CẢM KHÁI TÌNH HÈ

“Hàng năm cứ mỗi lần nhìn lá vàng rụng nhiều lòng tôi lại nao nao nhớ đến buổi tựu trường”.  Đó là lời mở đầu của bài “Ngày Khai Trường” tôi đã được học vào những ngày thơ ấu thân ái xa xưa. Lời mở dầu của bài viết này cũng tương tự mà rằng:”Hàng năm tại San Jose, cứ đến ngày các em học sinh sửa soạn trở lại đi học thì lòng tôi lại nao nao nhớ đến các buổi sinh hoạt hè của Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia”.

Tôi còn nhớ những buổi họp mặt đầu tiên của Hội Ái Hữu Cảnh sát Quốc Gia được tổ chức tại khu vườn Nhật ở đường Senter.  Ngày đó ông xã đưa cả gia đình gồm có mẹ chồng tôi và các con tôi lúc bấy giờ chưa có bầu đoàn thê tử .  Tụ họp dưới tàng cây bóng mát, mẹ chồng tôi cùng bác Nguyễn văn Tường nhắc lại những ngày cùng rủ nhau đi thăm nuôi bác trai và ông xã tôi ở trại A20 Xuân Phước . Những lần còn dặn dò nhau “xí chỗ” cho các chõng tre ở “nhà tiếp tân” của trại để khỏi bị nằm đất. Những lần thuê bao xe cùng ghé vào nhà dòng của các Sơ ở Tuy Hòa để mua nước mắm mà có lần toàn bộ khách và chủ xe cùng tắm mùi thơm “quốc hồn quốc túy” này khi thùng nước mắm bị bể chảy xuống chan hòa từ trên mui xe!

Năm nay trại hè của Hội Aí Hữu CSQG cũng vẫn được tổ chức tại Cunningham Park như những năm trước. Hưởng ứng lời hiệu triệu qua email hai chúng tôