Quảng cũng không ít.

Về sau này có một em vũ nữ khá xinh mê Quảng như điếu đổ. Em nói không cần tiền vì biết lương Quảng chẳng bao nhiêu, nhưng cứ cái mửng hôm nay chiếc váy đầm, tuần tới lọ nước hoa hay cái bóp thì cỡ ông sếp lớn của Quảng cũng còn thác, huống chi Quảng.

Cuối năm 1975 khi mới đến Mỹ Quảng định cư ở tiểu bang lạnh, các em trắng, đen hay gái Mễ lúc thất nghiệp thường ghé căn nhà nhỏ của mấy thằng sinh viên tỵ nạn nghèo mà đòi chia cơm xẻ áo. Số tiền nhỏ nhoi tụi Quảng kiếm được cũng đành bấm bụng chia ra mà bảo trợ mấy em nghèo này.
Bốn năm sau, Quảng hơn chúng bạn ở điểm lấy được cô vợ VN, bởi ngày ấy trai thừa gái thiếu, lấy đại cô vợ “ngoại quốc” thì cũng dăm ba tháng là rã gánh, lấy vợ VN là hãnh diện tự hào phước đức ông bà để lại.
Tưởng đâu ván đã đóng hòm, đời Quảng cứ thế mà trôi theo giòng cho đến ngày Chúa, Phật gọi đi theo ông theo bà. Ấy thế mà rồi có yên đâu, khi ngoài bốn mươi tuổi thì vợ chồng Quảng chia tay nhau, lòng cũng buồn nhiều, nhất là trách nhiệm nuôi hai đứa con gái còn đang đi học. Nàng nhẫn tâm để lại Quảng một mình gà trống nuôi con, mà đi theo người tình trẻ tuổi làm cùng tiệm nails!
Người ta thường thấy đàn bà bỏ chồng, nhưng ít ai thấy đàn bà bỏ con, mà bao nhiêu năm sau chưa bao giờ gửi cho con một món quà, hay một lời thăm hỏi nhân ngày sinh nhật của nó. Quảng nghĩ đàn bà như vậy cũng không tiếc xót gì.
Vết thương nào rồi cũng lành da; con cái lớn rồi lập gia đình, Quảng có nhiều ngày vacation nên về VN thăm nhà. Đi chơi cùng bạn hữu cũ, Quảng quen một người em gái làm ở quán bar nhỏ hơn Quảng hơn 20 tuổi. Quảng cũng chẳng còn trẻ trung gì nữa để mộng mơ em yêu mình về nhân dáng, tánh tình hay tài cán, nhưng nhớ lại ngày xưa có nghe ai nói rằng “Thà lấy đĩ về làm vợ, còn hơn lấy vợ về làm đĩ”.
Thế là Quảng đưa em sang đây. Không những Quảng phải nuôi nàng mà còn phải nuôi bố mẹ, anh chị em nàng nữa mới đau, vì không có tháng nào, tuần nào không có tin nhắn cha đau mẹ ốm, đứa em vào trường nọ trường kia, đứa cháu mới vô nhà thương vì bị xe đụng, cần sửa sang lại căn nhà, mua cho ông anh chiếc xe mới..
Riết rồi Quảng không dám nhấc điện thoại khi nghe nó reo, không check email hàng ngày như trước, vì có là nhà tỉ phú đi nữa cũng không thể lấp đầy cái túi không đáy kia.
Học kinh nghiệm của nhiều người, Quảng chơi chính sách “Ngu dân dễ trị” nên không cho vợ Quảng đi học gì hết, kể cả lái xe, vì biết rằng cửa chuồng rộng mở là con chim sẽ bay mãi không về.
Quảng nuôi nàng như chim kiểng trong lồng, cung phụng đủ mọi thứ, nhưng nàng buồn lắm. Quảng biết thế nhưng làm sao được.
Cho đến một hôm đang làm việc thấy nhức đầu quá, Quảng xin phép về sớm. Tới nhà không thấy nàng đâu và đến chiều, trước cái giờ Quảng thường đi làm về, nàng mới lạch cạch mở cửa vào nhà. Nàng giật mình hỏi sao bữa nay anh về sớm vậy, em được người bạn quen tới chở đi ăn, rồi nói chuyện sa đà vì đã quá lâu không gặp.
Quảng ngạc nhiên là từ đó không thấy gia đình nàng xin tiền Quảng nữa, mà đồ dùng của nàng có nhiều thứ mắc tiền như nước hoa, son phấn, túi xách… Có hỏi thì đều được trả lời là con bạn này cho, đứa bạn kia tặng.
Sự nghi ngờ ngày càng lớn nên một bữa kia sau khi tới hãng, Quảng đổi xe khác cho người bạn rồi lái về gần nhà đậu dưới bóng mát ngồi rình. Y như rằng, có một chiếc xe trờ tới ngừng trước nhà Quảng, rồi nàng mở cửa vừa rảo bước ra xe vừa dòm ngó hai bên. Quảng phóng theo xa xa thì thấy họ vào bãi đậu của một khách sạn loại xoàng ở đường Goldenwest. Đợi họ vào hẳn trong Quảng mới kiếm chỗ đậu cách xa ba bốn chiếc rồi ngả ghế ra đợi.
Hơn 30 phút dựa ngửa trên xe bức bối, Quảng suy nghĩ lung lắm, mình không thể mua súng xông vào làm dữ; ly dị lại càng thiệt thân, mà có khi chưa làm được gì, nó đã tự cào cấu chảy máu tùm lum rồi đổ cho mình hành hạ, vào tù dễ như chơi. Tốt hơn hết là cứ từ từ rồi nhờ tư vấn của ông bạn Luật Sư quen biết.

Mà lạ kià, người đàn ông bây giờ lại đi ra có một mình. Ngó ngoái không thấy cô nàng đâu, Quảng đánh liều bước ra mở nắp máy xe lên gõ cọc cạch, rồi khi thấy anh ta bước ngang liền hỏi:
-Xin lỗi anh có jump cable không ạ?
Anh ta nhìn gương mặt hiền lành có vẻ hơi đần của Quảng rồi gật đầu, lấy giây điện cho Quảng mượn, lại còn tử tế de xe cho gần xe Quảng.Dĩ nhiên xe đề có một phát là nổ máy vì nó có hết bình đâu cơ chứ. Quảng cám ơn rối rít rồi làm quen:

-Anh trọ ở đây hả? Quảng từ San Jose xuống đây làm việc vài tuần, mà buồn quá vì không có bạn nên chẳng biết đi đâu. Nếu ông bạn rảnh, có thể chúng ta đi uống với nhau vài chai không? Xin cho Quảng được mời.

Anh ta liền vui vẻ:

-Được, nếu anh từ xa đến đây làm việc thì hôm nay Quảng xin được làm khổ chủ, còn như anh muốn chi, thì hãy để lần sau.

Chúng Quảng nhắm phố Bolsa trực chỉ.
Người ta nói rượu vào thì lời ra đúng y boong, sau vài chai và gắp nửa dĩa heo rừng xào lăn, Quảng chưa khơi mào thì anh ta đã sung sướng khai báo:

-Quảng đâu có ở khách sạn đó. Mới quen một em móng đỏ ở VN qua. Mình tội gì tốn tiền về bên đó cưới vợ, để mấy thằng già ngu về đem qua đây cho mình. Mấy cha đó lo cong lưng đi làm, có biết đâu trên đầu bị cắm bao nhiêu là sừng. Mấy con yêu nữ này nó quen biết nhau hết từ hồi còn ở VN, nên chỉ dẫn cho nhau đường đi nước bước, cách làm thế nào có nhà ở, có cơm ăn free, mà đi kinh doanh cái vốn riêng kia cũng không hề bị tụi ma cô ăn chận. Cứ chồng đi làm là kêu một thằng chở đến khách sạn. Nó thuê phòng tháng ở đó, một ngày tiếp không biết bao nhiêu khách, vì khách cũ lại giới thiệu số phone cho khách mới, đến trước 3g chiều là giờ chồng đi làm về thì nó đã ở trong nhà. Cái con Quảng mới quen này dễ thương lắm, nó than là thằng chồng già của nó đối xử tàn bạo mà lại bị liệt dương. Ông có muốn số phone của nó không? Con này lạ lắm, khi nó bắt phone thì mình phải kêu lên Ô mai gót (Oh my God) thì nó mới tiếp chuyện.

Trong lòng Quảng cay đắng lắm vì vừa được phong chức thằng già ngu dốt bị cắm sừng, bây giờ còn bị cho là liệt dương..
Quảng hớp một ngụm bia lớn cho cái cục nghẹn trôi xuống rồi hỏi:

-Một dù bao nhiêu?

-Nó đòi hai trăm, nhưng khi ế mà là khách quen thì một trăm cũng OK, có điều khi gọi phone phải đúng mật mã nó mới tiếp.

Suốt mấy tháng sau đó, Quảng cứ âm thầm bầy mưu tính kế, trong lòng như lửa đốt nhưng bề ngoài vẫn cười nói như thường. Quảng tính nhẩm cứ mỗi ngày nó kiếm một vài ngàn thì một tháng ít nhất cũng hai ba chục. Không biết Quảng bị cắm sừng đã bao lâu, có thể số tiền nhơ nhớp kia đã lên tới gần trăm ngàn. Cho dù có gửi về VN đi nữa cũng không là bao, mà gửi nhà bank chắc là nó không dám, với cái thói quen giữ tiền mặt của người mới qua còn lâu mới bỏ được.
Quảng ghê tởm cô ta nên chẳng thiết gần gũi nữa, nhưng vì không muốn gây nghi ngờ, nên bất đắc dĩ lắm thì Quảng mang vớ, biết đâu cô nàng đã dính Sida.
Có một cuối tuần, cô ta xin đi với bạn bè lên Las Vegas chơi vài ngày. Quảng đoán rằng có một khách xộp nào bao đi chơi cả mấy ngày đây, nên tuy tỏ ra khó chịu một chút nhưng sau cùng cũng đồng ý, lại còn nói Quảng cũng phải đi San Jose cả tuần vì công việc hãng.

Trước khi rời khỏi nhà Quảng còn căn dặn phải khoá cửa nẻo đàng hoàng, phải về trong chiều chúa nhật, lên tới Las Vegas phải gọi báo cho Quảng v v….y như lời một người chồng thương yêu vợ rất mực.
Sáng sớm thứ bảy, Quảng phóng xe ra khỏi nhà ít phút là vòng lại, đậu xa xa, lại còn cẩn thận cho xe mình núp giữa hai chiếc xe khác. Một lát sau đã thấy có người đàn ông tới rước nàng rồi xe vụt chạy.
Quảng mở cửa vào nhà, mang găng tay dùng để rửa chén vào, rồi lục các ngăn kéo, moi móc dưới nệm, kẹt tủ, đồ đạc quần áo vất tung tóe trên giường trên thảm, không thấy gì hết…không biết con này nó dấu tiền ở đâu. Ngồi thở dốc vì tức tối, Quảng bỗng sực nhớ tới cái tủ lạnh lưu cữu đầy nhóc ngăn đá, bèn chạy xuống vất ra: này thịt gà, này cá, này tôm, này thịt heo, này thịt bò, này lại thịt bò…còn mấy gói vuông vắn gì đây? Mở lớp bọc nylon, mở lớp giấy bạc foil thì lộ ra toàn tờ trăm, mỗi xấp khoảng 10 ngàn đô. Quảng gôm 6 xấp vào một túi giấy, để kệ cha mấy bọc thịt vương vãi trên nền bếp, mở khóa cánh cửa sau nhà cho giống một vụ ăn trộm, rồi đường hoàng khoá cửa trước, lái xe ra thăm tủ an toàn ngoài nhà bank rồi vọt lên San Jose chơi.
Khuya chúa nhựt, cell phone của Quảng reo rồi tiếng nói như lạc thần của yêu nữ:

-Anh ơi nhà mình bị ăn trộm.
Quảng làm bộ sửng sốt:

-Khi nào? Nhà có mất gì không? Cửa chính, cửa sổ có bị đập bể không?

-Đồ đạc nó xổ tung khắp nhà, máy móc còn nguyên, em thấy cửa sau mở.

-Chắc là em quên khoá cửa trước khi đi chớ gì, anh đã dặn rồi. Thôi, chắc là ăn trộm thấy trong nhà cũng không có gì đáng giá, vì TV với computer cũ bán chẳng ai mua. Em có muốn kêu Cảnh Sát thì kêu, chứ anh thấy cũng không cần thiết vì mình có mất cái gì đâu.

-Nhưng mà em mất tiền.

-Bao nhiêu? Mà ở đâu em có?

-Dạ chút đỉnh thôi. Em nghĩ cũng không cần kêu cảnh sát.

Quảng chửi thầm “Mẹ nó, mất có chút đỉnh thôi hả? Đồ khốn, dám qua mặt ông.”

Trưa thứ hai là Quảng về đến nhà. Đồ đạc còn tung tóe như bãi chiến trường. Nàng nằm úp mặt xuống gối, dã dượi như cái xác chưa chôn. Tiếc tiền quá mà!
Những ngày tháng sau đó, như để kiếm thêm thật nhiều để bù vào số tiền đã mất, nên nàng ta đi bất kể ngày đêm, chỉ viết giấy nhắn lại với Quảng là đi họp mặt bạn bè, đi chơi xa. Người ta thì còn có bạn cùng lớp, còn bạn của cô ta chắc chắn toàn là gà móng đỏ.
Quảng đã thuê một công ty thám tử tư, họ theo dõi, quay phim ghi âm đủ cả, để làm bằng chứng nên một bữa kia, sau khi cô ấy nặng lời với Quảng, Quảng liền chở ra văn phòng ông bạn Luật Sư quen biết. Trên xe, cô ta hù doạ Quảng đủ điều, nào là chia của chia nhà… nhưng cô đâu biết những giấy tờ bằng Anh ngữ đã ký trước khi lấy nhau, rằng cô không được quyền chia chác gì, vì của cải đó đã do Quảng làm ra trước khi kết hôn.
Khi nghe Luật Sư trình bày mọi vấn đề, với nhiều chứng cớ ngoại tình thì cô ta tái mặt, im họng liền. Quảng nhỏ nhẹ:

-Thôi, tình nghĩa đôi ta tới đây chấm dứt. Ngày mai cô có thể dọn ra khỏi nhà.

Quảng chỉ có thể làm một điều cho cô, là hoãn việc ly dị cho đến khi cô đủ 3 năm để thi vào quốc tịch. Nếu sau đó 6 tháng mà cô vẫn rớt, thì Quảng buộc lòng phải nhờ Luật Sư đây nộp đơn ly dị.
Từ đó Quảng ở một mình thong dong tự tại, lâu lâu đi đấm bóp và ăn kim chi một lần.
Số tiền 60 ngàn kia Quảng đã rỉ rả lấy ra, mua vàng ở Phúc Lộc Thọ tống vào Safety box. Quảng cũng không màng đến số tiền nhơ nhớp này, nhưng chắc chắn nếu cần sẽ lấy ra giúp đỡ con gà móng đỏ kia khi nó lâm vào bước đường cùng. Chắc cũng không lâu lắm đâu, mà nếu đối đế Quảng cũng dùng vào việc khác chứ không phải cho cá nhân Quảng.

Đứa con gái lớn và chồng nó đều ở trong quân đội, lại mới có lệnh đi qua Trung Đông nên đem hai đứa con nhỏ về gửi cho Quảng.
Cứ mỗi sáng, ông ngoại chở tụi nó đến trường, chiều đón về.
Không biết trong tướng mệnh có vì sao “nuôi gái” không, mà sao nó chiếu mệnh Quảng suốt từ hồi thanh niên cho đến tuổi già: Nuôi gái nhí, đào non, gái già, nuôi con gái, nuôi gà móng đỏ rồi bây giờ nuôi hai con mắm cháu ngoại.
Nếu trời cho Quảng thọ, chừng mười mấy năm nữa may ra được nuôi cháu cố.

Nguyễn Viết Tân

Categories
Chuyện ngắn

TÔI XIN ĐƯA EM, ĐẾN HẾT CUỘC ĐỜI


Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1. Cảnh nghèo
Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.
Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.
Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.
Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.
Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”.
Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”.
Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!
Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mình , tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.
Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

2. Cười xót xa
Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.
Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.
Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.
Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v…
Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”.
Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường…”
Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:
“Chị ơi, em yêu chị!”.
Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

3. An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.
Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.
Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:
“Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”.
Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.
Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?
Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.
Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.
Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.
Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”.
Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

4. Kiếp này
Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.
Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.
Lúc đó chị đã 29 tuổi.
Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.
Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!
Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.
Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.
Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.
Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.
Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”.
Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?
Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất trên đời.

5. Xin lỗi
Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.
Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.
Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:
“Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”.
Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:
“Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”.
Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

6. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa
Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.
Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.
Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:
“Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.
Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

(Sưu tầm)

Categories
Chuyện ngắn

NGƯỜI VỢ MÙ.





Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày. Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.

Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ:
“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì”.

Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói:
“Cô sẽ sớm bị mù”.

Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi. Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn. Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi. Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi.

Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm. Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù.

Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa. Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói:
“Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả”.
Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.

Mọi chuyện sau đó diễn ra suôn sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sự lo lắng của tôi và chồng đều là thái quá. Khi dừng đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:
“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?”

Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù.
“Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào.
“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao. Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”

Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui.

Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói:
“Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”

Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to:
“Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy”.

Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng. Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: Cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ thế?

Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó. Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy (chí ít là với tôi) tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.

Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.

Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng. Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên:
“Cô James chờ cháu.”
“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến”.
“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự.
Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây”.

Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.
“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.”

Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.

Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường. Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú.

Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó.
“Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy”.

“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?”

“Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà. Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm”.

“Thật vậy sao?” Tôi không còn biết nói gì hơn.

“Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa cháu sợ cô vẫn giận chú”.

“Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?”

Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào.. Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.

Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.

Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn. Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó.

Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày.
 
(Sưu tầm)

Categories
Chuyện ngắn

NỖI NIỀM KHI LẤY VỢ GIÀ.


449407337_792277129614446_5162659932488900353_n

NỖI NIỀM KHI LẤY VỢ GIÀ.

Sau 365 ngày tìm hiểu, cuối cùng hai đứa quyết định đi đăng ký kết hôn. Sáng nay đến ủy ban xã, vừa kéo ghế ngồi thì thằng cán bộ tư pháp liền ngẩng lên bảo “Hai bà cháu đi làm thủ tục thừa kế à?”.
Mình đỏ mặt lí nhí bảo: dạ ! bọn em đăng ký kết hôn.
Mọi ánh mắt đổ dồn vào.
Thằng tư pháp lại hỏi :
“Thế vợ đâu mà bắt bà nội đưa đi?”.
Vợ mình tái mặt, tay run như đang bắt chuồn chuồn, ấp úng không nói nên lời.
Điên quá, lại xấu hổ nữa, mình gắt um lên: Vợ tôi đấy! Bà nội cái gì mà bà nội. Mấy người trong phòng cười ồ lên. Một chị người quen rụt rè hỏi, vợ chú năm nay bao tuổi rồi.
Mình nói : dạ 60. Chị này chép miệng xuýt xoa: “Ôi trẻ thế! 60 tuổi mà nhìn cứ như mới 59 tuổi í hihi !”.
Xong việc, từ ủy ban ra, hai đứa dẫn nhau vào studio hỏi chụp ảnh cưới. Vợ phấn khởi lắm, nói em sẽ mặc váy như này, đội cái vòng hoa như này, xong thì bảo chúng nó photoshop cho trẻ gần bằng anh rồi úp phây búc cho thiên hạ lác mắt ra.
Đang hớn hở thì thằng thợ ảnh chạy ra bảo “Cụ ơi! Ở đây chúng cháu không chụp ảnh thờ, cụ thông cảm!”. Lần này không nể nữa, vợ mình chửi cho một trận:Thờ,thờ cái thằng cụ mày à! Nó gãi gãi đầu nói : cháu, à quên , em xin lỗi chị. Tại vì em trông chị chững chạc, già dặn quá.
Rồi hai đứa đi ăn kem. Vợ bảo thi thoảng phải đi ăn kem cho giống bọn trẻ, không chúng lại nghĩ vợ già rồi.
Nhớ hồi đầu khi mới quen, mình gọi điện rủ chị đi ăn lòng nướng, khi ấy vừa chuyển từ “cô” sang “chị”. Vợ e thẹn nói “Dạ, để em thắp hương xin phép mẹ đã. Mẹ em dặn con gái buổi tối không được ra khỏi nhà”. Đợi mãi, lát sau chị đi bộ ra, tay cầm cái quạt ve vẩy. Mình hỏi cầm quạt đi làm gì. Chị bảo: để tí ăn xong ghé qua công viên tập dưỡng sinh với các bạn luôn.
Hồi đó bọn bạn chửi dã man, chúng nói khẩu vị của mày mặn nhỉ, lái hẳn máy bay đời cực sâu luôn. Tao hỏi thật là điện nước đầy đủ nữa không, có làm ăn gì được nữa không hay:” giữa giờ chơi mang đến lại mang về? “ Cả bọn cười ré lên như ma nhập. Điên thế không biết.
Hôm nay đám cưới, mọi người tò mò đến xem rất đông. Mình vui quá uống say bí tỉ. Vợ mặc váy cô dâu, tay ôm bó hoa thẹn thùng đi bên cạnh.
Thằng MC lem lẻm cái mồm nghe nhức hết cả tai. Thưa quý vị và quan viên hai họ. Ngày xưa cha ông ta từng có câu “Trai tơ mà lấy nạ dòng. Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”… Nhưng thưa quý vị! Ngày nay cuộc sống đã thay đổi, quan niệm về hôn nhân hạnh phúc gia đình ngày một cởi mở hơn, nên có thơ rằng “Trai tơ mà lấy nạ dòng. Như rượu Chivas nhắm lòng lợn ngon”.
Hội trường sôi lên. Tiếng bàn tán, chúc tụng thậm chí cả chửi rủa nữa, khiến mình muốn chui mẹ vào buồng, ngủ một giấc đến đâu thì đến. Đang lơ mơ thì lão trưởng họ tóc bạc mặt đỏ như gấc, say quắc cần câu cầm míc phát biểu một cách trịnh trọng.
– Xin trân trọng thưa hai họ ! Nà tôi nà bác … đồng thời các cháu có nghĩa rằng nà … đến ngày chín quả … mà này khác … Thì tôi cũng nà ở trong câu chuyện … nà bác của các cháu … nàm sao … có nghĩa rằng nà … các cháu nên vợ nên chồng … nà ở trong cái việc các cháu … Tôi xin hết!
Vỗ tay! Một bài phát biểu cực kỳ súc tích, gãy gọn và ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc. Mọi người lũ lượt lên chúc mừng và tặng quà. Một ông say quá líu cả lưỡi chúc hai cháu sớm sinh quý tử. Mẹ mình phải túm lấy cổ áo lôi xuống mắng, sáu mươi tuổi đẻ với đái gì nữa mà ông cứ nói luyên thuyên. Vợ đứng bên cạnh căng thẳng quá suýt ngất mấy lần vì tăng huyết áp và tụt đường huyết.
Đêm tân hôn. Vợ giao hẹn chỗ này, chỗ kia không được đụng vào. Mình hỏi sao thế. Vợ giải thích, từ rốn trở lên em mới trùng tu bảo dưỡng, đang trong thời gian bảo hành nên đừng có đụng vào. Mình bảo, thế còn hạng mục nào đang thi công dở nữa không? Khu vui chơi giải trí khởi công lâu chưa để còn biết? Vợ gật nói chỗ đấy bỏ hoang lâu rồi, tùy anh thôi. Được một lúc vợ hổn hển nói nhỏ vào tai , “Anh vào chưa?”. Mình bảo thì biết éo đâu được, hình như vào rồi. Vợ bảo thế à, rồi “á” lên một tiếng đầy thương tâm.

Đêm ấy mình đã thành một thằng đàn ông chân chính.

(Tg: Song Hà)

Categories
Chuyện ngắn

TÌNH CŨ…


Cô gái áo xanh hoa khăn cổ trắng, mặt trăng trước mặt

TÌNH CŨ…

Từ đầu kia của căn phòng dạ tiệc xa hoa, lộng lẫy chị đờ người ra khi anh cùng vợ và đàn con 4 đứa tiến vào trong tiếng vỗ tay, hoan hô của mọi người. Ly rượu vang trong tay chị xém chút nữa rơi xuống đất.

Chị đâu có ngờ người đến thay chồng chị làm trưởng văn phòng đại diện của một tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới là anh, người yêu cũ của chị.

15 năm xa nhau chị ngày càng đẹp mặn mà, quyến rũ. Anh bây giờ đã là biểu tượng của doanh nhân thành đạt: đẹp trai và vô cùng lịch lãm. Anh và chị mà đứng cạnh nhau thì là cặp đôi đẹp nhất của buổi tiệc tối nay. Còn ông chồng vừa già, vừa hói của chị thì nhìn rất tương xứng với cô vợ béo tốt, mặt tròn xoe của anh.

Khi chồng chị giới thiệu anh, chị rất bất ngờ khi thấy anh điềm tĩnh lên tiếng:

– Đã lâu không gặp, em vẫn không thay đổi gì cả.

Rồi quay sang ông chồng anh giải thích

– Chúng tôi trước kia là bạn học cùng trường đại học.

Chỉ nói có thế rồi anh đưa vợ con đi chào hỏi mọi người, cho đến cuối bữa tiệc cũng không tiếp xúc với chị thêm lần nào nữa.

Dù đứng ở góc nào, chị cũng kín đáo quan sát anh và mỗi khi thấy anh toàn tâm, toàn ý, hết lòng chăm sóc vợ con, sẵn sàng bế con cho vợ ăn … một nỗi buồn dâng lên sâu thẳm trong lòng chị.

Chị nhớ lại những đêm dạ hội ồn ào thời sinh viên, chị luôn là hoa khôi và ánh mắt của anh bao giờ cũng nhìn chị xao xuyến. Chị nhớ cầu thang kí túc xá tối om mỗi lần đi chơi về chị đều bắt anh cõng lên tận tầng 3. Nhớ có lần nước yếu anh phải thức đến 2 giờ sáng xách từng xô lên phòng cho chị.

Có lẽ nào anh đã quên hết những ngày tháng đó ?

Chồng chị còn nán lại 2 tuần để bàn giao công việc cho anh, họ ở cùng một khu căn hộ cao cấp. Chị cố tìm mọi cách để có thể gặp riêng anh, mỗi khi gặp nhau trong thang máy hoặc dưới sân, nhưng chị chỉ nhận thấy thái độ hờ hững, lạnh lùng của anh mà thôi…

Ngày mai gia đình chị bay rồi. Không cam lòng hôm nay chị hẹn gặp anh lần cuối ở một quán cà phê rất sang trọng, kín đáo.

Khi chị tới trong bộ váy áo cực kỳ đẹp phô bày hết tất cả những đường cong quyến rũ, anh đã ngồi chờ sẵn, trên bàn là ly chanh dây mà chị yêu thích. Lòng tràn ngập niềm vui chị hỏi khẽ

– Tại sao ?

Anh tiếp lời

– Em muốn hỏi tại sao anh hờ hững với em đúng không?

Chị gật đầu, anh vẫn như xưa, luôn đọc được các ý nghĩ của chị.

– Là bởi vì trong lòng anh không còn có em nữa. Khi em đạp lên mối tình 5 năm hạnh phúc của chúng mình để đi lấy chồng giàu có, anh đã từng rất tổn thương, đau khổ, vật vã rất lâu. Cũng nhờ sự tuyệt tình của em anh mới phấn đấu không ngừng nghỉ để có ngày hôm nay. Có thể trong mắt em vợ anh trông thô kệch, nhưng do cô ấy sinh đẻ 4 lần liên tiếp, mà bọn trẻ con nhà anh bị dị ứng với sữa ngoài nên cô ấy nuôi con bằng sữa mẹ rất lâu, không thể giữ dáng được. Anh yêu cô ấy vì ở bên cạnh cô ấy và các con anh luôn cảm thấy nhẹ nhàng, ấm áp.

Chị nghẹn ngào thốt lên

– Nhưng em cũng yêu anh mà

Anh nhướng mắt nhìn chị

– Không phải là em yêu anh đâu mà em yêu chính bản thân mình thôi. Em luôn luôn tính toán những gì tốt nhất cho mình. 15 năm trước giữa thằng sinh viên nghèo mới ra trường là anh và anh chàng Việt kiều già nhưng giàu có em đã chọn anh ta. 15 năm sau em không quên tình cũ vì anh bây giờ ngoài thành đạt thì trẻ hơn chồng em nhiều.

Bỏ mặc chị ngồi vật vã nước mắt lã chã tuôn rơi, anh đứng dậy.

– Anh phải về đưa bọn trẻ con đi bơi, thật ra qua tiếp xúc anh thấy chồng em là người tốt và rất yêu em đấy. Chúc em ngày mai lên đường thượng lộ bình an nhé!

Cái gì đã qua thì để cho nó qua luôn em à.

Bài và ảnh: ST

Categories
Chuyện ngắn

NGƯỜI YÊU CŨ ĐẾN CHƠI NHÀ


 

15095097_153807285094547_6540255624972642491_n-2

NGƯỜI YÊU CŨ ĐẾN CHƠI NHÀ
Một ngày đẹp trời người yêu cũ bỗng dưng nhắn tin, nói đang dự hội nghị ở một khách sạn gần chỗ anh. Đọc tin nhắn xong chưa vội trả lời, hắn vào ngay trang cá nhân của nàng để dò la tình hình.
Đây rồi! Dễ gần hai mươi năm rồi không gặp lại nhưng trên ảnh trông nàng vẫn lung linh lắm. Hắn ngạc nhiên thật sự, vì có vẻ nàng còn xinh hơn hồi trẻ: da trắng tinh, mắt to tròn; nọng cằm biến mất, thay vào đó là khuôn mặt trái xoan nhẹ nhõm và tương đối ưa nhìn.
Ngắm nghía chán chê, hắn quay ra nói ôi em, cơn gió nào đưa em đến đây vậy! Nàng bảo vẫn theo dõi anh trên phây búc nhưng chỉ dám tàu ngầm thôi. Hôm nay vào đây có việc chợt nhớ đến anh nên muốn gặp nhau một chút. Hắn nói ừ, để anh gửi lô cây sần qua điện thoại cho em, từ chỗ đó tới nhà anh khoảng hai cây là cùng.
Chuyện trò một lúc thì hóa ra nàng mới ly dị chồng được hai năm nay, hiện là phó trưởng phòng của một công ty du lịch ở Hà Nội. Hắn luôn miệng xuýt xoa khen em vẫn xinh nhỉ. Nàng bảo có thích xem mặt thật không, thích thì để gọi video. Hắn ngạc nhiên, ơ lại có cả mặt thật, mặt giả nữa à? Mà thôi không cần đâu, để mai gặp nhìn luôn một thể.
Tối đó hắn trằn trọc mãi. Hình ảnh gần hai mươi năm trước của nàng cứ lởn vởn trước mắt. Hồi đấy hắn vừa ra trường được vài năm, còn nàng đang học năm thứ ba đại học. Những đêm đông se lạnh, hắn thường đạp con mini ghẻ mượn của thằng bạn cùng phòng, đến ký túc thăm nàng.
Không biết bao lần, dưới gốc hoàng lan rợp lá và dìu dịu hương thơm, hắn đã đọc thơ Lưu Quang Vũ cho nàng nghe, nói về ý nghĩa của cuộc đời và hứa sau này công thành, danh toại sẽ cưới nhau… Nàng ngước đôi mắt trong veo nhìn sâu vào mắt hắn, hỏi anh có làm được vậy không? Hắn vòng tay qua eo, bóp nhẹ lên bờ mông diễm lệ của nàng rồi thả một tiếng “được” đầy bi tráng.
Nhưng rồi chí lớn không thành, đường tình đôi ngả. Cho đến tận ngày hôm nay luôn.
Xế trưa nàng bảo sẽ bắt taxi đến. Hắn bận sơ mi trắng, giày đen bóng loáng, không quên phịt tí nước hoa vào gáy cho tăng phần quyến rũ và lịch lãm rồi lững thững bước xuống cầu thang.
Vừa đến hành lang tầng 1 chợt hắn trông thấy chiếc taxi màu xanh đang dừng lại trả khách. Trên xe bước xuống là một bà cô trạc hơn 40 tuổi nhìn rất to và nặng nề. Hắn nheo mắt và định thần lại lần nữa xem liệu mình nhìn nhầm không. Bà cô khoác quả áo ấm màu mắm tôm, đầu đội mũ vải rộng vành, chân đi dép nhựa, vai đeo túi đen… Chỉ thiếu cái lồng gà trên tay nữa thôi, sẽ rất giống một bà mợ ở quê đi thăm người ốm.
– Anh!
Chợt bà cô nhìn về phía hắn rồi gọi to. Bỏ mẹ rồi! Nàng đây rồi! Tự nhiên hắn thấy hụt hơi và choáng váng đầu óc. Một cảm giác rất khó diễn tả thành lời. Lúc đấy hắn chỉ ước giá người đàn bà đang đứng trước mặt hắn không phải là cái đứa hắn đang hò hẹn mà thôi. Hắn muốn bỏ đi nhưng không nỡ.
– Chào em! Không ngờ vẫn nhận ra nhau nhỉ!
– Dạ! Anh cũng khác trước nhiều quá, ban đầu em tưởng ông giữ xe, nhưng nhìn cái dáng đi cà giật, cà giật từ xa là em nhận ra anh liền.
Hắn thấy mặt tê tê, bì bì vì cảm giác tẽn tò. Bố khỉ! Nhầm kiểu éo gì ra lão giữ xe mà nhầm với chả nhọt. Hay mình già và hom hem thật rồi?
Lên nhà.
Nàng kêu nóng rồi cởi áo khoác màu mắm tôm ra. Bây giờ hắn mới thấy rõ hơn sự độc ác và xỏ lá của thời gian: đôi vai gầy guộc nhỏ như cánh vạc khi xưa giờ trông như hai cái bát ô tô úp lên; cái cổ thanh tú hắn vẫn hay vuốt ve nay đã ngắn lại và bè ra trông như chai bia cổ rụt; bên dưới, mỡ từ hai bên hông gấp thành 2 – 3 nếp như đang muốn bật tung khỏi chiếc áo mỏng màu tiết dê.
Nàng thở phì phò nói bật hộ em cái quạt. Mồ hôi trên trán túa ra lấm tấm. Nàng già đi nhanh quá. Hắn thấy bên ngoài nàng bằng tuổi mẹ cái đứa vẫn hay up ảnh lung linh trên phây nàng. Chợt nàng cầm lọ hà thủ ô trên bàn, hỏi hắn.
– Anh uống cái này có bị táo không?
Hắn sững sờ mất một lúc vì không tưởng tượng nàng lại hỏi một câu thô thiển và phàm tục như vậy được. Chưa kịp trả lời thì nàng đã nói tiếp.
– Em trước uống cái này toàn bị táo. Có hôm nặng quá bác sỹ phải thụt rửa và móc mãi mới ra, nên anh phải kết hợp ăn thêm nhiều rau và hoa quả đấy.
– Ừ, anh không bị.
– Đó là anh mới uống. Mà cái này bổ thận, ích tinh lắm đây. Uống vào rất nhiều tinh anh ạ. Anh uống rồi lại phải đi tìm chỗ xả cho mà xem.
Hắn đần thối mặt ra vì ngại. Tại sao nàng lại trở nên trần trụi một cách tỉnh bơ như vậy nhỉ? Không còn một chút gì tinh tế và í nhị của ngày xưa cả. Thời gian. Có phải thời gian đã lấy đi tất cả những gì hay ho nhất của tuổi trẻ không?
Ngồi ôn chuyện ngày xưa một lúc, nàng kêu em díp hết cả mắt lại rồi. Hắn bảo nàng vào giường nghỉ ngơi, còn mình ngồi lướt máy tính bên cạnh.
Chỉ mười phút sau nàng đã ngáy ò ò… ò ò… vang hết cả nhà. Tiếng ngáy khiến hắn vừa lạ lùng vừa sợ hãi. Chưa bao giờ hắn thấy một người phụ nữ ngủ ngáy cả. Nó cứ rồ rồ, ò ò, có lúc lại khột khột…, trầm và hài hước như tiếng kèn pha gốt trong dàn nhạc giao hưởng.
Đã thế cái miệng lại há to, trông như miệng con cá quả đang sẵn sàng đớp sung. Thi thoảng nó lại chẹp chẹp rồi nghiến răng ken két gai hết cả người. Ôi cái miệng xinh xắn năm xưa hắn từng đặt lên đó không biết bao nhiêu nụ hôn nồng nàn, đắm đuối đấy ư?
Ngủ một lúc, nàng vươn vai kêu lục khục, đứng dậy hỏi mấy giờ rồi anh. Chết rồi em muộn giờ họp mất rồi. Cái túi xách của em để đâu nhỉ! Em ngủ ngon quá anh ạ!
Hắn tiễn nàng xuống khỏi cầu thang, chìa tay giật giật mấy cái, nở nụ cười gượng gạo nói em đi nhé. Lần sau vào đây công tác lại đến anh chơi nhé.
Nàng vừa đi khuất, hắn đủng đỉnh lên nhà, lôi điện thoại ra vào phây búc nàng, ấn vào mục “bỏ theo dõi”. Rồi nằm ườn ra chán nản vì tự nhiên thấy mình NGU.
Tác giả: Song Hà
(Sau bài này mọi người cần cẩn trọng với ảnh và đời của thế hệ U50

Categories
Chuyện ngắn

ĐÊM KINH DỊ


1_1353250

Đêm Kinh Dị

Phương Lan

Tiệc cưới tan lúc 11 giờ đêm,Thanh nhìn đồng hồ rồi hỏi vợ: – Bây giờ khuya rồi, chúng mình nên tìm một khách sạn ngủ qua đêm, hay em muốn về nhà? Không đắn đo, Diễm nói ngay: – Ngủ ở khách sạn đâu có thoải mái như ở nhà mình, vả lại sáng mai anh còn phải đi làm sớm… Em nghĩ mình nên về thì hơn. Thanh gật đầu- Anh cũng nghĩ thế. Từ đây về tới nhà, lái nhanh cũng chỉ mất khoảng chưa tới hai tiếng, mình đi ngay kẻo trễ. Nói xong, Thanh dặn vợ đứng chờ, còn chàng rảo cẳng đi ra bãi đậu xe, đánh xe tới đón. Mở cửa xe cho vợ xong, Thanh đi vòng qua phía bên kia, ngồi vào ghế chỗ tay lái. Ra khỏi thành phố, chàng nhắm hướng xa lộ Biên Hoà trực chỉ.

Thanh và Diễm là đôi vợ chồng trẻ mới lấy nhau được hơn một năm, cả hai vợ chồng đều là giáo sư của trường trung học Biên Hòa, họ dành dụm mua được một căn nhà nhỏ ở gần trường, để đi dạy cho tiện. Hôm nay, họ đi Sài Gòn để dự tiệc cưới của một người bà con. Tiệc cưới dự tính bắt đầu lúc 7 giờ chiều, nhưng vì quan khách có nhiều người đến trễ nên mãi đến 8 giờ tối mới khai mạc và kéo dài đến gần nửa đêm.

Bây giờ thì họ đang trên đường về nhà, trời về khuya, xa lộ vắng tanh không một bóng người, Thanh dận chân ga, xe lao nhanh trong bóng đêm, hai hàng cột điện đường như đang chạy thụt lùi, những bóng đèn vàng vọt hai bên đường trông lập lòe như ma trơi.

Đã hơn nửa giờ qua, trên suốt quãng đường, không có xe cộ nào qua lại cả. Cố tránh cơn buồn ngủ, Thanh quay sang định nói chuyện với vợ, nhưng Diễm đã ngủ gật từ lúc nào, đầu nàng nghiêng qua một bên, mái tóc dài che xoã một bên trán, vài lọn tóc bay lật phật theo gió. Thanh mỉm cười, quay kính lên cho vợ khỏi bị lạnh, chàng lẩm bẩm một mình:

– Cô nàng vô tư thật.

Chợt một vật gì di động ngay phía trước, dưới ánh sáng của hai cái đèn pha của xe chàng, Thanh vội giảm tốc độ, chàng chú mục nhìn thật kỹ rồi mới quay sang đánh thức vợ:

– Diễm, Diễm, nhìn kìa!

Thanh vừa gọi vừa đập khẽ vào vai vợ, Diễm choàng ngay dậy, dụi mắt:

– Cái gì thế? Có chuyện gì vậy?

– Em nhìn xem kia kìa! Hình như có một cô gái đang đi bộ dọc theo xa lộ?

Diễm chăm chú nhìn rồi gật đầu:

– Đúng rồi, đúng là một cô gái… Diễm nói, nhưng sao cô ta lại dám ra đường một mình giữa đêm hôm khuya khoắt như thế này nhỉ?

Thanh không trả lời vì còn mải quan sát, cô gái chắc còn trẻ lắm, mái tóc thề buông xõa sau lưng, nàng đi bộ một mình, tay xách một cái túi vải màu đen, quần áo màu đậm của nàng như lẫn vào bóng đêm. Khi xe của hai vợ chồng chàng tới gần, cô ta quay lại, dơ tay lên ra hiệu như muốn xin quá giang.

Thanh quay sang vợ:

– Em nghĩ mình có nên cho cô ta lên xe không?

Thanh hỏi, nhưng đoán trước vợ mình sẽ nói gì, quả vậy Diễm ngần ngại vài giây rồi lắc đầu:

– Không nên! Biết cô ta là ai, đêm hôm khuya khoắt như thế này, lỡ có chuyện gì, rắc rối lắm.

Nhưng mặc cho vợ phản đối, Thanh vẫn cho xe chạy chậm lại, cố gắng thuyết phục:

– Chính vì đêm hôm khuya khoắt như thế này, cô ta đi một mình nguy hiểm lắm, anh không đành lòng làm ngơ. Chúng mình nên có lòng nhân đạo một chút, em đồng ý giúp cô ta nhé?

Diễm thở ra:

– Thôi được, tùy mình!

Thanh dừng xe ngay cạnh cô gái :

– Này cô! Đi đâu một mình vào giờ này? Có muốn quá giang không?

Cô gái quay lại mỉm cười, nhưng giọng nói có vẻ lo lắng:

– Tôi đi thăm mẹ tôi, bà đau nặng.- Lên xe đi, tôi chở giúp. Cô đi một mình như thế này bất an lắm.

– Cám ơn!

Nói xong, cô ta mở cửa sau, leo lên, ngồi thu hình ở băng sau.

– Nhà mẹ cô ở đâu? Diễm hỏi.

– Xóm Củi, Biên Hoà, đường Triệu Tử, số nhà 1234.

Đó là tất cả những gì nàng nói trên suốt quãng đường, vì sau đó nàng tựa dầu vào thành ghế, nhắm mắt lim dim ngủ. Phải mất hơn một giờ mới tới Biên Hoà, khi gần đến cầu Đồng Nai, Thanh mới nói với cô gái:

– Sắp đến rồi, cô chỉ cho tôi lối nào đến đường Triệu Tử?

Không có tiếng trả lời, Thanh quay sang vợ:

– Em hỏi cô ta xem đường nào đến nhà mẹ cổ?

Diễm quay lại phía sau toan hỏi cô gái, nhưng thình lình nàng rú lên một tiếng khiếp đảm:

– Cô ta không có trong xe, cô ta biến đâu mất rồi?

Thanh dừng xe ngay giữa đường, vô lý, cô gái không thể nào rời xe được trong lúc xe đang chạy nhanh như lúc nãy. Nhưng cũng như vợ, chàng chỉ thấy băng sau trống rỗng, cô gái và cả cái túi hành lý đều biến mất. Diễm hỏang sợ, nàng run lên bần bật, nói như người đang mê sảng:

– Trời ơi, ma! Đúng là ma rồi… cô ta đang đứng kia kìa. Ối trời, đừng đụng vào người tôi, đừng bắt tôi… Cô ơi, hãy tha cho tôi!

Diễm la hét rầm rĩ, Thanh lắc mạnh vai vợ cố trấn an nàng, nhưng vô ích, Diễm không còn tỉnh táo, nàng cứ tiếp tục rú lên từng hồi. Thanh không tài nào kìm hãm nổi những cơn vật vã của vợ. Sau cùng chàng nghĩ hay là đem nàng đến bệnh viện, ở đó người ta sẽ có cách, có lẽ nàng đã bị mất trí vì sợ hãi quá.

Tại bệnh viện, Thanh kể cho bác sĩ nghe tất cả mọi việc xảy ra, bác sĩ chích cho Diễm một mũi thuốc an thần, rồi dặn dò:

– Không sao đâu, cứ để cô ta nằm lại đây đêm nay, đến sáng mai mọi việc sẽ êm cả.

Bác sĩ nói xong rồi đi khỏi, để Thanh một mình ở trong phòng đợi. Thanh vừa lo lắng vừa bị kích động, chưa bao giờ một việc lạ lùng như thế xảy ra cho chàng như trong đêm nay. Thanh ngả người trên ghế, cố gắng chợp mắt đi một lúc, nhưng không thể được.

– Mình phải đi tìm, phải hỏi cho ra lẽ, ngồi đây làm gì vô ích!

Chàng tự nói với mình như thế. Rời bệnh viện, Thanh ra xe, ngồi vào ghế nơi tay lái, suy nghĩ một lúc, nhớ lại địa chỉ cô gái đã nói lúc lên xe:

– Số 1234 đường Triệu Tử, 1234 đường Triệu Tử…

Chàng lẩm bẩm đọc đi đọc lại nhiều lần cho khỏi quên, xong Thanh lái xe đến một trạm xăng, hỏi thăm đường. Người bán xăng nói:

– Ở đây ra ông quẹo phải, đi độ vài trăm mét có lối rẽ, lại quẹo phải nữa, cứ thẳng con đường đó mà đi sẽ thấy một cái nghĩa trang. Qua khỏi cổng nghĩa trang, đối diện phía trước mặt có một thôn xóm nhỏ, không tên, nhưng đầu xóm có một tiệm bán củi và chất đốt nên dân trong xóm gọi là Xóm Củi… Ông rẽ vào đó tìm con đường nhỏ đầu tiên bên tay trái, đó là con đường Triệu Tử.

Thanh đi theo lời chỉ dẫn, chàng tìm ra đường Triệu Tử thật dễ dàng. Đây rồi, số nhà 1234, căn nhà tối om, chắc mọi người đều đang ngủ cả. Thanh dơ tay gõ thật mạnh vào cửa năm, sáu cái liền. Có tiếng động trong nhà rồi tiếng ho, rõ ràng có người vừa thức dậy, rồi tiếng chân di chuyển và đèn bật sáng. Một người đàn ông tuổi trung niên ra mở cửa, trước khi Thanh kịp mở lời thì người này đã đón trước:

– Tôi biết vì sao ông tới đây, có phải ông vừa chở một cô gái đi một mình trên xa lộ, khi gần đến nơi, thình lình cô ta biến mất?

Thanh há hốc miệng, kinh ngạc đến không thể trả lời được. Sau vài giây trấn tĩnh, chàng lắp bắp:

– Làm sao ông biết?

– Vì cô gái đó là em tôi, mười năm về trước, nó bị chết trên cái xa lộ đó. Ngày hôm ấy, mẹ tôi bị ốm và nó trên đường đi thăm bà cụ thì bị nạn, cái xe gắn máy nó lái bị đâm vào cột đèn bẹp dúm, nó bị vỡ óc chết ngay lập tức. Từ đó mỗi năm cứ đúng vào ngày ấy là nó lại hiện ra đi dọc theo xa lộ, và mỗi năm lại có một người cho nó quá giang…

Người đàn ông ngừng lại, quan sát Thanh một lúc rồi mới thở dài, tiếp tục:

– Nhưng có lẽ năm nay là năm chót.

– Năm chót? Sao lại là năm chót?

– Nó sẽ không bao giờ hiện lên nữa.

– Làm sao ông biết?

– An Diễm là đứa con có hiếu, nó không đành lòng để mẹ tôi cô đơn một mình không ai săn sóc, vì vậy linh hồn nó không siêu thoát được, nó cứ phải hiện về thăm mẹ thường xuyên.

– Thế bây giờ bà cụ đâu?

– Mẹ tôi cũng đã qua đời lâu rồi, từ tám năm qua… Chôn ở kia kìa!

Vừa nói, ông ta vừa chỉ về phía trước, nghĩa địa chỉ cách nhà không đầy năm trăm thước.

Thanh nhìn theo, tóc gáy bắt đầu dựng lên, chàng quay lại hỏi:

– Tôi không hiểu, ông vừa nói An Diễm – ồ mà sao cũng tên Diễm nhỉ?- là một người con có hiếu, nàng không muốn để bà cụ cô đơn một mình ở nghĩa trang… Thế sao từ nay nàng không về thăm mẹ nữa?

Người đàn ông chép miệng:

– Có gì khó hiểu đâu, nó đã tìm được người thay thế nó.

– Hả? Cái gì?

– Bà mẹ chúng tôi già lắm, lẫn lụ rồi, đâu còn phân biệt được ai? Miễn là có người tới lui, trông nom săn sóc…

– Ông nói cái gì thế?

– Nó vừa dắt về đây một người đàn bà trẻ, vóc dáng hao hao giống nó, cũng tên là Diễm.

– Trời ơi, có lẽ nào?

Thanh bắt đầu hiểu lờ mờ câu chuyện, nhưng không dám chắc. Người đàn ông nọ nói tiếp:

– Mẹ tôi hài lòng lắm, gọi ngay người đàn bà nọ là con. Còn con em tôi thì vừa chào vĩnh biệt tôi rồi, linh hồn nó chắc sớm được siêu thoát.

Thanh không dám nghe thêm nữa, trống ngực đánh thình thình, chàng lái xe hết tốc lực quay trở lại bệnh viện. Tại – Vợ ông đã tỉnh và nhất định đòi về.

– Đòi về? Trời ơi, bà ấy về bằng cách nào? Từ đây tới nhà xa lắm, làm sao có thể đi bộ được?

– Bà ấy nói ông chờ ở ngoài xe. Tôi chỉ biết có thế, bà ấy rời khỏi nhà thương từ lúc nãy .

Đứng như trời trồng, Thanh không còn biết phải xử sự ra sao nữa, chàng lại trở ra xe, nghĩ ngợi một lúc, Thanh cho xe quay trở lại con đường hồi nãy, vừa lái xe vừa suy nghĩ. Kim đồng hồ chỉ 3 giờ sáng, trời còn tối lắm, con lộ vắng ngắt không một bóng người qua lại.

Chợt chàng trông thấy trong ánh sáng lù mù của ngọn đèn đường, bóng một người đàn bà xách một cái túi hành lý màu đen. Mồ hôi lạnh chảy dài từ gáy xuống cổ, Thanh thu hết can đảm lái xe tới gần, cho đến khi nhìn rõ mặt người đi bộ, đúng là Diễm, vợ chàng. Nhưng nàng không nhận ra chồng, cho dù Thanh có hét lớn gọi tên nàng đến rát cổ, nàng vẫn lầm lũi bước, nàng đi về phía nghĩa trang…

LƯU PHƯƠNG LAN

Categories
Chuyện ngắn

TÊN TRỘM TRONG NGÀY LỄ CHA


TÊN TRỘM TRONG NGÀY LỄ CHA

Tên trộm nhìn cánh cửa chống trộm màu xanh đậm có kẹp tờ giấy quảng cáo trước mặt, hắn rất tự tin mình sẽ mở được ổ khóa này trong vòng chưa đầy mười giây. Quả nhiên, khi chỉ mới thầm đếm đến tám, hắn đã mở cửa bước vào cứ như nhà mình…
Hắn thỏa mãn nhìn quanh phòng khách: đầy đủ đồ gia dụng, có cả những thứ hàng nhập khẩu từ nước ngoài, có vẻ như gia đình này khá là giàu có, chuyến này không phí công rồi.
Hắn khoái trá đi vào phòng ngủ, theo kinh nghiệm của hắn thì người ta thường hay để những thứ quý giá ở đó.
“David, David, con về rồi đó à?”, đột nhiên có tiếng ông già phát ra từ trong phòng ngủ, sau đó, một ông cụ run run bước ra ngoài, suýt chút nữa thì va phải hắn.
Hắn giật mình hoảng sợ, suy nghĩ đầu tiên đó là phải chuồn ngay. Nhưng hắn đã bị ông túm được, phải làm sao bây giờ?
Ông cụ sờ sờ mũi, miệng hắn, sau đó rất vui sướng nói: “David, đúng là con rồi, có phải là vì hôm nay nghỉ lễ nên con về thăm bố không?”
Hắn giả vờ bình tĩnh, thì ra là một ông già mù, ông ta không nhìn thấy gì, đúng là ông trời giúp hắn rồi. Hắn liếc qua tấm lịch trên tường, thảo nào, hôm nay là Ngày của ba xem ra là ông ấy nhớ con trai lắm rồi.
Hắn dùng giọng mũi đáp: “Ừm… ừm”
“David à, hai cha con ta nửa năm chẳng gặp được mấy lần, lần trước con về nhà là vào dịp Tết ấy nhỉ.”
“Chẳng phải là do con bận hay sao.” Hắn nhận ra là mình không cần phải giả giọng, ông cụ có vấn đề về tai nên hoàn toàn không hề nhận ra giọng hắn.
Hắn hỏi: “Sao bố không lấy tờ quảng cáo nhét ở cửa nhà mình, con còn tưởng là bố…không có ở nhà.”
“Gần đây chân bố đau nên hai ngày nay không ra khỏi nhà.”
“Bệnh xương khớp sao ạ, người cao tuổi thường dễ bị bệnh, bố cần phải đi lại hoạt động nhiều hơn. Tại sao bố không gọi cho con?”
“ Bố gọi rồi, nhưng vừa mới bắt máy thì con nói là đang họp nên gác máy luôn. Bố không trách con, bố biết là con bận, bố đoán hôm nay là Ngày của Cha hẳn là con về thăm bố phải không?”
Bỗng hắn nhìn thấy một sợi tóc bạc của ông cụ từ trên rơi xuống đất, trái tim hắn có chút lay động, hắn nói: “ Bố ngồi xuống đi, con xoa bóp cho bố “.
Ông cụ ngồi xuống sô pha, hắn vừa xoa bóp bắp chân cho ông cụ vừa nói động tác này gọi là thả lỏng gân.
Ông cụ vốn đang u uất bỗng vui hẳn lên.
Có vẻ như ông đã cô đơn rất lâu rồi. Ông nói rất nhiều, nhiều nhất là về David, hễ nói đến con trai là ông giống hệt như một cái bóng đèn cũ được thắp sáng vậy.
Nhờ vậy hắn đã biết được tình trạng của David, anh ta đi làm ở thành phố, hiện đã là trưởng phòng, cả ngày bận rộn giống như một chiếc xe chạy trên đường cao tốc vậy, rất khó dừng lại nghỉ ngơi.
Một lúc lâu sau, ông cụ vẫn còn đang nói, hắn cảm thấy hơi phiền, chuyện gì đây chứ, đi trộm đồ, kết quả lại “trộm” trúng một ông già.
Ông cụ lo lắng hỏi: “Con phải quay về làm việc rồi sao?”
Hắn nói, trời sắp tối rồi. Nói xong, hắn nhớ ra là mắt ông cụ không nhìn thấy, bèn nắm lấy tay ông “ Bố thử giơ tay ra ngoài cửa sổ xem, trời về tối gió thu sẽ có cảm giác rét đấy.”
Ông cụ không nỡ xa con: “Khi nào thì con lại đến thăm bố?”
Hắn nói, khi nào có thời gian rỗi sẽ đến.
Trước khi đi, hắn nhìn quanh căn nhà, hắn cũng không thể ra về tay trắng được, hắn phải lấy được một thứ gì chứ, đó là quy tắc của kẻ trộm.
Lúc này thì chợt có người gõ cửa, hắn lo lắng liếc nhìn cánh cửa, ông cụ nói hắn mở cửa xem thử là ai.
Hắn làm theo, nhìn qua mắt mèo trên cửa, hắn thấy người giao hàng nên liền yên tâm nói vọng vào nhà: “ Bố ơi, giao hàng cho bố “.
Ông cụ nói hắn nhận giúp ông.
Người giao hàng đi rồi, hắn giúp ông cụ mở gói hàng ra, bên trong là một món quà, một xấp phiếu mua hàng và một tờ giấy.
Hắn để xấp phiếu mua hàng sang một bên rồi đọc tờ giấy: “ Bố ơi, con thật sự bận quá, không thể về nhà đón lễ cùng bố được, con có gửi cho bố một xấp phiếu mua hàng, bố muốn mua gì thì mua đó. David gửi bố.”
Hắn chợt giật mình, con trai của ông cụ gửi cho ông ấy một xấp phiếu mua hàng, chứng tỏ ông cụ này không hề bị mù, vậy thì tại sao ông ấy lại…??? Hắn quay lại nhìn ông cụ bằng ánh mắt nghi ngờ.
Ông cụ như thể vừa làm chuyện gì có lỗi với hắn, nói: “Xin lỗi, ta không cố ý lừa con đâu, ta thật sự quá buồn chán, rất muốn có một người để trò chuyện, nếu ta không giả vờ bị mù thì sao cháu chịu ở lại chứ? Cháu thấy rồi đấy…”
Nói xong, ông cụ nhét xấp phiếu mua hàng vào tay hắn rồi nói: “Đây xem như là quà cảm ơn vì ngày hôm nay. David bảo ta muốn mua gì thì mua, nhưng mà ta không thiếu gì cả, chỉ thiếu người ở bên trò chuyện thôi. Chàng trai trẻ, cảm ơn cháu, dù cháu là ai, ta chỉ biết là hôm nay cháu đã cùng ta trải qua một buổi chiều rất vui vẻ.”
Tên trộm trả xấp phiếu lại cho ông cụ, hắn nhìn ông nghĩ đến bố mình ở quê, trong lòng cảm thấy rất rối ren, ngổn ngang cảm xúc.
Hẳn là bố cũng đang nhớ hắn, nếu biết bây giờ hắn là một tên trộm, chắc là bố sẽ rất đau lòng.
Chỉ là, trước khi đi cũng phải lấy một thứ mới được chứ.
Lúc này, hắn nhìn thấy tờ giấy quảng cáo ở khe cửa, bèn đưa tay lấy rồi tạm biệt ông cụ: “Thưa ông, ông phải chăm sóc bản thân nhé, khi có thời gian cháu sẽ lại đến trò chuyện cùng ông “.
Lần đầu tiên hắn cảm ơn cuộc gặp gỡ kỳ lạ trong lúc đi ăn trộm.
Lần đầu tiên hắn vui vẻ rời khỏi căn nhà mà không có thứ gì bị mất.
Lần đầu tiên hắn mang theo tờ giấy quảng cáo “tuyển dụng” bước vào cuộc sống mới.

Minh Ngọc (biên dịch)

Categories
Chuyện ngắn

BỮA TỐI Ở NHÀ HÀNG LY HÔN


46093498_1719037354874962_157039848476114944_n

BỮA TỐI Ở NHÀ HÀNG LY HÔN

Anh cưới chị được 10 năm. Giữa hai vợ chồng không còn xúc cảm và hứng thú. Anh ngày càng cảm thấy đối với vợ hầu như chỉ còn là trình tự và nghĩa vụ.
Anh bắt đầu thấy ngán chị. Nhất là khi đơn vị vừa nhận về một người phụ nữ trẻ hết sức sôi nổi và cuồng nhiệt bám lấy anh.
Anh chợt có cảm giác cô ta là mùa xuân thứ hai của anh.
Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh quyết định ly dị vợ. Chị dường như đã trơ lỳ, bình thản, đồng ý đòi hỏi của anh.
Thủ tục tiến hành rất thuận lợi. Sau khi ra khỏi cửa, anh chị đã trở thành cá nhân độc lập và tự do. Không hiểu sao, anh bỗng thấy trống trải vô cùng, anh nhìn chị nói:
“Trời tối rồi, hay là đi ăn cơm đã.”
Chị nhìn anh nói: “Vâng. Em nghe nói gần đây vừa khai trương Nhà hàng Ly Hôn, chuyên phục vụ bữa ăn cuối cùng cho các cặp vợ chồng ly dị. Chúng mình đến đấy đi?”
Anh gật đầu. Hai người, một trước một sau lặng lẽ đi vào Nhà hàng Ly Hôn. Anh chị vừa yên vị trong phòng VIP, cô phục vụ đã bước vào nói: “Anh chị dùng gì ạ?”
Anh nhìn chị nói: “Em gọi đi.” Chị lắc đầu: “Em ít khi ăn nhà hàng, không quen gọi món, anh gọi đi.”
“Xin lỗi, nhà hàng chúng tôi quy định, bữa này do vợ gọi món hàng ngày người chồng thích ăn nhất, và chồng gọi món người vợ thích ăn nhất. Đấy là món “Ký ức cuối cùng.”
“Thôi được”, chị hất món tóc xõa trước mặt ra sau, nói: “Gà luộc chấm gia vị nước chanh, đậu phụ rán chấm nước mắm nguyên chất rắc hành thái nhỏ, chân giò luộc chấm mắm tôm, rau cải thảo luộc.”
“Anh gọi gì ạ?” Cô phục vụ nhìn anh. Anh sững người. Lấy nhau 10 năm, anh thật sự không biết vợ anh thích ăn món gì. Anh há hốc mồm, ngồi thừ ra đấy.
“Những món này đủ rồi, đều là món chúng tôi thích nhất.” Chị vội chữa thẹn cho anh. Cô phục vụ cười: “Thực tình mà nói, đến nhà hàng chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng, các anh các chị đều không thể nuốt trôi. Hay là anh chị đừng dùng món “Ký ức cuối cùng” nữa, hãy dùng bữa tối nhà hàng đặc biệt làm cho vợ chồng ly hôn: Đồ uống ướp lạnh. Những người đến đây, không có ai từ chối sự lựa chọn này.”
Anh chị gật đầu: “Được.”
Chốc lát, cô phục vụ mang đến hai suất đồ uống ướp lạnh. Trong hai suất có một suất xanh lơ, toàn đá đập vụn; một suất đỏ tươi, còn đang bốc khói.
“Bữa tối này gọi là “một nửa ngọn lửa, một nửa nước biển”. Mời anh chị thưởng thức.” Cô phục vụ nói xong lui ra. Trong phòng ăn im lặng như tờ, anh chị ngồi đối diện, nhưng không biết nói gì với nhau.
“Cộc cộc cộc!” Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng. Cô phục vụ đi vào, tay bưng chiếc khay có một bông hồng đỏ tươi, nói:
“Anh còn nhớ cảnh tặng hoa cho chị đây không? Bây giờ, khi mọi việc đã kết thúc, không còn là vợ chồng, nhưng là bạn. Bạn bè gặp nhau vui vẻ rồi chia tay, anh tặng chị bông hồng cuối cùng đi.”
Chị rùng mình, trước mắt hiện ra cảnh anh tặng hoa chị 10 năm về trước. Hồi đó, anh chị vừa đến thành phố xa lạ này, hai bàn tay trắng, bắt đầu xây tổ ấm từ số không. Ban ngày, anh chị đi tìm việc làm, ban đêm chị ra hè phố bán quần áo. Anh vào nhà hàng rửa bát. Nửa đêm mới về đến gian nhà thuê chưa đầy 10 mét vuông. Đời sống khổ cực, nhưng anh chị thấy vui, thấy hạnh phúc.
Tết Valentin đầu tiên ở thành phố này, anh mua tặng chị bông hồng đầu tiên, nước mắt chị chảy dài trên má vì sung sướng quá.
10 năm rồi, cuộc đời đã giàu lên, thế mà anh chị lại chia tay nhau. Càng nghĩ, chị càng tủi, hai mắt ngấn lệ, xua tay nói:
“Thôi, thôi, khỏi cần.”
Anh cũng nhớ lại 10 năm qua. Và sực nhớ 5 năm nay, anh không mua hoa tặng chị. Anh vội vẫy tay, nói:
“Không, phải tặng.”
Cô phục vụ cầm bông hồng lên, “xoèn xoẹt” một cái, bẻ làm đôi, ném vào cốc của anh chị, mỗi người một nửa. Bông hồng tức khắc hòa tan trong cốc.
“Đây là bông hồng nhà hàng làm bằng gạo nếp, cũng là món ăn thứ ba gửi anh chị. Mời anh chị thưởng thức. Còn cần gì nữa, anh chị cứ gọi tôi”. Nói xong, cô quay người ra khỏi phòng.
“Em… anh…” Anh nắm lấy tay chị, nói không nên lời. Chị rút mạnh bàn tay. Không rút nổi, bèn để yên. Anh chị im lặng nhìn nhau, vẫn không nói nên lời.
“Phụt!” Đèn điện tắt ngấm, trong phòng tối om. Bên ngoài vang lên tiếng chuông báo động đổ dồn, có mùi cháy khét lẹt bay vào.
“Chuyện gì thế?” Anh chị vội đứng lên.
“Nhà hàng cháy rồi, mọi người ra ngoài mau, mau lên!”
Bên ngoài có người kêu thét lên. “Anh!” Chị ép vào người anh, “em sợ!”
“Đừng sợ!” Anh ôm chặt lấy chị, “Em đừng sợ, có anh ở bên cạnh. Chúng mình chạy ra ngoài đi.”
Ngoài phòng, đèn điện sáng trưng, mọi vật như cũ, không có chuyện gì xảy ra. Cô phục vụ nói:
“Xin lỗi anh chị, đây là món “Sự lựa chọn từ đáy lòng” của nhà hàng gửi tới anh chị.”
Anh chị trở về phòng ăn, ánh sáng chan hòa. Anh cầm tay chị nói:
“Vừa nãy là sự lựa chọn từ đáy lòng của chúng mình thật. Anh cảm thấy chúng mình không thể sống thiếu nhau, ngày mai chúng mình đi đăng ký lại!”
Chị cắn môi: “Anh nói thật lòng đấy chứ?”
“Thật! Anh hiểu rồi.” Cô ơi, cho thanh toán.
Cô phục vụ đi vào, đưa cho anh chị mỗi người một tấm phiếu màu hồng rất đẹp nói:
“Đây là phiếu thanh toán của anh chị, cũng là món quà của nhà hàng gửi tặng anh chị, gọi là “Phiếu thanh toán vĩnh viễn”, mong anh chị cất giữ mãi mãi.”
Anh nhìn phiếu, mắt đỏ hoe. “Anh làm sao thế?”
Chị lo lắng hỏi. Anh đưa phiếu thanh toán của mình cho chị, nói:
“Anh có lỗi với em, mong em tha thứ.”
Chị cầm tấm phiếu đọc:
“Một gia đình ấm cúng, hai bàn tay làm lụng, ba canh ngồi chờ anh về, bốn mùa dặn anh giữ gìn sức khỏe, năm tháng săn sóc anh chí tình, sáu mươi mẹ già vui vẻ, bảy ngày trong tuần nuôi dạy con cái, tám phương giữ gìn uy tín của anh, chín giờ thường xuống bếp làm món anh khoái khẩu, mười năm hao tổn tuổi xuân. Vì ai… Đó là vợ anh”.
“Anh vất vả thật đấy. Mấy năm qua em thờ ơ với anh quá.” Chị đưa phiếu thanh toán của mình cho anh xem.
Anh mở ra đọc:
“Một mình gánh vác trách nhiệm, hai vai nặng trĩu cơ đồ, ba canh cặm cụi bên bàn, tứ thời chạy ngược chạy xuôi, vinh nhục biết chia sẻ cùng ai, bể dâu khắc sâu đuôi mắt, nghĩa vụ đối với gia tộc, gập ghềnh chông gai con đường công danh, là người phàm tục làm sao mười phân vẹn mười. Lúc nào cũng tận tình với vợ con… Đấy là chồng em”.
Anh chị ôm chầm lấy nhau, oà lên khóc thành tiếng.

Sưu tầm

Categories
Chuyện ngắn

Trâu già thích gặm cỏ non


107832984_859232264480386_3405415211583737708_n

Trâu già thích gặm cỏ non – ONE WAY TICKET

Năm đó ông bà bán căn nhà lớn, mua một town house có hai phòng ngủ trên lầu để thỉnh thoảng con cháu về chơi có chỗ cho chúng nó ở.

Từ số tiền dư hai người du sơn du thủy mấy chuyến Cruise rồi quay về cố hương thăm họ hàng và rong chơi đó đây coi như chuyến du lịch Việt Nam cuối cùng.
Sau khi khám phá Nam Kỳ Lục Tỉnh, thăm hàng xóm bạn bè xong họ bay ra Hà Nội quê quán của ông.
Trong bữa tiệc xum họp họ hàng xa gần ông gặp cô Huệ, cụng vài ly bia ông say men cô gái xa lạ bỗng thật gần gũi với ông.
Tuần sau bà trở vào Sài Gòn gặp gỡ đám học trò cũ, mua sắm một số quà mang về tặng bạn bè, ông ở lại cặp tay em Huệ hóng mát Hồ Gươm rồi chuyện gì đến phải đến.
Sau mấy buổi nhậu «quành chán» cao lương mỹ vị, thịt rượu thừa mứa, cô đưa ông vào chốn bồng lai chỉ có hai ta mà thôi.
Ông như trẻ đi vài chục tuổi, quê hương bỗng ngọt hơn chùm khế ngọt, giã từ Hà thành ông để lại một nửa con tim khao khát tình yêu sôi nổi, ông vừa tìm lại tuổi thanh xuân bị lãng quên khá lâu.
Về Miền Nam với bà, ông ngẩn ngơ như người mất hồn, nói năng lộn xộn khiến bà giựt mình nghĩ có thể ông bị «trầm cảm» sau khi chia tay với họ hàng ngoài Bắc, hy vọng rồi đâu sẽ vào đấy.
Đúng vậy, sau mấy cú điện thoại với Hà Nội ông như hồi sinh tươi tỉnh hơn, bớt nói năng linh tinh không đầu không đuôi như trước.
Trở về nhà hơn một tháng, ông mở lời với bà:
– Hôm ở Hà Nội, cô Huệ có nhờ anh làm giấy mời cô sang đây du lịch để cô tìm trường đại học cho con trai của cô, mai anh ra văn phòng di trú hỏi thăm xem sao.
Bà ngạc nhiên:
– Sao lúc ở Việt Nam anh không nói cho em biết.
– Chuyện vặt vãnh có gì quan trọng.
– Ô hay việc lớn đấy, rồi cô ấy sẽ ở đâu?
– Nhà mình chứ ở đâu, chỉ vài tháng thôi mà!
Giọng ông hơi gắt, bà không lạ tính chồng, khi ông khó chịu bà chớ có tò mò, tính gia trưởng của ông bà chịu đựng lâu rồi, điều đó khiến các con bất bình nên chúng nó thương mẹ nhiều hơn bố.
Bà hơi hoang mang, chưa thấy mặt mũi cô ấy ra sao, lại là dân “Hà Nội mới”, không biết bà có kham nổi vị khách bà không mời nhưng phải tiếp đón lịch sự cho vừa lòng chồng.
Tính ông đãi bôi vui vẻ với bạn bè, nhỏ nhẹ với phụ nữ, galant ra phết để tự trấn an mình còn trẻ chán, ý nghĩ đó khiến ông vui đến quên bà vợ già ngồi cạnh ông trong bữa tiệc.
Mấy tháng sau, đúng hẹn với em Huệ ông ra phi trường San Franciso đón khách, bà chuẩn bị khăn tắm, dép… trong phòng dành cho Huệ không thua khách sạn ngoài phố.
Cơm chiều theo yêu cầu của ông có món «nem rán» (chả giò), phở Bắc không có tương đen, đỏ mà chỉ rau quế, hành tây thái mỏng, chanh, ớt, chè hoa cau tráng miệng.
Cho hành lý của Huệ vào cốp xe xong, trước khi nổ máy ông gọi báo cho bà biết đã đón khách, ông sẽ về đến nhà sớm nếu không bị kẹt xe.
Xe vừa đậu trước cửa, ông nhấn chuông bảo bà ra phụ ông mang hành lý vào nhà, lần đầu tiên diện kiến Huệ, bà ngẩn ngơ khám phá cô khá trẻ so với độ tuổi ngoài bốn mươi, thân hình săn chắc hấp dẫn…
Cô giành lấy vali trên tay bà, líu lo:
– Em chào chị, chị để hành lý cho em, chị thật chu đáo đúng như anh Vinh nói.
Đưa cô lên phòng, bà bảo cô tắm rửa, nghỉ ngơi một lúc rồi xuống dùng cơm với ông bà, đi xuống bếp bà đặt chén đủa lên bàn, ông lăng xăng bày bia rượu.
Giọng ông như chim sáo:
– Em thấy cô Huệ thế nào?
Câu hỏi làm bà buồn, ông không cảm ơn bà chu đáo với khách mà lại hỏi một câu làm bà chạnh lòng, dĩ nhiên là cô trẻ đẹp hơn bà nên ông mới lăng xăng như gà mắc đẻ.
Để giấu nỗi niềm của mình, bà nhỏ nhẹ:
– Cô ấy nhỏ tuổi hơn chúng mình nhiều nên tươi trẻ là đúng rồi.
Thấy bà vả lả ông hiểu câu hỏi hớ hên của mình nên ông ba hoa chuyện đón cô ngoài phi trường khá lâu vì cô phải khai báo, lăn tay, chụp hình với nhân viên nhập cảnh…
Bữa cơm chiều hôm đó diễn ra trong sự vui vẻ gượng gạo của bà, ông chăm sóc khách từ tốn tránh để lộ cảm xúc của mình trước mặt bà, tuy nhiên khi rượu lên men, ông lộ nguyên hình.
Ông thường tự hào về bản chất galant «bẩm sinh» của mình trong đám đông, hôm nay cũng không ngoại lệ, ông cụng ly với khách, cười cười hỏi một câu ngớ ơi là ngớ:
– Huệ thấy nước Mỹ thế nào?
Khách quý Hà Thành đáp lời ông với ngôn ngữ nặc mùi cán cuốc:
– Nước Mỹ thật vĩ đại anh ạ (câu thần chú của vixi, bác hù vĩ đại).
Bà ngồi đó không nhận ra ông chồng mấy mươi năm đầu áp tay gối của mình bỗng «lột xác» đến choáng ngợp, ăn nói như đứa mới lớn vụng về trước mặt Huệ, đúng như ông từng nói tình yêu làm gì có tuổi.
Sau một tuần du sơn du thủy ông bắt tay vào việc tìm trường đại học cho con cô Huệ, hai người rong ruổi khắp nơi, chạy lòng vòng vài hôm họ trở về nhà nghỉ xả hơi lấy sức cho những ngày sắp tới.
Chạy mòn gót mấy tháng liền vẫn chưa ra ngô ra khoai, ngày trở về quê mẹ của cô em Hà Thành cận kề, kẹt một nổi là tình cảm của hai người ngày càng khắn khít, lửa gần rơm không cháy nhà thì cũng làm cháy lòng ai kia.
Có hôm ông bảo bà đừng chờ cơm chiều vì hai người sẽ về muộn, ngồi trước bàn ăn nước mắt của bà giọt ngắn giọt dài như ngày xưa ông từng bay nhảy với tình nhân ở Sài Gòn.
Tình yêu đã chết trong bà từ lâu, giọt nước mắt lần này bà xót xa cho phận mình, bà biết tình nghĩa hơn bốn mươi năm chung sống của hai người chỉ thế thôi.
Cứ tưởng khi các con ra riêng, hai người sẽ tựa vào nhau mà sống đoạn cuối ngắn ngủi hay rất ngắn của cuộc đời, xóa hết vết chàm ngày xưa để vui hưởng những ngày còn bên nhau.
Từ khi cô Huệ bước chân vào đây hai vợ chồng không còn như trước, đêm về họ ít trò chuyện để dỗ giấc ngủ, thỉnh thoảng ông nói về hoàn cảnh éo le của Huệ, một cách chuẩn bị tâm lý để bà chấp nhận cô ấy sau này.
Một hôm ông đưa ra đề nghị «động trời», bà nghe như trời đất sụp đỗ, nhưng cố giữ bình tỉnh ba mặt một lời với sự hiện diện của cô Huệ.
Giọng ông bỗng rụt rè, nhỏ nhẹ của kẻ có lỗi:
– Như em biết rồi đấy, chỉ còn hai tháng nữa cô Huệ phải về Việt Nam trong khi cô chưa tìm ra trường cho con của cô.
Em nghĩ sao nếu chúng mình làm giấy ly dị để anh làm hôn thú cho cô ở lại Mỹ, chì làm giấy thôi chúng mình tiếp tục chung sống với nhau.
Ông vừa dứt lời, cô nắm tay bà nài nỉ:
– Chị thương giúp em với, em đội ơn chị.
Bà cắn môi dằn cơn giận đang nổ tung trong lòng, đứng lên phán:
– Chuyện như thế mà hai người nói không ngượng miệng, tôi không có ý kiến.
Ông thừa hiểu, không có người đàn bà nào chấp nhận chồng mình ngoại tình, lại sẳn sàng nhường chồng cho người khác, nhưng khi ông dám đề nghị ly dị với bà để cưới cô Huệ thì ông đã đánh ván bài được ăn cả ngả về không.
Để hạ cơn giận của bà, ông thuê phòng cho Huệ ra ngoài, đồng thời thuyết phục bà giúp người «làm phước», ông cố tình để lộ bộ mặt đạo đức giả để bà căm hận ông mà ký giấy ly dị.
Ông đánh đúng tim đen của bà nhưng chỉ đúng một nửa thôi, bà chấp nhận trả tự do cho ông vì bà biết ông đang lọt vào mê cung của em Huệ, nói năng chi cũng thừa.
Sau khi hoàn thành thủ tục ly dị, họ bán nhà, mỗi người một nẽo, đời ai nấy sống, bà cảm thấy nhẹ nhỏm để ông sống đoạn cuối cuộc đời vui hay buồn do ông chọn lựa.
Đành rằng chia tay ông bà sẽ cô đơn nhưng từ nay bà không còn bận tâm đến ông chồng bạc tình.
Mới đó mà hai người đã chia tay gần hai năm, thỉnh thoảng nghĩ đến ông, bà thở dài thương hại ông mắt nhấm mắt mở sa vào hang cọp, trước sau gì cũng mang thương tích.
Một lần xuống Nam Cali chơi với bà Cúc bà hàng xóm cũ, sau khi ăn sáng hai bà đi bộ ra công viên gần nhà dạo chơi với Lí lắc, con chó nhỏ của bà Cúc rất thân thiện với người lạ, vừa sủa vừa vẫy đuôi chạy theo hai bà.
Đi bộ một lúc, hai bà chọn một băng ghế dưới tàn cây ngồi nghỉ xã hơi, bà Cúc mời bà trái quít :
– Loại này ngọt ngọt chua chua, không sợ tiểu đường, bà ăn thử đi.
Vừa cầm trái quít bỗng bà run lên suýt đánh rơi xuống đất, một ông già vịn chiếc xe 4 bánh, bước đi chập choạng như con nít tập đi ngồi vào băng ghế đối diện với hai bà.
Một cô trung niên dừng lại trước mặt ông, cô lớn tiếng:
– Mày ngồi yên ở đây chờ tao một chút, mày mà đi lạc như lần trước tao cho mày chết luôn, nghe chưa thằng khốn nạn.
Ông không trả lời, đầu của ông cụp xuống cổ, bàn chân co quấp, móng chân mọc dài cáu bẩn, quần áo nhàu nát trông ông không khác một lão ăn mày.
Ngồi băng ghế đối diện bà rơi lệ, anh Vinh của bà, một bô lão vừa bước vào tuổi bẩy mươi đầy sức sống, cao ráo chơi tennis mỗi tuần với bạn bè, sau vài năm xa vợ và bị đột quỵ ông trở nên tàn phế đến nhìn không ra.
Ngày trước cô Huệ cầm chắc cái vé ONE WAY đến Mỹ, bây giờ ông Vinh cũng thế Một Đi Không Trở Lại vì căn nhà xưa, bà vợ cũ và các con đã thuộc về dĩ vãng mất rồi.

Marie LêVăn

Categories
Chuyện ngắn

TÔ PHỞ


Beef-Pho_6

Tô phở

Vậy là hắn được tha về. Thứ gì của hắn còn xài được, hắn để lại hết cho anh em. Trong này quý. Chỉ giữ lại bộ đồ duy nhất mặc trên người. Miếng giấy ra trại xếp làm bốn, nhét mấy chục ngàn vô giữa, hắn cắm đầu đi thẳng. Không ngó lại. Tuyệt đối không ngó lại. Là mấy tay ở tù nhiều lần dặn vậy. Lưu luyến gì? Tiếc rẻ gì? Nhìn lại lỡ có huôn. Mình không nhớ nó, nhưng nó nhớ mình, nó khiến cho có chuyện vô lại thì sao?

Chưa có một dự tính nào trong đầu, nhưng hắn tự hứa với mình. Sẽ không bao giờ! Không bao giờ, trở lại nơi này lần nữa. Về đã! Về rồi tính tiếp. Chỉ cần nhảy lên hai chuyến xe đò là hắn tới quê. Là thấy được con mương trước nhà. Thấy hàng so đũa và cái mái lá xác xơ. Không biết má hắn giờ ra sao? Lâu lắm rồi không thấy bà lên thăm. Hắn đã nghĩ tới tình huống xấu nhứt. Hay bà chết rồi không chừng. Mấy năm trước, lúc mới vô tù, bà có lên thăm nuôi hắn đâu được một, hai lần rồi thôi. Thấy yếu lắm. Nói chuyện với hắn như trối! Câu nào cũng đầy nước mắt. Lớp già, lớp nghèo, sống lủi thủi một mình, thêm lớp nhớ con, bà như cây đèn chông lắc lư trước gió hằng đêm, tắt hồi nào không hay! Hắn đã sợ hãi khi nghĩ tới điều này. Sợ còn hơn lúc người ta tuyên án 3 năm tù ở với hắn. Hắn ăn năn, hắn hối hận, hắn tự nguyền rủa con người mình, ngày này qua ngày khác. Ngày tháng ở tù thì kéo dài tưởng chừng như vô tận. Hắn chai lỳ với mọi cảm xúc, chịu đựng vượt mức mọi thứ, để chờ ngày hôm nay. Ruột hắn nóng như lửa đốt, mà cái xe đò cứ rề rề, chạy rồi ngừng, ngừng rồi chạy liên tục. Tới thành phố thì đã quá trưa.

Thêm chuyến xe đò nữa là hắn đã có mặt ở nhà. Hắn hối hả tìm trạm xe buýt ra bến xe miền Tây. Miệng khô khốc, bụng đói cồn cào. Hắn dừng lại ở thùng bánh mì từ thiện, may mắn không chào đón hắn, thùng bánh mì trống trơn. Hắn uống liền 2 ca trà đá ở cái bình nước miễn phí đặt gần đó. Đầu hắn quay cuồng, cái đói ở đâu kéo tới thiệt lẹ.

Hai chân hắn bắt đầu run. Con đường trước mặt như quen như lạ. Đã có một thời hắn kiếm miếng ăn trên những con đường. Hắn khéo tay. Không có cái khoá xe nào mà hắn cần quá 1 phút để mở. Hắn mở khoá xe điệu nghệ như một nhà ảo thuật. Cái điệu nghệ đưa tới một án tù! Với hắn, trộm cắp cũng phải có nghệ thuật và nguyên tắc riêng của nó. Thứ nhứt, không chôm…xe cùi bắp! Bán chẳng được bao nhiêu, phí một lần ra tay. Lại nữa, chủ nhân thường là những người nghèo. Chiếc xe là cái cần câu cơm, là cả một gia tài. Mất đi, lập tức…đời là bể khổ! Chôm không đành. Thứ nhì, có lựa xe dữ, thì cũng không chơi ở mấy cửa hàng, trường học. Ở đó có người coi, có bảo vệ. Khó chơi đã đành. Chơi được, thì nạn nhân không phải người mất xe, mà là chính họ. Những người đi làm cái nghề giữ xe được mấy đồng bạc. Đền một chiếc xe là mạt, là ăn mày. Kẹt mấy cũng đừng chơi! Tội…

Ngon nhứt là canh me chôm trước cửa nhà, chôm của mấy tay có tiền, chạy xe xịn đi ăn chơi, mua sắm. Ăn hàng xong là nhẹ nhỏm, là khỏi băn khoăn, thắc mắc…

Hắn lắc lắc đầu, cố thoát ra khỏi cái ám ảnh ngứa nghề để đi tiếp. Ngẩng lên, thấy ngay tấm bảng đập vô mắt:

“Phở bình dân. Tái Nạm Gàu Gân. 35k 1 tô”. Xe phở đặt phía trước tiệm. Thùng nước lèo kế bên. Mấy tảng thịt bò treo lủng lẳng bắt mắt. Không nhớ đã bao lâu hắn không được ăn phở. Thèm và đói. Cái đói réo gọi. Đói dữ dội. Đói chảy nước mắt. Đói leo qua sức chịu đựng của hắn. Hắn lôi tiền ra đếm. Còn vỏn vẹn 30 ngàn về xe. Hắn cay đắng. Hắn bực tức. Tô phở bốc khói nhảy vô đầu hắn ngồi. Tô phở vực cái thói quen cũ trồi dậy. Hắn bắt đầu quan sát. Phố xá đông đúc, hàng quán san sát, xe gắn máy đậu dài hai bên lề đường. Hắn tản bộ thêm một đoạn, ngó mấy cái ngã tư, tính toán đường thoát. Hắn nhìn quanh quất, phải kiếm đồ nghề trước. Cái này thì dễ. Gần đèn xanh, đèn đỏ, có một tiệm sửa xe. Hắn lượm một cây căm xe cũ. Lượm thêm một cục đá xanh làm búa. Hắn ngồi ngay xuống lề đường, lo việc của mình, mặc kệ thiên hạ. Người qua lại đông, xe cộ chen nhau, không ai thèm để ý tới hắn. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, biết càng thêm rắc rối chứ ích gì. Hắn bẻ gập cây căm cho ngắn lại, lấy cục đá đập dẹp cái đầu, rồi uốn, rồi mài dưới mặt đường, cẩn thận từng chút. Một bài học trong tù. Ở trong đó hắn còn làm ra nhiều thứ vật dụng quái chiêu hơn nhiều. Không có gì là không thể, nếu chịu khó và kiên nhẫn. Xong, hắn đưa lên trước mặt ngắm nghía. Không ngon lắm, nhưng cũng tạm được. Dân trong nghề kêu bằng đoản, trong tay hắn là cái chìa khoá vạn năng. Hắn đút cây đoản vô túi áo. Tay hắn chạm tờ giấy ra trại. Chạm vào thực tại. Tờ giấy nhắc cho hắn cái lý do hắn ở đây. Hắn hơi chựng lại. Hắn xoè tay ra trước mặt, hai bàn tay nhạy bén như của một nghệ sĩ ngày nào, giờ xám xịt, chai sần và thô kệch. Những ngón tay cứng đơ nằm gần nhau mệt mỏi. Hắn hoang mang, hắn không còn đủ tin tưởng vô chúng. Hắn co duỗi, hắn nhấp thử vài lần trong không khí. Chậm và thô quá. Hắn đốt điếu thuốc còn sót lại, hy vọng xoa dịu cơn đói. Khói thuốc làm người hắn nhộn nhạo. Hắn nhớ tới má hắn dưới quê, không biết sống chết ra sao. Một phần trong hắn lên tiếng:

– Thôi bỏ đi. Đã thề bỏ rồi mà. Làm khổ bà già nhiêu đó chưa đủ sao, thằng bất hiếu! Về! Về gấp như đã hứa. Về! Đói no gì cũng kệ, miễn là có mẹ có con. Cái nghề này đâu có bền. Sớm muộn gì cũng trở vô trỏng thôi!…

Hắn cúi xuống nhìn bộ quần áo mình đang mặc. Nhìn cái con người thân tàn ma dại của mình. Một phần khác trong hắn lên tiếng:

– Về! Dĩ nhiên là phải về. Nhưng về trong tình cảnh này sao? Chơi đại một chiếc kiếm vốn, đua về trốn luôn ở dưới mà làm lại cuộc đời! Chơi đi, đâu có khó gì…

Hắn đứng bật dậy. Người hắn loạng choạng. Từ sáng

tới giờ hắn có miếng nào trong bụng đâu! Đói chịu hết xiết. Muốn làm gì thì cũng phải ăn cái đã. Mọi chuyện tính sau. Tiệm phở đông nghẹt. Hắn bước vô, đứng ngay xe. Mùi phở bốc lên nồng nực, thơm phức. Cái mùi đủ làm cho người chết sống dậy. Hắn ấp úng gọi:

– Bà chủ…

Người đàn bà đứng nấu, đang tất bật với múc, chan. Mồ hôi nhể nhại. Nghe hắn gọi, không thèm ngó, sẳng giọng:

– Tui không phải chủ. Chủ ngồi trong kia kìa…

Hắn nuốt nước miếng ừng ực, nói tiếp:

– Bán cho tui tô 30 ngàn nhiều bánh được không?

Chị ngừng tay, ngước lên nhìn hắn:

– Vô bàn ngồi đi!

Hắn tìm cho mình một chỗ trống, ngồi xuống. Tô phở đầy ắp, thịt cả đống, được thằng nhỏ bưng ra. Ngó chừng có phần còn nhiều hơn những tô khác. Hắn cắm cúi ăn, nghe từng miếng trôi qua miệng, xuống bụng, nghe cái ngọt ngào của từng muổng nước lèo thấm ra da thịt. Tới lúc hắn buông đủa, thì cái tô sạch nhách, một miếng hành cũng không còn. Mắt hắn sáng lên. Người hắn phấn chấn. Hắn kêu tính tiền. Thằng nhỏ chạy lại, hắn đưa tiền. Thằng nhỏ đếm:

– Thưa, mới 30, 35 ngàn một tô…

Hắn sượng ngắt, chỉ tay về phía người đàn bà:

– Tui kêu tô 30…

Thằng nhỏ day qua ngó chị như hỏi. Vài người ngồi quanh ngó qua hắn, nghi nghi, ngờ ngờ. Không lẽ cái bộ dạng của hắn tệ dữ vậy sao? Chị rời chỗ đứng đi về phía hắn, ngó cái tô phở trống trơn, rồi ngó hắn:

– Ăn được không chú Tư? No chưa?

Hắn gật, rồi nhắc lại:

– Tui kêu tô 30…

Chị gạt ngang, cười:

– Ai chẳng có lúc quên. Cái này là tui quên chứ không phải chú quên, bỏ qua nhe!

Giọng chị nhỏ lại:

– Tui để ý chú tự nảy giờ. Về quê hả? Về đời lâu mau rồi? Mới ra hả?…

Hắn lại gật:

– Sáng nay…

Chị giằng lấy 30 ngàn trong tay thằng nhỏ, nhét sâu vào túi áo hắn, để tay ở đó một chập, rồi nói lớn:

– Đi cho kịp chuyến xe, chú Tư.

Lại Tư! Hắn cu ky một mình, có anh có em gì đâu mà Ba, mà Tư! Người đâu ngộ thiệt! Quen biết hồi nào đâu mà kêu hắn thứ Tư, trật lất. Hắn nhìn chị, nghẹn ngang. Lí rí cám ơn, rồi đi thẳng.

Ngoài cửa, một cặp trai gái vừa tấp chiếc SH, nắm tay nhau đi vô, cùng lúc với hắn đi ra. Tay hắn giựt giựt. Cơ hội ngon ăn hết biết! Hắn vịn tay lên ghi đông chiếc xe, lắc nhẹ như tình cờ đi ngang bị vướng, tay kia rờ lên túi. Thò luôn tay vô trong. Tấm giấy ra trại còn nguyên. Tiền chị nhét vô còn nguyên. Cây đoản mở khoá biến đâu mất. Hắn thở dài, coi như xong! Chắc Trời khiến!

Hắn đi thật nhanh như chạy. Tiếng chị vang theo sau lưng:

– Về khoẻ nghen chú Tư. Có lên trên này chơi nhớ ghé nhe…

Chị nói mà bàn tay nắm lại, hình như có cái gì của hắn trong đó…

Sưu tầm

Categories
Chuyện ngắn

BÁO ƠN


441051146_430401276447063_1846340033782125114_n

 

BÁO ƠN
Vào thời cổ đại, ở những khu vực đông dân cư, vào mỗi ngày tốt lành cho kết hôn, thông thường sẽ có hơn chục gia đình kết hôn cùng một lúc. Một ngày nọ, có hai gia đình chuẩn bị lễ cưới cho con gái của họ, một nhà rất giàu, nhà kia thì bần cùng cực độ. Khi họ đi được nửa đường, kiệu hoa của hai gia đình đã gặp nhau. Trời đột nhiên đổ mưa to, những người khiêng kiệu của hai gia đình hạ kiệu hoa dưới mái nhà trạm, rồi mỗi nhà tìm một chỗ trú mưa.
Nàng dâu nhà nghèo khóc lóc thương tâm trên kiệu, khóc mãi không ngừng. Tân nương nhà giàu nghe vậy rất buồn, liền sai hầu gái đến hỏi xem tại sao cô ấy lại buồn như vậy. Nàng dâu nhà nghèo trả lời, nói: “Nhà mẹ tôi rất nghèo, bây giờ lại kết hôn với con trai của một người ăn xin, không biết ngày sau rồi sẽ ra sao, vì vậy tôi rất bi thương.”
Những lời này khiến nàng dâu nhà giàu thâm cảm, chạnh lòng thương xót, đồng tình với cô gái, bèn lấy từ hành lý ra hai túi hương nang thêu hoa, mỗi túi đựng một thỏi vàng nặng hơn 20 lượng là của hồi môn của mình, rồi sai thị nữ mang đến tận tay cô dâu nhà nghèo, nói rằng do nhân duyên tế hội bất ngờ, không thể tặng cho cô ấy một món quà tốt hơn, những thỏi vàng này có thể đổi lấy một số tiền để họ ngày sau không phải chết đói chết cóng. Nàng dâu nghèo cảm tạ, nhận những thỏi vàng.
Nàng dâu nghèo vừa định hỏi tên ân nhân, thì lúc này trời đã tạnh mưa, người khiêng kiệu thúc giục mọi người lên kiệu, sau đó từng nhà rời đi. Sau khi về nhà chồng, nàng dâu nhà nghèo đã giao lại hai thỏi vàng mà nàng dâu nhà giàu đã tặng cho chồng mình, lấy chúng làm vốn để kinh doanh. Hai vợ chồng rất cần cù chịu thương chịu khó, bắt đầu từ việc buôn bán nhỏ, dần dần việc buôn bán càng ngày càng làm lớn, gia đình nhanh chóng trở nên phú dụ. Họ rất nhanh trở thành một doanh nhân lớn ở địa phương, sau đó lại mua rất nhiều đất đai và điền trang. Nhưng những tài sản họ mua đều theo cặp, mua đất thì nhất định phải là hai mảnh đất, mua nhà thì hai căn nhất định phải giống nhau, tiền làm ăn kiếm được cũng phải chia thành hai phần. Bà chủ rất hào phóng và rộng rãi, được người dân địa phương khen là người tốt bụng.
Sau hơn mười năm chung sống, bà chủ sinh được một cậu con trai, coi cậu bé như viên ngọc trong lòng bàn tay, cẩn thận tuyển chọn nhũ mẫu cho cậu. Sau khi nhũ mẫu đến, tì nữ và bộc nhân chỉ vào một lầu nhỏ ba tầng ở phía sau nhà, nói với nhũ mẫu: “Bà chủ mỗi sáng sau khi tắm rửa xong, sẽ cầm lư hương lên lầu. Cô không được lên lầu lúc đó, nếu vi phạm quy định, cô sẽ bị xử phạt.” Nhũ mẫu hỏi nguyên do, những người khác đều nói: “Chúng tôi đã ở đây hơn mười năm, mọi người đều không biết, chỉ biết cần tuân thủ quy định.”
Đứa trẻ bú sữa nhũ mẫu dần lớn lên, đã có thể đi lại. Một hôm đứa trẻ muốn leo lên lầu, bị nhũ mẫu ngăn lại, đứa trẻ òa khóc, nhũ mẫu đành phải theo nó lên lầu. Cô phát hiện trong lầu không có vật gì, ngoại trừ một lư hương và một bàn thờ hướng về phía nam, phía trước có bức màn che. Nhũ mẫu bèn vén bức màn lên nhìn hồi lâu, đột nhiên bật khóc lớn. Những người khác nghe thấy âm thanh, liền nói với bà chủ, đưa nhũ mẫu đến gặp bà chủ để hỏi tội.
Nhũ mẫu nhận tội, nói: “Tiểu Lang muốn leo lên lầu, tôi sợ cậu ấy ngã nên trong lúc vội vàng không suy nghĩ kỹ đã vi phạm quy định. Nên phải bị phạt thế nào, tôi không oán trách gì.” Bà chủ hỏi nhũ mẫu tại sao lại khóc, nhũ mẫu rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi thấy bên trong treo một gói hương nang thêu hoa, rất giống với gói hương nang mà tôi năm xưa đã nhét vào tay áo khi xuất giá. Vào ngày tôi xuất giá, trên đường đi, tôi đã đưa cả gói hương nang và thỏi vàng trong đó tặng một tân nương khác. Đương thời nhà tôi và nhà chồng đều rất giàu có, hai thỏi vàng đó tôi không để tâm, cũng không biết nó đáng giá thế nào. Tôi không ngờ mình sẽ có ngày lạc vào cơ cực như hôm nay.” Nói xong, nhũ mẫu lại òa khóc, nữ tì bèn ngăn cô lại.
Bà chủ hỏi cô: “Em lấy chồng năm nào, tháng nào?” Nhũ mẫu trả lời chính xác về ngày cưới. Bà chủ lại hỏi: “Ngày em xuất giá, trời có mưa không?” Nhũ mẫu đáp: “Nếu trời không mưa thì túi hương nang thêu hoa vẫn ở với em.” Bà chủ nghe xong im lặng, cũng không quở trách gì, chỉ lặng lẽ đi tìm chồng mình. Nhũ mẫu tưởng rằng mình sẽ bị đuổi việc, cô vô cùng buồn bã.
Ngày hôm sau, chủ nhà trang trí đèn lồng và dây hoa, mời một đoàn kịch, giống như để chiêu đãi những vị khách quý, tất cả người nhà và họ hàng đều được mời đến. Đến lúc khai tiệc, trong sảnh sắp xếp hai bàn tiệc, phía trên sảnh đặt hai chiếc ghế, bên cạnh đặt hai chiếc bàn nhỏ, trên đó chất đầy sổ sách kế toán cao khoảng một thước. Chồng của nhũ mẫu đang ở ngoài, bà chủ sai bốn người hầu mang anh vào, bốn nữ tì cũng mời nhũ mẫu ra khỏi phòng, bảo họ ngồi ở hai chiếc ghế phía trên, ngồi yên bất động.
Thế rồi, cả ông chủ và bà chủ hướng tới hai người bái tạ, rồi đứng dậy nói: “Người được quý nương tặng thỏi vàng năm xưa chính là hai vợ chồng chúng tôi. Nếu không có hai thỏi vàng mà quý nương tặng, chúng tôi sẽ không có ngày hôm nay. Vì vậy, gói hương nang thêu hoa của ân nhân được cất giữ trên lầu, chính là biểu thị chúng tôi vĩnh viễn không quên ân đức của ân nhân. Chúng tôi ngày ngày đều thắp hương tham bái, hy vọng có ngày được gặp lại ân nhân, nên gia sản đều được chia đôi, không dám một mình độc chiếm. Hiện tại chúng tôi đã được Thượng Thiên chiếu cố, cuối cùng không cô phụ ân tình. Số điền sản, tài vật hiện nay đều được phân thành hai phần, chúng tôi xin giữ lại một nửa, còn một nửa thỉnh ân nhân nhận giúp.” Nói rồi, ông chủ hướng tới họ hàng biểu thị không có gì dị nghị.
Nhũ mẫu và chồng bối rối đến mức lúng túng, chỉ có thể nhắc đi nhắc lại “Không dám, không dám”. Chủ nhân mời mọi người ngồi xuống, bắt đầu nâng cốc chia vui, yến tiệc bắt đầu, âm nhạc của đoàn kịch vang lên. Đến hai giờ sáng, sai người hầu thắp đèn đưa hai vợ chồng nhũ mẫu đến sống ở căn nhà phía đông, giường chiếu, đồ đạc bài trí trong đó đều không khác gì nhà chủ.
Có người thắc mắc, tại sao cặp vợ chồng nhũ mẫu chỉ ngồi không mà được hưởng thụ thành quả tốt đẹp như vậy? Nhưng thực chất, chính lòng trắc ẩn, lòng tốt của cô đã giúp người phụ nữ nghèo biến trở nên giàu có. Mà người phụ nữ nghèo đột nhiên thành giàu có, lại muốn được báo đáp ân nhân của mình, đây chính là sự an bài của số phận, tạo hóa sao có thể tùy tiện ban phát hạnh phúc cho con người?
Hương Thảo (Theo Epoch Times)

Categories
Chuyện ngắn

TAN THEO SƯƠNG MÙ


Cô gái áo vàng và mấy thứ xung quanhTranh Nguyen Son

TAN THEO SƯƠNG MÙ

NGUYỄN THỊ HOÀNG

Gần hai mươi năm nay, cùng với người vợ dấu yêu luôn luôn bên cạnh, ông Mishio du lịch đã nhiều nơi, dự bao nhiêu hội nghị, có mặt trong những buổi tiếp tân tiếng tăm và lộng lẫy nhất, những bữa tiệc sang trọng và danh dự nhất, đã tiếp xúc với bao nhiêu khuôn mặt, tên tuổi lẫy lừng, danh vọng bậc nhất, xứ này và xứ khác, nhưng chưa bao giờ ông nhìn thấy một bóng dáng đàn bà nào như thế. Chưa bao giờ. Chỉ có những vóc dáng Tây phương rỡ ràng và quyến rũ, những đường nét đa tình thanh lịch của Đông phương như Trung Hoa hay Đại Hàn, hoặc cả những tài tử điện ảnh là những nhan sắc nổi bật nhất trong giới nữ lưu cao cách, nhưng chưa bao giờ ông tìm thấy đúng những đường nét uyển chuyển, mộng mị và tuyệt vời cho một cảm hứng bức tranh chưa bao giờ vẽ…
Người đàn bà ngồi đó, một tay nâng tách trà, một tay tì nhẹ lên thành trường kỷ cần xà cử, hai chân khép nép xếp vào nhau, tà áo đen dài ẻo lả buông xuống tận mũi hài thêu hoàng hạc lượn, mái tóc đen hơn nhung vén cao từng lọn nhỏ và thanh trên đỉnh đầu tròn nhỏ nhắn, để hé một nét cổ trắng ngần chảy xuống khung ngực áo rộng hình vuông lấp lánh một cành huyết ngọc bên phía trái.
Trong khung mắt vương buồn, người đối diện vẫn tìm thấy một lấp lánh ánh sắc tươi vui, hân hoan, như một thứ ánh đèn lồng hò hẹn trong vườn cây làm tăm tối sao mờ, dấu hiệu của một giờ tình tự ngọt ngào đằm thắm… Nét mày cong thỉnh thoảng cau lại, như hỏi han ân cần, như hờn giận nũng nịu, như vòi vĩnh van lơn làm nõn nàng đôi gò má cao phơn phớt một thoảng hồng man mác toả xuống đôi môi san hô non mấp máy giấu che hai hàng răng màu lựu non hé hé từng lời nói tiếng cười. Giọng nàng nhỏ, thanh, nhưng nghe rõ, như tiếng vang xa được lọc qua những tầng thanh khí trong vắt vắng im, nghe xa vời như từ cõi nào vọng vang, mà gần gũi như thủ thỉ gần kề bên gối.
Một chút vâng, một chút thưa, nàng dịu nhẹ, khoan thai, trân trọng trong câu chuyện, từng lời từng chữ nhỏ nhẻ, vừa ân cần từ tốn, vừa kiểu cách đoan trang, làm người nghe cảm tưởng mình luôn luôn được trọng vọng, kính nhường yêu dấu vô chừng…
“Thưa ông, ông bà còn ở lại đây chừng bao lâu mới trở về Nhật”. Nàng hỏi, với một thoáng nghiêng đầu dịu dàng và ánh mắt nghiêng hẳn về người đối diện chờ câu trả lời.
Ông Mishio bâng khuâng nghe chính tiếng nói mình lạ hẳn đi:
“Chúng tôi có lẽ phải về ngay sau buổi tiếp tân chiều nay”.
“Cuộc vui còn dài, ông bà vắng mặt, chúng tôi, những người ở lại sẽ mến tiếc vô cùng”.
Nàng nói và đối xử với những cử chỉ, cung cách và lời lẽ đặc biệt Đông phương như thế.
“Chúng tôi cũng tiếc, có phải không, mình nhỉ” – ông quay sang phía bà vợ mặc áo kimono tím với những tấm hoa in màu trắng xám, ngồi ghế bên cạnh, nhưng mà không thể làm sao hơn – “vì chúng tôi có việc cần chờ ở nhà”.
Bà vợ ngồi bên cạnh, im lặng, thỉnh thoảng một nụ cười dịu dàng, hiểu biết nở trên đôi môi hình trái tim nhỏ xíu màu hồng non. Theo ông, bà không biết một ngoại ngữ nào cả, và ngay đến tiếng Nhật, nhiều khi những người khác nói bà cũng không nghe hiểu nữa. Người đàn bà nói:
“Như vậy” – là vì bà chỉ biết có ông và muốn nghe mình ông thôi. Ông là vũ trụ của bà.
Người đàn ông chợp mắt, những vệt tóc trắng mềm mại rủ xuống vầng trán cao.
Ông tiếp tục giới thiệu vợ mình với người đàn bà vừa được gặp:
“Nhà tôi ít nói, gần như là không nói chuyện, nhưng hiểu biết tất cả mọi vấn đề, còn thông thái và sâu xa hơn cả sự hiểu biết của tôi. Nhất là về hội hoạ, chính khi tôi đang hoạ tranh, đang phân vân về màu sắc nào cho thích hợp với đường nét của bức tranh, nhà tôi đã chọn hộ màu đúng như tưởng tượng. Việc gì cũng thế, nhà tôi như lột hết những ý nghĩ thầm kín của tôi và làm giúp trước khi tôi thực hiện được.
Người đàn bà ngắm nghía và Mishio với một vẻ thán phục và cảm mến chân thành:
“Bà thật đáng quý, hai ông bà như vậy, đã tạo ra một thế giới riêng tư, không cần gì đời sống chung quanh nữa rồi”.
“Vâng, chúng tôi có thế giới riêng tư, và vì vậy, luôn luôn phải chống đối với bất cứ xâm nhập nào của người ngoài, đôi khi…”
Bà vợ vỗ nhẹ bàn tay mũm mĩm lên cánh tay chồng nói một câu dài tiếng Nhật.
Ông ta quay lại phía người đàn bà áo đen, tiếp tục câu chuyện, nhưng vấn đề khác.
“Thưa bà, còn bà ở lại đây bao lâu?”
Mặc dù cuộc vui vẫn còn tiếp tục, nhưng nếu ông bà ra về, có lẽ tôi cũng phải từ bỏ hết đi theo, bởi vì, xin thú thật trong đám quan khách kia, tôi không tìm thấy một ai có thể ý hợp tâm đầu để trò chuyện, dù chỉ là những chuyện vu vơ. Như thế, là tôi cũng sẽ sang Nhật khi ông bà đi rồi…
Người đàn bà ra ý hiểu điều người lạ nói, liếc nhanh dò xét nét mặt chồng. Nhưng trong khuôn mặt khả kính của người đàn ông yêu dấu, bà không tìm thấy một thoáng xúc động nào cả, nên lại cúi mặt xuống, ngắm những móng tay màu hồng nhạt của mình, khẽ mỉm cười âm thầm.
Bên kia, người ta đang tán tụng, chúc mừng nhau theo nghi lễ. Hình như Tổng thống và phu nhân đang lần lượt bắt tay quan khách để ra về. Những người hầu cận rào rào chạy lên xuống những bậc thang lầu trải thảm nhung đỏ. Tiếng áo xiêm sột soạt cạnh những hàng ghế bọc gấm. Rồi tiếng chân như xa dần dưới kia lầu.
Người đàn ông ngồi lại bên cạnh vợ, chỉ tiếp những bạn bè bằng hai con mắt đằm thắm nhìn theo, nói với người đàn bà bằng thứ giọng nhỏ và trầm của ông.
“Hình như họ ra về hết. Bà đã về chưa?”
“Bao giờ ông bà đứng lên, tôi sẽ xin theo”.
“Không, chúng tôi theo bà”.
Nàng nói:
“Chúng ta ra ngoài kia xem cảnh yên ba của buổi chiều”.
Nàng nói, và lùi lại, nhường cho người đàn ông đi trước, rồi dịu dàng, niềm nở, với một chút tôn quý nàng nâng cánh tay bà Mishio, dìu bà ta theo mình, sau lưng người đàn ông.
Bà vợ cười, im lặng, cánh tay nhẹ hẫng tay nàng, và bước đi nữa, cũng như lãng đãng vật vờ trong sương sao.
Người đàn bà ra tựa lan can, nhìn xuống mặt hồ khói mây mịt mờ dạo chơi lãng đãng trên những bờ cây sẫm sắc chiều hôm. Tiếng ông Mishio ung dung đều đều bên cạnh.
“Không bao giờ có nét bút hoạ nổi những cảnh nét quá tuyệt vời trong thiên nhiên và đời thật, đáng tiếc”.
“Thế sao những bức tranh vẫn đẹp hơn những cảnh ngoài, thưa ông?”
“Chỉ khi người vẽ tìm thấy đúng một ảo giác nào đó. Với tôi, hoạ tranh do xúc động hơn là ảo giác, nhưng chính sự xúc động thái quá làm xô lệch hết màu sắc và đường nét. Ví dụ như…”
Giọng ông chìm rồi tắt.
Người đàn bà tưởng chừng như họ, cả hai vợ chồng, đã tan biến vào thinh không.
Nàng quay lại ông Mishio đang ngẩn ngơ nhìn phía sau mình. Người vợ đã đi đâu mất. Ông ta có vẻ buồn bã, băn khoăn.
“Nhà tôi đi xuống dưới ấy rồi”.
“Dưới ấy là ở đâu ông?”
“Dưới ấy mà…”
Ông Mishio nói lửng lơ, rồi thở dài kín đáo và tì tay vào lan can, hai mắt đắm chìm vào bóng chiều tịch mịch vây phủ quanh lầu. Trong mắt ông bây giờ, những người khách cuối cùng qua lại đó, cũng ẩn hiện, lãng đãng như khuất chìm trong sương, những tiếng động cũng nhỏ và xa như tiếng ông trên môi mấp máy. Mọi sự đều mơ hồ xa tắp trong cảm nhận mịt mùng lênh láng của ông bây giờ. Người đàn bà trong mắt ông bỗng nhỏ lại, mất hết bề dài, chiều dày, chỉ còn lại một nét thuôn mơ mòng trong hai mắt ông hình dung bức tranh sẽ vẽ. Nhất định sẽ vẽ bức tranh chờ đợi. Nhập nhoà trên bức tranh phác hoạ với tưởng tượng và ký ức, ông thấy như có khoé mắt nhìn trách móc của bà Mishio. Ông nói thầm trong im:
“Không phải như mình đang nghĩ và làm đâu mình yêu quý ạ, nhưng tôi chỉ muốn thực hiện bức tranh mong ước thôi. Cả một đời người, chỉ vẽ được một bức tranh như thế thôi, mình nỡ buồn lòng và hẹp lượng sao? Cho tôi vẽ, nghe mình, nghệ thuật là nghệ thuật, mình phải hiểu, như mình đã gần và đã hiểu tôi, hai mươi năm xưa, và hai mươi năm từ ấy đến bây giờ…”
Mặc dù băn khoăn về việc bỏ đi đột ngột của bà vợ, ông Mishio vẫn trao cho người đàn bà lạ tấm thiếp, căn dặn đường đi và nơi chốn rõ ràng, mời nàng đi sang Nhật bớt chút thời giờ ngắn ngủi ghé thăm ông bà ở Kyoto, một ngôi nhà u tịch gần ngôi chùa cổ.
Khi người đàn bà tìm được nhà ông Mishio, trời chợt mưa lất phất. Cơn mưa nhẹ và mờ như bụi phủ trên vườn cây xanh tĩnh mịch quanh ngôi nhà cũ hoang vắng với mái nâu cũ kỹ loáng thoáng bóng rêu phong, với những đọt cây lô nhô từ sau hiện như bầy rắn nhỏ đang tìm đường chạy trốn khỏi những khối cây cối rậm rạp lạnh lẽo bốn bề. Trời nhuộm một màu sáng bạc như bạn hữu một cơn bão lớn về đêm, bay vừa qua một trận biến động đất trời, bây giờ, những người chết vì trận thiên tai như còn lảng vảng oan hồn đâu đó.
Nàng gọi, không thấy một bóng người nào lai vãng trong khoảng sân lát gạch loáng thoáng bóng những cây tùng lùn thấp già cỗi trồng trong những chậu sứ khổng lồ màu sắc vừa rực rỡ vừa kỳ dị được lấy trộm từ một cung điện nào từ ngàn năm. Lối đi là những mặt gỗ cắt ngang của một thân cây lớn, khảm thành hàng không đều nhau trên mặt đất màu nâu đen cẩn những đường viền sỏi trắng và tím. Đây đó lởm chởm những cụm cỏ già màu lục sẫm, thỉnh thoảng một bông hoa tím dại ngơ ngẩn mọc lên như một dấu hỏi lặng câm giữa màu xanh u tịch của vườn cây. Thoang thoảng mùi thơm của một loài lan quý nào nở kín bên hiên vắng.
Cánh cửa bằng giấy phía phòng khách mở hé cho thấy một tấm thảm màu đỏ gạch, thêu những vòng hoa xanh và tím sặc sỡ. Mấy đôi dép Nhật Bản xếp ngay ngắn ở lối ra vào. Tiếng một con chim bay qua mái hiên, cất tiếng hót ngại ngần trong thinh không hiu hắt. Người đàn bà đi chậm từng bước nhỏ, cái dù nghiêng trên vai, qua khoảng sân vắng, vào trong hiên, đứng đợi một người nào ra chào đón. Nhưng không có ai cả, nhưng những dấu vết quanh nhà chứng tỏ vẫn có người ra vào, qua lại luôn luôn. Sự hiện diện thường trực và bí mật của một bóng người làm cho không khí chừng như lạnh lẽo và trang nghiêm hẳn đi trong một cảm nhận bàng hoàng và sợ hãi về một cõi nào ở ngoài đời sống thật.
Tiếng mưa từng sợi chảy từ những tầng lá cao xuống cây hoa thấp là đà sát mặt đất, âm vang buồn bã xa lạ và lạnh lẽo, làm nàng chợt cảm thấy mình đang lạc lối trong một cõi nào cách trở và huyền hoặc, không bao giờ còn tìm đường trở về được những lối đời quen thuộc trước kia, nếu không có một dẫn dắt vô hình và thân thuộc nào đó.
Chiếc xe thả nàng xuống cổng nhà đã mất hút bóng từ lâu ngoài con đường vắng vẻ lạnh lẽo. Bỗng nhiên nàng lạnh người nghĩ nếu mình đang tới lầm nhà một người nào khác hoặc đã đến nơi nhưng ông bà Mishio đã đi vắng, còn lâu lắm mới trở về.
Người đàn bà nhìn vào trong, trên chiếc chiếu hoa mà ngà và tím, cái bàn vuông sạch sẽ đặt một bình hoa cúc tím nhạt. Mấy cái hoa còn rung rinh ướp kín những giọt mưa sương lóng lánh. Một đĩa bánh ngọt và hộp thuộc bằng đồi mồi bên cạnh những chiếc khăn lau bằng giấy cắt hình hoa cúc thật khéo. Như chủ nhà dọn sẵn và chờ đợi một người khách có hẹn từ trước. Nàng nghĩ:
“Hai ông bà ấy chắc chắn là có nhà vì sắp đón một người khách nào đó”.
Nàng quả quyết và lấy hết can đảm, tháo giày, thong thả dè dặt từng bước một, bước hẳn vào trong nhà, mở ví, lấy hộp bánh và những gói trà ngon, làm quà tặng chủ nhà đặt lên bàn.
Có tiếng guốc gỗ lóc cóc thật nhẹ phía hành lang bên trái. Rồi tiếng cửa giấy động khẽ. Nàng chờ một tiếng nói, một bóng người, nhưng không có ai cả.
Chờ một lúc, một lúc lâu như hàng ngày ở đời sống quen thuộc ở quê nhà, nàng đành lên tiếng:
“Chào ông bà Mishio, có tôi đến thăm…”
Một tiếng cười nhẹ, như gió cầm thoảng qua. Rồi tiếng dép sột soạt trên tấm chiếu hoa. Người đàn bà ngẩng lên nhìn. Bà Mishio tươi thắm với chiếc kimono màu hoa đào với những cành lá trắng, mái tóc láng lẫy như hôm đầu tiên gặp nhau, cài thêm một búp hoa hồng ngọc. Đôi môi không thoa son hồng tươi hé một nụ cười dịu dàng làm lắng dịu những băn khoăn trong lòng người đối diện, bà Mishio bỗng nói, không bằng tiếng Anh, không phải là tiếng Nhật, nhưng người đàn bà vẫn nghe và hiểu, như thường nghe và hiểu được ngôn ngữ của những người chuyện
trò trong chiêm bao:
“Mời bà ngồi, tôi biết thế nào bà cũng sẽ đến, chắc chắn là bà sẽ đến, cho nên mấy hôm nay vẫn có mong chờ. Tiếc thay, ông nhà tôi lại đi vắng hôm nay. Có lẽ ông ấy cũng sắp về, thôi tôi xin phép được đón tiếp bà vậy và ước mong bà sẽ hài lòng những giờ dừng lại trong gia đình chúng tôi”.
Người đàn bà nhìn quanh, tỏ vẻ thán phục cách trang hoàng của chủ nhân. Bà Mishio tươi cười:
“Bà sắp khen, phải không, nhưng lối trang hoàng này đã cũ quá, như thế này đã gần hai mươi năm, không thay đổi”.
Người đàn bà lạ kinh ngạc:
“Tại sao gần hai mươi năm, bà có thể giữ nguyên mọi vật trong nhà không thay đổi?”
“Có gì khó đâu, thưa bà, chỉ do người ta muốn giữ gìn hay thay đổi đó thôi. Giữ gìn thì hai mươi năm hay hai trăm năm còn nguyên vẹn đó. Nhưng nếu muốn thay đổi thì chỉ cần một ngày, một giờ, một chớp mắt ta thôi”.
“Thưa bà nói về cái gì?”
“Tất cả mọi thứ đều như thế cả, phải không bà, những vật bên ngoài cũng như những ẩn tình trong lòng người”.
Người đàn bà lại nhìn quanh, không thấy dấu vết một đồ chơi, quần áo gì của trẻ con hay một kẻ thứ ba nào ngoài hai ông bà chủ nhân.
“Thưa bà Mishio, các em hẳn đi học ở xa?”
Bà Mishio ngồi xếp chân trên chiếc gối thêu, vén tay áo kimono rón rén pha trà trong bình ra tách ngọc.
“Mời bà dùng trà, trà ướp hoa cúc của tôi tự làm cho nhà tôi dùng đó, nhà tôi chỉ uống được trà do tôi làm thôi cho nên, những lúc đi đâu, nhà tôi chỉ nâng tách trà mà không uống, bà có thấy không?”
“À, bà lại nhắc, bà nhớ từng chi tiết ấy sao?”
“Thường thì tôi không nhớ gì những lần đi theo nhà tôi, vì không có gì quan trọng đáng nhớ cả, nhưng mà từ hôm đó đến nay thì tôi cố nhớ lại từng chi tiết từ đầu và tôi nhận ra…”
“Cái gì vậy thưa bà?”
Bà Mishio nhìn ra ngoài vườn hoa lặng lẽ, bỗng thở dài, với một giọng nói nửa u buồn, nửa hoảng hốt.
Có lẽ sẽ có một cơn bão nhỏ đâu đây, và nhà tôi về nửa đường sẽ gặp cơn bão nhỏ.
Người đàn bà lạ cũng nhìn trời u ám bên trên những mái cong rêu phủ.
“Bà có cần đi đón và mang dù hay áo ra cho ông hay không?”
“Nhà tôi có mang dù theo, không sao. Nhưng với cơn bão thì trăm ngàn cái dù cũng vô ích thôi”.
Giọng của bà Mishio có vẻ trách móc, tiếc than lạ lùng làm cho bà khách bối rối và ái ngại.
“Xin lỗi bà, có lẽ tôi xin về thì hơn, hôm khác trời tốt, nếu còn nấn ná ở lại Nhật, tôi sẽ lại thăm ông bà”.
Tiếng cười bà Mishio có vẻ giễu cợt và chua chát:
“Xin bà nán lại cho qua buổi trưa nhà tôi sẽ về, dù là về trong cơn bão nhỏ, nếu biết có bà lại trong lúc đi vắng, nhà tôi hẳn buồn tiếc vô cùng và sẽ trách tôi vô ý không giữ chân bà lại”.
“Bà thật khéo nói, vậy tôi xin ở lại chờ ông về để thăm ông. Biết đâu không có dịp trở lại và gặp nhau lần khác nữa”.
“Thật rủi ro, bà đến thăm vào hôm trời không đẹp nên không thể đưa đi ngoạn cảnh được cũng không xem hoa trong vườn”.
Người đàn bà lại nhìn quanh và băn khoăn vì câu hỏi về con cái của mình chưa được trả lời. Hình như bà Mishio không muốn nói đến con cái.
“Chắc là các em cũng sắp về”.
Bà Mishio lạnh hẳn mặt đi.
“Chúng tôi không có con”.
“Dạ…”
Người đàn bà nghĩ thầm, chắc là hai ông bà Mishio có một bí mật nào đó về mối tình của họ. Họ chênh lệch tuổi tác, trông rõ hẳn. Ông gần gấp đôi tuổi bà và vì thế, hẳn ông đã có một đời vợ trước, có nhiều con đã lớn lên, và đến khi lấy bà vợ trẻ sau này thì… vì một nguyên do nào đó, không muốn có con nữa. Vì thế cho nên nhắc đến con cái, bà đã buồn bã không muốn trả lời.
Nhưng như đoán biết những ý nghĩ thầm kín trong trí khách, bà Mishio nói:
“Tôi chỉ mang thai có một lần, vào lúc gần ba mươi tuổi, nhưng bị tiểu sản và tôi cũng… rồi thì gần hai mươi năm nay…”
Khách kinh ngạc:
“Nếu vậy, bây giờ bà đã… bốn mươi sao, xin lỗi tôi phải hỏi như thế, bởi vì trông bà chỉ chừng hơn hai mươi tuổi”.
“Phải, tôi chỉ hơn hai mươi tuổi. Nhưng mà đã gần năm mươi… bà thấy là lạ lắm, phải không, đời tôi như vậy… đã hai mươi lăm năm nay… hình như trời hẩng nắng ngoài kia, nắng giữa hai cơn mưa, mời bà nhấp tách trà rồi ra xem cảnh”.
Khách đi theo người chủ ra ngoài. Những tia nắng long trên hàng mưa còn đậu trong vắt trên những đợt tùng láng lẫy. Những bông hoa đủ màu đủ vẻ lộng lẫy rung động trong cơn gió mát lạnh.
Càng đi về phía trái ngôi nhà, vườn hoa càng rộng và hoa càng trồng nhiều cho đến khi tiếp giáp với hồ sen rộng mênh mông. Những bông sen Nhật Bản trắng nõn nàng, cánh xếp chồng chất như từng mảnh lụa cắt khéo, với những tấm lá lớn đựng đầy nước mưa lóng lánh trên hồ như thủy ngân. Những đám bèo Nhật Bản li ti từng tai nấm tí hon xếp từng vầng trôi giạt quanh quẩn giữa vùng nước xanh rêu in bóng những đợt cây già nghiêng mình soi năm tháng. Tiếng một con cóc kêu nhỏ trong một bụi cây nào ẩm ướt cuối vườn.
Bàn tay lạnh ngắt và trơn láng như bụng một con thằn lằn của bà Mishio bỗng nắm lấy bàn tay bà khách. Giọng bà Mishio như chỉ còn là hơi gió thoảng trong lá cây.
“Những bông hoa này, hồ thả sen này, tôi chăm nom đã hơn hai mươi năm nay…”
“Hai mươi năm, không thay đổi”.
“Bây giờ thì thay đổi”.
“Sao bà cho là thay đổi?”
“Nhà tôi thay đổi, thì mọi thứ cũng phải thay đổi theo chứ, bà xem rồi cả tôi nữa, tôi là thứ bị thay đổi trước nhất, bà sẽ thấy như thế”.
“Thưa bà, ông thay đổi, làm sao bà biết như thế?”
Bà khách quay nhìn lại. Mặt bà Mishio trắng như phiến giấy với hai con mắt bỗng hừng lên một màu hồng vàng kỳ lạ như mắt cá thia đỏ. Trong con mắt chợt đổi màu long lanh ấy, con ngươi như sáng lên với một tia lửa hắt hiu ảm đạm, như ngọn đèn nhỏ được treo từ một đáy sâu nào xa hút âm u.
“Từ lúc ấy, nghĩa là gần hai mươi năm nay, nhà tôi chỉ trau chuốt những bức tranh dở dang, nhưng không bao giờ vẽ một bức tranh mới nào. Nhà tôi bảo là những cảm xúc đã chết hết, đã chết theo…”
“Chết theo…”
“Phải, chết theo… như bây giờ nhà tôi muốn vẽ tranh lại, nhà tôi đang đến hoạ một cảnh gần chùa, cách đây không xa lắm. Nhà tôi vẽ, là mọi sự thay đổi cả”.
“Như thế… bà nên mừng đón sự thay đổi của ông chứ”.
Sắc mặt bà Mishio trở lại tươi thắm và bình thường như cũ.
“Vâng, thưa bà, đó là điều đáng mừng, bao nhiêu năm nay, tôi chờ đợi sự thay đổi đó, khuyên nhủ nhà tôi cần phải thay đổi đi như thế kia mà, nhà tôi đã khăng khăng giữ lấy đời sống cũ, những bức tranh cũ, những xúc động cũ. Nhưng bây giờ thì nhà tôi đã tìm thấy điều tôi mong muốn, dù rằng như vậy thì tôi sẽ… Thôi thưa bà, xin bà đừng nói đến những điều đó nữa… Kìa, hình như nhà tôi đã về. Đúng là nhà tôi về. Lạy trời, cơn bão đã không tới. Không chừng là sẽ tới, nhưng muộn hơn, khi nhà tôi đã ở trong nhà, và bà nữa, bà cũng đã đến nơi…”
Người đàn bà nhìn ra ngoài cổng. Qua những tàn thông tùng xanh ngắt cách khoảng nhau thành những ô hình thoi và hình chữ nhật trong mắt nhìn bỡ ngỡ, người đàn ông tay xách hộp thuốc vẽ, và giá, tay cầm dù thong thả đi vào. Nhận ra dấu vết của khách tới thăm, ông ta dừng bước, nhìn vườn hoa, cất tiếng chào hỏi. Nét mặt ửng lên một thoáng hồng tươi đầm ấm và giọng nói hơi run, tỏ ra ông vừa mừng rỡ vừa xúc động lạ thường.
“Đúng là bà, không ngờ bà lại giữ lời hứa đến thăm chúng tôi từ xa xôi. Mời bà vào trong nhà… nhà tôi hẳn đã pha trà cúc hoa rồi chứ. Này mình ơi, chọn cho bà đây một cái kimono đi mình, bà sẽ ở lại với chúng ta…”
Người đàn bà nhìn lại, định cầm tay bà Mishio tỏ dấu hoan hỉ và cám ơn sự đón tiếp nồng hậu của hai ông bà, nhưng một thoáng nhìn quanh quất, nàng không thấy bà chủ nhà đâu nữa. Chỉ còn tiếng gió quạt nhẹ nhàng trên những tàn lá cây xanh loáng loáng những giọt nước mưa đong đưa óng ánh nắng vàng yếu ớt như một nụ cười gượng gạo cuối cùng. Chỉ còn, vẫn tiếng một con cóc, buồn bã kêu lên trong cụm hoa nào cuối vườn, và tiếng một cành hoa nào rụng xuống mặt hồ sen, âm vang mơ hồ, xa xôi, như tiếng một giọt nước mắt âm thầm rơi từ khuôn mặt mùa thu ảo não.
Bà Mishio nói, đã lâu không được đón tiếp một người khách nào nên bây giờ cơn vui làm no lòng và bà không thấy thích ăn cơm bằng được ngồi tiếp khách bên cạnh, mặc dù từ chối bữa cơm khi có khách như vậy là một việc khiếm nhã. Bà thành khẩn xin lỗi và luôn tay tiếp thức ăn cho chồng và bà khách quý. Bữa cơm thanh đạm, nhưng ngon lành, gồm một chén canh cải nấu với cá, một đĩa tôm lột vỏ chiên bột ăn kèm với khoai chiên, một đĩa nhỏ dưa gang ướp mật rượu và đường màu mã não, những khoanh trứng gà luộc trên một đĩa xà lách thật tươi ghim từng trái táo đen, hạnh nhân và hạnh đào mào đỏ. Tất cả được trình bày khéo léo trong bát đĩa bằng một thứ gỗ đen và nhẹ, cẩn hoa và chim bạc, bướm và những cánh tùng già. Những hột cơm trắng, dẻo vít lên đầu mút đũa nhẹ tênh mà đủ thắm. Người đàn bà đã được bà Mishio mời đi tắm nước nóng, thay một chiếc kimono đẹp nhất của chính bà cất giữ từ nhiều năm, màu đỏ và những bông hoa đen trắng lớn, một đôi dép nhẹ cùng màu, mớ tóc vấn cao để lộ chiếc gáy trắng mỏng lưa thưa những dải hoa vải mong manh. Ba người quỳ gối quanh chiếc bàn vuông thấp, mỗi người một mâm cơm riêng trước mặt. Bà Mishio ngồi tiếp thức ăn một lúc rồi lấy cớ đang bận những việc gì đó ở nhà sau, cáo từ và rút lui.
Bà Mishio chỉ trở ra một lần để dọn dẹp bàn ăn thay thế một tấm khăn trải bàn thêu tay khéo, dọn trà bánh và chưng một bình hoa rồi mới biến mất sau nhà bếp.
Ông Mishio xin lỗi khách về sự vắng mặt bắt buộc của vợ và tỏ vẻ hân hoan nếu được khách chiếu cố đến những bức tranh đã vẽ từ hai mươi năm xưa của ông.
Phòng tranh chỉ cách phòng khách một bức tường giấy mỏng. Những cửa nhỏ sát hàng hiên sau được kéo lên. Ánh nắng vàng tươi nhảy múa chao lượn trong những góc phòng quen bóng tối. Gần một trăm bức tranh treo san sát nhau quanh bốn bức tường thấp của gian phòng rộng thênh thang. Một số, không đủ chỗ, đã phải chồng chất lên nhau xếp vào các góc. Màu sắc trong xanh u trầm, mờ nhạt, như những vết khói mờ tan loãng dần trong hư vô.
Trên giá vẽ của kệ trong góc phòng, một bức tranh lớn được phủ một tấm lụa vàng đã bạc màu. Người đàn bà tò mò tiến lại gần giá vẽ. Ông Mishio có vẻ bối rối, nửa muốn ngăn cản, nửa ngại ngần. Cuối cùng ông nói:
“Đó là bức tranh dở dang cuối cùng của tôi. Từ đó đến nay, tôi gác bút luôn, không thêm được nét nào nữa”.
“Bà nói, ông vừa vẽ trở lại, và hôm nay ông vừa đi hoạ thắng cảnh nào gần đây”.
Ông Mishio cười buồn rầu:
“Tôi tưởng là có thể vẽ lại được, nhưng tay đã cứng mất rồi. Trái tim già cỗi và những ngón tay cứng khô”.
Người đàn bà băn khoăn.
“Bức tranh kia chưa xong, sao ông không hoạ tiếp tục. Ông hoạ gì trong đó”.
“Vợ tôi, tôi vẽ bà ấy mang thai ba tháng hồi đó, tôi say mê vẽ đến bất kể một thứ gì khác, nhất là bức tranh ấy… đến nỗi… mỗi ngày dù mệt nhọc đến đâu, nhà tôi cũng bắt buộc ngồi làm mẫu cho tôi vẽ chừng ba bốn tiếng đồng hồ sau công việc mệt nhọc. Hồi đó, chúng tôi nghèo cực kia, tranh tôi không bán được, vợ tôi cũng chưa có tiếng tăm gì để làm ra được chút tiền, nhà tôi phải âm thầm tần tảo lo liệu lấy mọi việc để giúp tôi yên ổn thời giờ tâm trí hoạ tranh. Thời ấy, tôi không nghĩ ra mọi điều tai hại của sự say mê của mình, cũng như không hề lưu tâm tới những khổ sở mà nhà tôi vì tôi phải chịu đựng những mệt mỏi, đau đớn quá mức để ngồi cho tôi vẽ, nhà tôi bị hư thai, và phải mổ… rồi thì…”
Người đàn bà bỗng lắng nghe. Hình như một tiếng khóc nức nở mơ hồ từ bên kia bức tường giấy vọng sang. Người đàn ông như không nghe tiếp tục những ý nghĩ đắm chìm.
“Tiếc thay, tôi đã dành lại cặp mắt cho nét vẽ cuối cùng. Cho nên không kịp nữa. Và bức tranh đã dở dang”.
Người đàn bà thắc mắc:
“Về sau, bà không ngồi tiếp cho ông vẽ xong đôi mắt?”
“Đôi mắt ư? Trong bức tranh bây giờ là hai vầng tối trống không. Và trong đời sống thì… chỉ còn là cái nhìn xa vắng. Bà không thấy điều đó sao?”
“Đôi mắt bà… tôi thấy, nếu ông tiếp tục bức tranh bà thì đôi mắt bây giờ không chừng đẹp hơn xưa”.
“Tôi không thể hình dung lại, tưởng tượng nhà tôi để vẽ lại. Cái gì xoá nhoà, mờ mịt, một khoảng cách vô bờ giữa chúng tôi ngăn chia tầm mắt và biến đổi cái nhìn”.
Người đàn bà lạ lùng:
“Sao bà không ngồi đây, và ông vẽ bà?”
“Tôi không thể vẽ cái bóng”.
Người đàn bà cảm thấy có nỗi gì bí ẩn, muốn hỏi nhưng người đàn ông đã khép cánh cửa sổ lại, ánh sáng đã lần về trời, căn phòng mờ tối lạnh lẽo và hai người trở ra phòng khách, tiếp tục những chén trà nóng thơm ngát mùi hoa cúc.
Người đàn bà tỏ ý muốn mời bà Mishio lên ngồi nói chuyện, vì nàng không thể ở lại lâu, còn phải trở về Osaka để cùng đi mua sắm với mấy bà bạn.
Ông Mishio thở dài:
“Ở Kyoto này thì không có gì vui cả, nhưng nếu bà ở lại với chúng tôi, ngày mai chúng tôi sẽ đưa bà đi xem ngôi chùa cổ. Còn nhà tôi thì… bây giờ là buổi trưa, buổi trưa nào nhà tôi cũng phải vắng mặt để ra ngoài ấy”.
“Dạ, ông bà còn có một ngôi nhà nào khác?”
“Không, chỗ của nhà tôi”.
Người đàn bà bỗng nhớ tới bức tranh dở dang trong phòng tranh cũ. Có cái gì làm bà nghĩ tưởng lan man không dứt đến bức tranh kia, và những câu nói nửa vời của ông Mishio. Nàng hỏi không ngăn được lòng trí tò mò.
“Xin ông… cho tôi được xem bức tranh của bà trong ấy, tại sao ông lại phải che tấm lụa như vậy, phòng không có bụi mà? Những bức tranh khác để trần cũng có hư hao gì đâu”.
“Nhà tôi muốn che lại như thế, và tôi phải che lại từ ngày ấy. Bà muốn xem thật ư? Chắc là nhà tôi không bằng lòng đâu, nhưng mà… từ xa xôi đến, chẳng lẽ bà chỉ muốn ngắm một bức tranh lại không thể được. Mời bà cứ trở lại phòng tranh và xin tùy tiện”.
Người đàn bà đứng lên, trong lúc ông Mishio ngồi lại một mình ở phòng ngoài.
Nắng bỗng tắt khi nàng nâng khung cửa sổ lên chờ chút ánh sáng hắt vào phòng. Căn phòng mờ tối lạnh lẽo phảng phất mùi ẩm mốc, mùi thơm lạnh và nồng của một thứ gỗ trầm xưa cũ.
Người đàn bà rón rén lại gần bức tranh trên giá và giở tấm lụa vàng lên. Nàng lùi lại một bước và cảm thấy một luồng nước lạnh luồn khắp châu thân làm hai chân cơ hồ dán in xuống đất và hai tay run cứng lại treo nửa vời. Nàng nhìn đăm đăm bức tranh kỳ diệu lồ lộ khuôn mặt kiều mị của người đàn bà đã nhìn thấy. Vẫn đôi môi đỏ, cặp má hồng đầy, cái vẻ tươi thắm và thanh tú sống động của khuôn mặt vương vất sợi tóc đen nhánh lung linh. Bức tranh như diễn tả đầy đủ một khuôn mặt sống thật đang linh động trong mắt người nhìn ngắm. Nhưng… không như ông Mishio nói chưa vẽ xong cặp mắt ngày ấy, người đàn bà nhận ra đúng là màu mắt và dáng nét, cái nhìn vừa dịu dàng vừa u uất của người đàn bà, và vẻ dị thường của ánh mắt nàng đã nhìn thấy tình cờ trong vườn hoa buổi sáng. Nàng nhớ rõ là ông Mishio đã nói chưa vẽ cặp mắt, trong tranh, mắt chỉ mới là hai khoảng trống. Không lẽ nhiều năm, và ông đã quên, hay một lúc nào ông đã vẽ tiếp đôi mắt bà, nhưng ông chẳng nhớ. Thắc mắc, và sợ hãi trong một cảm giác rờn rợn kỳ lạ, nàng lùi lại từng bước vội vã, đi nhanh ra phòng khách. Nàng nói cho ông Mishio biết điều vừa trông thấy, và nàng cũng nhờ ông vào che lại bức tranh như cũ mà trong lúc vội vàng nàng đã quên.
Ông Mishio đứng phắt dậy, im lìm như trời trồng một lúc lâu khi nghe nàng nói. Mái tóc trắng rung rung, vầng trán xếp lại từng nét nhăn xót xa, hai tay run run lần về phía trước, ông như chết điếng đi một lúc lâu rồi lẳng lặng bước vào phòng tranh. Người đàn bà rón rén theo sau, đứng ở khung cửa nhìn vào.
Hai tay bưng mắt, người đàn ông đứng lặng trước bức tranh, rồi ông tháo bức tranh ra khỏi giá, áp vào ngực, nước mắt giàn giụa chảy dài xuống má. Người đàn bà nghe tiếng ông hỏi vọng ra…
“Bà để… tấm khăn lụa đâu rồi?”
“Bên cạnh giá vẽ, trên mặt bàn ấy”.
Im lặng một lúc, rồi bỗng người đàn ông kêu lên:
“Tôi tìm khắp không thấy tấm khăn lụa vàng đâu cả, xin bà nhớ lại cho, bà có mang khăn ra khỏi phòng không?”
Người đàn bà rợn người:
“Tôi… có cầm khăn ấy đi đâu. Ông tìm lại xem”.
“Cái khăn không còn trong phòng nữa. Chắc là nhà tôi đã lấy đi rồi”.
Người đàn bà lạc giọng đi:
“Bà… đã về”.
“Có lẽ và lại đi rồi, lần này thì… không chừng nhà tôi đi chẳng trở về nữa…”
Không ngừng được, người đàn bà níu lại cánh tay ông Mishio:
“Ông nói cái gì, có chuyện gì vậy? Xin ông nói ra”.
Ông Mishio thận trọng đặt bức tranh trở lại chỗ cũ, yên lặng kéo cánh cửa lại và lặng lẽ đi ra khỏi phòng. Ông ngồi xuống chiếu, hai tay chắp trước ngực, mắt khép lại, tâm thần phiêu diêu trong một cõi xa vời mộng mị nào. Rồi trên môi thoang thoảng một nụ cười nhợt nhạt, ông Mishio lẩm bẩm một mình như không có ai trước mặt:
“Mình hiểu lầm tôi, mình đã hiểu lầm tôi rồi, không phải như mình nghĩ đâu”.
Ông Mishio nghe như trong xa vắng có tiếng nói rất khẽ đáp lại lời mình thì thào:
“Ông đừng chối, tôi thấy rõ ông hơn cả chính ông nhìn thấy ông mà. Mặc dù chưa đến đâu, chưa xảy ra chuyện gì cả, nhưng mà câu chuyện đã khởi đầu, nếu cứ tiếp tục, một lúc nào đó điều tôi đang nghĩ về mình sẽ đúng”.
Ông giang tay trong không khí mong níu kéo một chéo áo kimono mơ màng đâu đó:
“Không, không phải thế, chẳng có chuyện gì xảy ra, dù chỉ là trong ý nghĩ tôi thôi. Tôi chỉ yêu quý mình, suốt đời tôi chỉ biết có mình mình mà thôi”.
Ông lắng nghe. Không còn lời nào đáp lại, dù là trong xa vắng. Ông tưởng như lời mình không còn ai nghe nữa và một giây ông cảm nhận tất cả nỗi quạnh hiu của tuổi già, và cô đơn đã kéo dài từ bao nhiêu năm và từ đây nối tiếp, mãi mãi vô tận của đời người, không biết tới bao giờ.
Người đàn bà chậm rãi từng bước nhỏ qua khung cửa vắng. Mù sương buổi sáng giăng mắc một vùng cảnh vật đắm chìm trong giấc ngủ. Ngôi chùa cổ cao rộng mênh mông đen thẳm cắt thành một khối khổng lồ im lìm và bí mật trong vùng mù sương trắng bạc. Những hàng cây bốn phía lù lù đen sẫm như những tượng người quái dị cao lêu nghêu vươn tay lên trời mở lời cầu nguyện nín câm. Các tháp chuông cao lớn đứng lù lù ở một góc u tịch như khối đen chứa đựng những bí mật chết chóc truyền kiếp nào từ bao nhiêu thế kỷ.
Đến trước hiên chùa, nàng dừng lại nhìn quanh tìm kiếm. Ông Mishio đã hẹn gặp ở chỗ này, đúng chín giờ. Bây giờ hình như đã quá chín giờ, và ngoài kia bức tường, lũ học trò đã sắp hàng vào lớp của ngôi trường nhỏ bên kia chùa đã từ lâu. Nắng chưa lên, nhưng một vài bóng người đã len lén vào chùa, thấp thoáng sau những tàn lá thưa, dâng hương lễ bái. Một cái gì u ám, bí mật phủ trùm, ám ảnh quanh trí nàng, như một lớp mù sương. Và hình như đêm qua, sau một buổi chiều dài ngồi chờ không thấy bà Mishio về, trở lại nhà trọ ngủ cho qua đêm trước khi tới chỗ hẹn với ông bà Mishio, nàng đã chiêm bao, thấy một điều gì lạ lùng, liên quan tới bà Mishio và bức tranh. Hình như nàng mơ thấy bà ấy về, nói chuyện về bức tranh, về việc tiểu sản ngày trước của bà, liên hệ tình cảm giữa ông và bà, về sự có mặt của nàng trong đời sống đang yên lặng. Và những gì gì nữa, hình như rất quan trọng, nhưng nàng không thể nhớ, và chính vì vậy nàng băn khoăn, hoang mang không cùng.
Bỗng nàng nghe một tiếng kêu nhỏ, trầm ấm, như một tiếng reo vui, nhưng cũng là một hơi thở dài kín đáo.
“Kìa, bà đã đúng hẹn”.
Người đàn bà cũng mừng rỡ:
“Ông mới đến, bà đâu, thưa ông?”
Ông Mishio đan những ngón tay vào nhau, đầu cúi xuống, những vệt tóc trắng bay phơ phất trên vầng trán căng hằn mấy vết nhăn vừa đánh dấu một đêm phiền muộn không ngủ.
“Bà có thể lại kia, chúng ta ngồi lại cho qua câu chuyện, câu chuyện cuối cùng”.
Hai người thong thả đi bộ về phía hiên chùa ngồi xuống những bậc thềm lạnh lẽo không nắng chiếu.
Người đàn bà hỏi lại vì sao bà Mishio chưa tới, ông thở dài, tránh không nhìn hai con mắt đằm thắm của người đàn bà.
“Nhà tôi không đến. Và vì thế, lẽ ra tôi cũng không đến, nhưng mà lỡ hẹn với bà, vả lại, đây là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau, đúng ra là tôi được gặp bà, vả lại hôm nay là ngày… ngày gì bà có biết không, ngày Giáng sinh… và ngày nhà tôi… không còn nữa, tôi đến đây để cầu cho nhà tôi…”
Người đàn bà sững sờ:
“Ông nói gì, bà đã…”
“Vâng, nhà tôi đã chết”.
“Chiều hôm qua?”
“Không, cách đây gần hai mươi năm rồi, ngày đó, ngày tôi vẽ bức tranh”.
Người đàn bà ớn lạnh khắp châu thân nhớ đến đôi mắt như màu cá thia vàng kỳ dị đã nhìn thấy trên khuôn mặt trắng nhợt của bà Mishio trong vườn hoa hôm qua.
“Vậy thì bà hôm qua…”
“Vâng, hôm qua nhà tôi, nhưng mà…”
Một bà già thủng thỉnh, yên lặng từng bước trên đôi guốc gỗ cao, chống gậy trúc, một tay cầm thẻ nhang đi gần lại phía chùa, nhìn lên, trông thấy hai người, quay lưng đi lảng ra chỗ khác. Bước chân bà làm bầy bồ câu đang mổ thóc trong sân bay vụt lên, tiếng cánh rào rào như mưa rơi trên sông lụa.
Ông Mishio đột ngột quay lại nhìn đăm đắm trong hai mắt mơ màng của người đàn bà, giọng ông nhỏ xuống như lời thú tội bàng hoàng:
“Nếu tôi cắt nghĩa về những sự việc xảy ra giữa chúng tôi, và để bà hiểu được vì sao nhà tôi đã có mặt, rồi vắng mặt, và bây giờ… không đến, không bao giờ đến nữa, tôi phải thú thật với bà những gì ám ảnh trong lòng tôi bấy lâu nay, từ hồi gặp bà ở hội nghị, từ hôm… trong lòng tôi băn khoăn mỗi một điều, làm thế nào có thể hoạ được bức chân dung của bà dù chỉ là vài ba nét loáng thoáng. Như xưa kia, hồi mới gặp nhau, tôi ao ước làm thế nào hoạ được lên lụa những đường nét diễm kiều thanh cao của nhà tôi. Tôi… tôi phải nói hết ra mọi điều, để khi ra về rồi, phương trời nào đó, bà có thể nghĩ, vì mình một đời sống nào ở xa xôi, đã biến đổi, đã sống lại một người, đã chết đi một người, đã vì mình mà một đời sống kỳ diệu, một phối hợp phi thường giữa âm và dương, gần hai mươi năm ròng rã đã phút giây trở thành mây khói xa vời. Sẽ nghĩ…”
Giọng ông bỗng đổi thay, chìm xuống như một dây tơ chùng:
“Đêm qua… đêm qua, những đêm trước… tôi chiêm bao thấy bà, từ khi… từ khi gặp bà, tôi vẫn chiêm bao thấy bà. Và cũng từ hôm ấy, tôi muốn vẽ tranh lại. Sau hai mươi năm thề rằng không bao giờ vẽ nữa sau bức tranh không mắt của nhà tôi. Tôi mang giá vẽ ra khỏi nhà, đi xa, tìm cảnh khuất vắng, pha màu, mong vẽ một cảnh nào đó, nhưng tôi cầm bút lên, bất cứ nét nào cũng là nét dáng của bà mà thôi. Tôi phải dập xoá bức tranh và mang khung tranh lụa trắng trở về. Nhưng vô ích, nhà tôi biết hết, thấy hết, nhà tôi biết tôi nghĩ gì về bà, tôi chiêm bao thấy bà, tôi sẽ hoạ hình bà lên khung lụa mỗi lần ra khỏi nhà một mình… Và nữa, nhà tôi cũng biết tôi đã soi bóng mình xuống hồ sen…”
Người đàn bà cười mơ mộng:
“Ông soi ngắm mình dưới hồ sen sao?”
“Xin bà đừng cười, tôi phải nói ra điều không thể nói. Chính với hình bà, từ hôm gặp nhau, tôi sống lại đời sống thật, tôi muốn thấy lại mình sự thật ra sao. Bao nhiêu năm nay, với hình bóng trẻ trung không thay đổi của nhà tôi bên cạnh, đời sống bình yên kia tôi cứ tưởng mình vẫn còn như hai mươi năm xưa, nhưng mà tôi đã già rồi, tôi đã chôn sống tôi hai mươi năm với một cái bóng, với một người đã chết. Điều đó cũng không làm cho người chết sống lại, mà làm chết luôn đời sống của tôi. Hai mươi năm, tôi không tình cảm, không hoạ tranh, không giao du với ai, không biết đến gì trong đời sống bên ngoài, chỉ có nhà tôi, nhà tôi… Tôi nhận ra những điều đó khi nhìn thấy mái tóc trắng của mình cúi xuống trong hồ nước, và tôi ân hận vô cùng, tôi tiếc đời sống vô cùng. Từ phút đó, bao nhiêu ân tình và lòng chung thủy đối với nhà tôi gần hai mươi năm, dù cũng còn đó, nhưng chừng như tiêu tan thành mây khói hết. Giữa chúng tôi sợi dây nối kết giữa âm dương cũng dứt lìa, và nhà tôi… nhà tôi…”
Người đàn bà ngắt lời ông Mishio:
“Như vậy là… bà mất đúng khi bị tiểu sản?”
“Vâng, nhà tôi mất lúc ấy, nhưng mà vì… vì mối tình u uẩn khăng khít của chúng tôi, vì… nỗi chết quá bất ngờ, ai oán, nhà tôi đã phải trở về quanh quẩn với tôi. Nhà tôi chỉ cần một điều kiện, là bao giờ lòng tôi thoáng đa mang, dù cách nào, một hình bóng khác thì mối tình kia không còn lý do tồn tại, và nhà tôi cũng sẽ biến tan theo mối tình nồng nàn. Bây giờ thì…”
“Bà ấy không có vẻ gì khác lạ cả. Bà ấy vẫn đi đứng nói cười, như mọi người, tôi hay bất cứ một người nào cũng không tin đó chỉ là cái bóng”.
“Nhà tôi về từ cõi kia, trở về với tôi với lời hứa, là khi nào tôi đổi thay, vẻ tươi trẻ nhà tôi giữ gìn cho tôi suốt hai mươi năm nay sẽ không còn, nhà tôi sẽ già bằng tuổi. Từ chiều hôm qua, nhà tôi đi không trở về, và nếu có trở về, như nhà tôi nói trong chiêm bao đêm qua, sẽ không còn tươi trẻ nguyên vẹn như bao lâu nay nữa, vì rằng, tôi đã thú thật với bà từ đầu câu chuyện”.
Người đàn bà bứt rứt mân mê tà áo:
“Vì tôi, vì tôi thật ư? Tôi không tin như vậy. Bà cũng có thể hiểu lầm, sự quen biết và thăm viếng giữa chúng ta, tôi tìm đến, là chỉ vì quý mến hai ông bà giữa bao người xa lạ khác. Còn ông đối với tôi, chẳng qua cũng chỉ là chút tình cảm, như bao nhiêu người khác đã gặp đều có cảm tình với tôi. Chỉ khác là giữa chúng ta có một thông cảm im lặng và sâu xa nào đó thôi. Sự thông cảm ấy, bà cho là…”
“Cám ơn bà đã nói như vậy, nhưng điều ấy không giải toả được những thắc mắc trong lòng tôi, những u uẩn trong hồn người. Bây giờ thì muộn rồi, nhà tôi đã xa hẳn tôi. Tôi mất nhà tôi, sau suốt hai mươi năm còn gắng gượng lẩn quất quanh tôi, kéo dài chút tình đằm thắm. Nhưng tôi được gì, tôi có gì, tôi còn gì không. Đối với bà, tôi chỉ có chút lòng cảm mến, đúng ra là tôi đã tìm lại nguồn rung cảm thuần tuý nghệ thuật mà gần hai mươi năm trời nay đã khô cạn, héo khô. Mà dù có thể nào rồi ngày mai ngày kia, bà lại đi, bà có phương trời của bà. Còn tôi, tôi với cái bóng già cỗi của mình trong hồ sen, với hình ảnh nhà tôi chỉ còn trong trí nhớ, với những vết tích thân yêu trong ngôi nhà vắng lặng kia, một mình… một mình với những chiếc dép màu quanh thềm nhắc nhở bước chân ra vào lững thững, những chiếc kimono còn vương vất mùi hương hơi trong tủ, những chiếc gối thêu hoa, những chăn nệm đượm nồng, những tách trà cúc hoa…”
Những giọt nước mắt bồi hồi nhỏ xuống má môi người đàn bà:
“Nhưng ông sẽ còn bức tranh, bức tranh bây giờ đã có hai con mắt của bà… bức tranh sẽ là bà…”
“Bà lầm rồi, như tôi nói, bao giờ nhà tôi mất đi hẳn, những nét trong tranh cũng sẽ nhạt mờ theo. Còn hai con mắt mà bà thấy đó, không phải là con mắt đâu, mà cái nhìn muốn nói với tôi tất cả những điều tôi vừa nói với bà đó. Nhà tôi đã lấy tấm lụa vàng đi, vì rằng… bức tranh bây giờ chỉ còn là cái tấm vải trống trơn không còn dấu vết màu sắc hình nét nữa. Bà không tin lời tôi, nếu bà có thể trở lại phòng tranh, bà sẽ thấy lời tôi nói. Nhưng ở đây cuối cùng rồi bà cũng sẽ thấy một cái gì đó làm cho bà tin những điều tôi nói là có thật”.
“Ông nói cái gì là cái gì…?”
Ông Mishio đứng dậy. Người đàn bà đứng dậy theo. Sương đã tan hết trong sân chùa cổ. Mùi hương thoang thoảng từ một bệ thờ nào đó. Bỗng ông hỏi ngập ngừng:
“Bao giờ bà đi?”
“Trưa nay, tôi đã ghi lại vé máy bay”.
“Vậy thì… phút này, xin từ biệt bà, và xin gặp lại ở đời sau, cả ba chúng ta, nếu còn có đời sau cho mỗi người”.
Trong cơn xúc động bàng hoàng, người đàn bà trao bàn tay nhỏ nhắn của mình cho ông Mishio. Hai bàn tay ông dịu dàng, thân ái và kính cẩn, nâng bàn tay người đàn bà lên mặt mình, im hơi lắng nghe những nhịp luân chuyển của sự sống trong mạch máu, lòng dịu lắng trong một nỗi xúc động buồn thảm và mông lung, ông nghĩ, từ phút này, ta chỉ còn lại niềm quạnh hiu cuối cùng cho đời người, và ông giữ bàn tay người đàn bà trong hai bàn tay mình một lúc lâu, thành khẩn, như người đi lễ bái giữ những nén hương đã đốt trong tay mình lúc cầu khẩn.
Rồi họ cùng bước xuống thềm, cùng đi ra sân bây giờ nhoà nhạt bóng cây thêu bóng nắng. Tiếng một hồi chuông nhỏ văng vẳng từ cõi tịch liêu xa vời nào đó.
Bỗng từ đằng kia, đi lại, thoắt chậm thoắt nhanh một bóng người áo trắng. Cái bóng tới gần mãi trong hai mắt sửng sốt nhìn không chớp của người đàn bà. Nàng đưa hai tay về phía trước, kêu lên:
“Bà… bà Mishio!”
Ông Mishio cũng vừa nhận ra vóc dáng mảnh mai và nét mặt xinh tươi rạng rỡ của bà. Bà mặc cái kimono trắng, mỏng và thưa, với từng tầng vải mong manh như kết tụ bằng tơ trời, hai tay rộng thùng thình buông xõa chập chờn như những mảnh mây chiều, với một cái nón tre che hở nửa mặt. Bà Mishio chập chờn tiến lại trước mặt hai người, dừng lại, nhìn ông bằng đôi mắt trong suốt, nửa trách hờn, nửa mãn nguyện, rồi im lặng, bà đi lướt qua ông, ngược chiều với hai người, bước nhanh như bay biến về phía sau chùa.
Người đàn bà băng mình chạy theo. Nàng lạc vào một vùng sân lô nhô đây đó những bức tượng đồng đen kỳ dị. Bà Mishio đi lầm lũi, vẫn khi chậm khi nhanh, len lỏi vào giữa những bức tượng đồng đen. Người đàn bà hoa mắt cố theo dõi đuổi theo kịp bà Mishio, với ý nghĩ níu được bà lại với ông, dù chỉ một lần cuối cùng, để giải thích mọi điều bà đã lầm lẫn, và buồn lòng bỏ đi mãi mãi.
Quanh co một lúc, đến cuối sân chùa, một vùng bóng cây đen che khuất nắng sáng trên cao, chỉ còn lại những lớp sương mù trắng che kín mặt đất âm u, làm cho những gốc cây, những pho tượng đồng đen như nổi lềnh bềnh trong không trung mờ mịt, bà Mishio bỗng chậm bước, rồi dừng lại. Người đàn bà mừng rỡ cất tiếng gọi. Bà Mishio xoay mình, từ từ quay mặt lại. Người đàn bà kêu thét lên. Vẫn là vóc dáng và xiêm y của bà Mishio vừa nhìn thấy, vẫn cái nón tre che hờ nửa mặt, nhưng trong một thoáng nhìn lên, khuôn mặt người đàn bà Nhật đã hoàn toàn biến đổi. Khuôn mặt nhăn nheo tối tăm, những sợi tóc phất phơ bạc trắng, đôi môi trũng xuống héo hon, khắp cả là những nét già nua, dấu vết thời gian của hai mươi năm tàn phá. Chỉ còn trên khuôn mặt tàn héo cằn cỗi lạ thường kia, là hai con mắt, đúng là hai con mắt cá thia vàng của bà Mishio mà người đàn bà đã nhìn thấy trong vườn hoa, nhưng bây giờ, con ngươi đã nhoà đi một màu trắng đục như sương pha, và tròng mắt trong sáng long lanh hôm qua chỉ còn là một màu vàng đục mờ ủ ê, buồn bã. Nàng nhìn xuống. Bà Mishio đứng như chôn hờ trong vũng khói sương trắng xoá, hai chân lao đao muốn ngã, những cánh tay áo phất phơ run rẩy theo hai bàn tay buông duỗi khẳng khiu. Hai vai như còng xuống, khoảng lưng cúi khom, bà Mishio, với tất cả vẻ già nua dị thường ma quái, lững lững đi về phía cuối sân chùa, và người đàn bà thấy, như trong giấc mơ xa, bà Mishio đi vào một pho tượng đồng đen vừa mọc ra giữa vùng sương trắng.

NGUYỄN THỊ HOÀNG
Osaka, 1970

Categories
Chuyện ngắn

EM ĐI…*


438300489_1157965525233482_4698067666152079683_n

*(Truyện không tựa. CGQ mạn phép đặt tựa)

Cô ấy bảo với anh muốn trồng một giàn hồng bên cửa sổ, anh nói: “Dạo này bận quá, để tuần sau rảnh anh làm cho.”

Tuần sau được nghỉ nhưng anh lại lười, câu chuyện thoáng qua trong đầu rồi bay đi mất. Anh nghĩ phụ nữ ấy mà, tuỳ hứng một lúc rồi quên nhanh thôi.
Cô ấy nằm cạnh anh lướt facebook, chỉ cho anh xem một chiếc váy rất xinh.
“Em muốn mua. Được giảm đến 50% trong ba ngày, mai là ngày cuối rồi, anh chở em đi nhé.”
“Ừ, dễ mà. Mai anh mua cho.”
Tối hôm sau bạn bè rủ đi ăn mừng dự án vừa hoàn thành, cô gọi mấy cuộc nhưng anh không nghe máy, về sau kiên quyết tắt chuông. Vài chuyện vặt vãnh của phụ nữ, sánh sao được dịp bạn bè tụ tập cùng nhau.
Nửa khuya mở điện thoại, thấy cô nhắn tin: “Em đói quá, anh về mua cho em ổ bánh mì được không?”
Anh nhìn đồng hồ, đã gần một giờ sáng, anh nhét điện thoại vào túi nghĩ rằng cô ngủ rồi. Ăn khuya cũng không tốt.
Anh mở cửa nhè nhẹ, cô nằm quay mặt vào trong thở đều, anh đặt mình nằm xuống rồi ngủ ngay, không phát hiện bờ vai người bên cạnh rung lên khe khẽ.
….
Chiều nay về nhà anh thấy mấy chậu hoa đang khoe sắc, màu hoa đỏ tươi, hương thơm thoang thoảng. Anh khen: “Hoa đẹp đấy. Em tự trồng à?”
Cô không trả lời, loay hoay bày đồ ăn lên bàn, anh cũng chẳng để tâm, giở tờ báo đọc lướt vài tin tức, bữa cơm trôi qua như cái chớp mắt, chỉ có tiếng nhạc của Lê Cát Trọng Lý văng vẳng lúc xa lúc gần:
“Thương em thương tình đa mang
Yêu trăng ba mươi quên mình…”
….
Dạo này cô ít nói hẳn, thỉnh thoảng anh thấy nhà có vài cái mới mẻ: rèm cửa được thay, đèn phòng ngủ cũng là loại khác, toả ra màu vàng ấm áp, có lúc bước vào nhà nghe mùi tinh dầu thoang thoảng dễ chịu, phòng tắm để chậu trầu bà xanh mát…
Anh nghĩ phụ nữ thật vẽ chuyện, toàn để tâm những tiểu tiết đâu đâu.
Chợt tối nay về nhà thấy chiếc vali to trước cửa, cô ngồi đợi sẵn, ngước lên nhìn anh cười.
“Đi đâu đấy?”
“Đi xa.”
“Em đùa à. Không vui đâu.” – Anh chau mày, cởi đôi giày vứt sang một bên.
“Em đi thật. Rời khỏi đây, rời khỏi anh.” – Cô lại cười, khuôn mặt yên ả như mặt hồ, thậm chí không có một nét buồn thương nào.
“Tại sao? Chẳng phải chúng ta đang sống chung rất tốt?”
“Ừ, rất tốt…” – Cô đứng dậy, vuốt lại nếp váy hơi nhàu – “Tốt với anh nhưng không phải với em. Em cần một người thương, không phải một người chỉ để sống cùng. Anh xem, hoa em có thể trồng, ống nước có thể thay, điện hư có thể sửa, đói có thể tự nấu ăn, bệnh có thể tự mua thuốc… Vậy cần anh làm gì?”
Anh đứng lặng thinh, nhớ lại những ngày đầu gặp cô: Cô mỏng manh, bé nhỏ, hét lên khi thấy một con gián, cắt miếng chanh cũng đứt tay, anh bảo:
“Em vụng về thật, không có anh thì biết làm thế nào.”
Giờ cô đứng trước anh, vẻ mặt bình lặng, khoé miệng hơi mỉm cười không có chút gì giận dỗi. Tự dưng anh thấy nghèn nghẹn.
Cô lướt qua anh, mùi nước hoa thoang thoảng quen thuộc, anh bật ra một câu lạc lõng:
“Váy đẹp lắm.”
Cô hơi dừng lại, cúi đầu:
“Chắc anh quên rồi. Là chiếc váy giảm giá em muốn mua. Lúc em mua được nó thì đã không còn giảm nữa, khá đắt nhưng em nghĩ mình xứng đáng.”
Cô khép cửa. Tiếng rất êm.
Anh nhìn ra bậu cửa, giàn hồng vẫn đỏ tươi, rung nhè nhẹ. Mâm cơm trên bàn để sẵn, chỉ có một chiếc bát, một đôi đũa…
Và nhà chỉ còn mình anh.
Anh chợt nhớ từng nghe ai đó nói: “Với người phụ nữ của mình, tốt nhất là đừng dạy cô ấy trở thành người mạnh mẽ, vì đó cũng là lúc bạn đánh mất cô ấy rồi.”
LeVanQuy sưu tầm

❤ ❤

* Tình yêu là trạng thái mà hạnh phúc của người khác là điều cần thiết cho chính bạn.

—Robert A. Heinlein

Love is that condition in which the happiness of another person is essential to your own.

Categories
Chuyện ngắn

NGOẠI TÌNH


14063990_990769971022142_6897292563052948175_n

Ngoại tình

Lê Hứa Huyền Trân

Anh ngoại tình. Việc này cả khu phố không ai là không biết nhưng chẳng hiểu sao chị vẫn dửng dưng như chẳng hề hay biết gì. Ở cái nhà này, chị là trụ cột, nên cả phố đều lạ rằng anh có cái gan tày đình nào mà dám “vượt mặt” chị nhường thế. Lạ một điều nữa là việc anh ngoại tình, tuy không dẫn về nhà nhưng điều tiếng râm ran thì cũng đã lan truyền, vì nhẽ nào chị vẫn cứ đi làm mỗi ngày, vẫn cười nói với anh mỗi ngày, vẫn cứ đối xử với anh như lũ chim câu với nhau vô thức. Người ta không biết nhưng tôi thì biết rất rõ, vì tôi là em họ của chị, hàng xóm của anh chị, ngày chị dưới quê lên phố làm, chị dẫn tôi theo cho thuê căn phòng ở tạm. Chẳng phải vì chị không muốn đối xử với anh theo cách anh đã làm với mình, mà vì chị không thể, vì chị kiêu hãnh.

Chị có một cái quán nhỏ bán xôi sáng, tuy chỉ là quán nhỏ nhưng vì đây là khu phố lao động, lại gần trường học nên người ta ăn nhiều. Lâu dần sinh lời, cũng có đồng ra đồng vào. Anh chỉ là công nhân xây dựng, ngày thầu thì đi làm, còn không thì cũng chỉ ở nhà, lân la phụ chị. Hai người có với nhau những năm mặt con, đứa lớn nhất cũng đã hai mươi, còn nhỏ thì mới lên tám. Những tưởng cuộc sống gia đình cứ êm đềm trôi qua như thế thì tất cả lại đổi thay chỉ vì một chữ tiền. Chị nhân rộng quán xôi của mình ra thành nhiều chi nhánh đồng nghĩa với việc chị ngày càng kiếm được nhiều tiền hơn. Và khi tiền chị kiếm được ngày càng nhiều, tiếng nói của anh trong gia đình lại có vị thế ít hơn. Đùng một cái chị mua nhà, căn nhà to dưới phố, tôi cũng theo chị ở nhờ một góc nhỏ. Lúc này tính tình chị bắt đầu đổi khác.

Người ta hay bảo đồng tiền có một mãnh lực mê hồn, nó dễ khiến người ta thay đổi. Nhưng tôi lại nghĩ, là đồng tiền hay bởi tại con người? Chung quy lại tôi thấy đồng tiền cũng chỉ là một cơ hội, cơ hội để xét đoán mối quan hệ giữa người và người, nếu con người đừng bị cám dỗ, đừng vì nó mà thoái hóa nhân cách, chẳng phải đồng tiền chẳng bao giờ mang tiếng xấu như vậy hay sao? Người ta lại thường bảo đàn ông mà không làm chủ gia đình thì nhục lắm, rồi cái nòi bám váy vợ thì ôi thôi đủ thứ chuyện để người ta phì vào mũi. Tôi nghĩ anh cũng biết người ta điều ra tiếng vào khi sống nhờ vào vợ, chỉ có điều anh giả lảng. Cái giả lảng của anh người tốt thì bảo “ để yên cho nó sống, nó cũng đi làm phụ vợ, chỉ là không nhiều tiền bằng vợ thôi”; kẻ nhiều chuyện thì lại buông :” thằng đó mặt dày, về bám váy vợ mà không biết nhục”. Tôi nghe tất về kể lại cho anh. Anh cười xòa:

Người ta nói gì mặc người ta, chán thì người ta không nói nữa thôi.

Nhưng anh cứ để người ta đồn sai sự thật thế à?

Cũng đâu có sai, kì thực chị làm nhiều tiền hơn anh mà.

Bỗng dưng, tôi thấy anh… nhục như người ta nói. Với chí trai của một thằng mới mười tám tuổi, tâm niệm lúc

Nào trong đầu cũng là phái mạnh phải “ thống lĩnh” phái yếu và nhục nhất của thằng đàn ông đó là để vợ nuôi. Bởi thế, tôi thấy anh nhu nhược, nhu nhược đến độ từ lúc nào trong nhà vắng bóng tiếng nói của anh. Chị quyết định mọi thứ từ việc cho con cái học trường nào đến việc mua những đồ vật dụng trong gia đình hay quyết định những việc liên quan đến gia đình như đi thăm hai bên nội ngoại ngày nào, anh chỉ răm rắp tuân theo tất cả. Anh im lặng đến độ tôi nghĩ rằng tôi nhớ tiếng nói trầm ấm của anh.

Nhưng rồi tôi nhận ra không phải anh không buồn vì những lời nói đó, chỉ là anh không thể nói. Đó là khi tôi nghe anh chị cãi nhau lần đầu tiên sau từng ấy năm. Tiếng chị át hẳn tiếng anh :” Lúc nào anh cũng vậy,.. anh mua về… hỏi ý tôi chưa… Anh thật chẳng hiểu nổi”. Thi thoảng tôi nghe tiếng yếu ớt từ anh :” Mình nói nhỏ thôi, các con nghe thì không tốt”. “ Vậy ý anh nói là tôi đang nói điều không tốt à? Tôi đang mắng anh sai đấy phải không?” rồi tôi không nghe thấy anh nói gì nữa, hoặc giả anh phản kháng lại một cách yếu ớt đến độ tôi không nhận ra. Tối, tôi thức khuya vì học ôn, tối khát nước đi lùng nước uống thấy anh ngồi hút thuốc trên ban công. Năm mươi tuổi đầu, đàn ông có cái gì mà chưa từng trải?

Anh buồn vì chị nói thế sao?

Anh buồn vì chị ấy thay đổi quá nhiều.

Nếu không thể tiếp tục sao còn gượng ép? Em thấy anh mệt mỏi quá rồi

Vợ chồng hai ba chục năm, năm mặt con cả rồi, anh không muốn con anh thành kẻ không cha

Tôi im lặng không nói gì. Tôi cảm thấy cái chí trai mà tôi nói, tôi nghĩ lúc trước bỗng trở nên quá nhỏ bé trước

Lời nói của một người cha. Anh đã hút rất nhiều thuốc trong đêm hôm đó, còn tôi, tôi chỉ biết nhìn làn khói thả trong đêm.

Chị đi học nhảy đầm. Đàn bà có của thường chuộng cái “ món đó”. Chị kết thân với mấy mụ tú rảnh rỗi dư tiền, họ thường kéo nhau đi đây đó chơi lúc cuối tuần. Cứ lúc rảnh rỗi chị lại kéo họ về căn nhà mới, rồi cả đám thi nhau đánh bài chắn, những con bài nhỏ nhỏ mà đàn bà thời xưa vẫn hay chơi, nếu dư ra hay cũ đi người ta hay gấp lại thành hình lọ hoa hay hạc. Mỗi lần các mụ kéo về tôi lại không thể nào học bài được, thể nào cũng trốn. Còn anh, có lần bị mấy mụ tú ấy nhầm là người giúp việc trong nhà, sai đi lấy nước, anh cũng lẳng lặng mà làm. Chừng sau, chị xấu hổ, cấm tiệt anh xuất hiện khi có bạn chị tới.

Chị đi nhảy đầm, ăn mặc diêm dúa, cứ hàng tuần đều có nhạc xập xình. Hội chị không chỉ các bà mà còn có vài ông “ thiếu vợ” cũng tham gia. Nhìn cảnh họ uốn éo lắc lư trước mặt đám nhỏ, anh góp ý:

Mính muốn nhảy đầm, mình qua nhà khác, đám trẻ nhìn thấy lại không hay. Những hành động đó, tôi thấy không đứng đắn.

Ý anh là sao? Y anh tôi là con đàn bà không đứng đắn? Nhà này ai mua? Ai mua mà anh có quyền lên tiếng đuổi tôi ra khỏi nhà?

Và theo sau là tiếng chửi vang động cả khu xóm của chị. Trước, hai vợ chồng còn đóng cửa bao nhau, sau mỗi

Lần chị mắng anh là dường như cả xóm đều biết. Đáp lại anh chỉ từ tốn giải thích nhưng chị cứ như bất kham, anh càng nhịn bao nhiêu, chị càng lấn tới. Hàng xóm xách dép đến coi chị càng lấy đó làm oai, mắng anh không tiếc lời, thậm chí cuối cùng còn chốt hạ :” Nhà này tôi lo tất cả, đừng nghĩ vượt mặt được tôi”. Rồi chị quay đi. Anh thấy tôi đang nhìn chỉ cười. Cái giá của một người cha đắng thế sao anh?

Rồi tôi bắt đầu nghe người ta đồn anh ngoại tình. Người ta lại được dịp xỉa xói anh, nào là đàn ông bạc nửa đầu còn ham của lạ, nào là bám váy vợ mà đòi phản bội vợ. Tôi biết hết. Có đôi lần tôi cũng thấy anh và chị ấy, một người đàn bà có gương mặt phúc hậu.

Chị ấy chưa chồng- Anh nói với tôi- Là bạn thuở nhỏ của nhau, rồi anh lấy chị của em, duyên lỡ dỡ, nay mới gặp lại.

Anh thương chị ấy sao?

Chị ấy thương anh.

Câu nói đó dường như trở nên quan trọng hơn tất thảy. Chị tôi biết tất cả nhưng chị chỉ nói với tôi:” Anh ta

không dám đâu. Chị nuôi anh ta mà.”, và cảm xúc của tôi nó ngược đời đến nỗi tôi ghét cả chị của mình. Nhưng tôi biết, cả anh cũng đang dang dở, anh vừa muốn đến với người phụ nữ kia, vừa ngần ngại khi nó trái với triết lý sống cảu mình. Rõ ràng anh vẫn đang cố gắng giữ hạnh phúc gia đình. Anh cười với tôi :” Anh vừa mua thứ này, hôm nay sinh nhật chị. Ngày trước chị thích nhất món này”. Mở ra bên trong là mớ khoai lang nóng hổi mà theo câu chuyện ngày xưa chị kể khi tôi còn nhỏ, là hai người nghèo đến nỗi chẳng có tiền mua đồ ăn,c ứ sinh nhật chị là anh mua món này là món ngon nhất, đổi bữa, xem như quý giá nhất. Tôi cười cười thế nhưng đi học về tôi thấy đám khoai lang nằm trong sọt rác, chị đang xỉa xói anh không tiếc lời :” Ý anh là sao? Sinh nhật tôi anh không mua nổi thứ gì ý nghĩa hay sao mà mua thứ này? Anh đang muốn móc tôi, cho tôi quay lại ngày cơ hàn ngày ấy hay sao?” Anh nhìn tôi thẫn thờ, tôi nhìn anh tiếc nuối.

Rồi tôi đi thực tế suốt mấy tháng, ngày tôi về, thấy chị đang khóc dưới bếp, anh thì đang xếp dọn đồ đạc, lá đơn li dị thẫn thờ nằm trên bàn. Tôi không hỏi, tôi cứ cảm thấy đó là điều tất yếu. Việc hai người không còn yêu thương nhau rồi xa nhau, việc hai người chẳng còn giành nỗi sự thấu hiểu cho nhau thì xa là điều tất yếu. Nhìn thấy tôi, anh vỗ vai:

Ráng đậu đại học, anh sẽ thưởng.

Tôi gật đầu, tôi biết anh đang nói thật. Tôi không phán xét anh, cũng không thông cảm cho anh. Chỉ như một

Người biết chuyện để anh đi thật nhẹ nhàng. Anh đẩy cửa bước đi, anh đang đến với hạnh phúc mới, ánh sáng le lói chiếu vào. Một hạnh phúc dù rất muộn.

Lê Hứa Huyền Trân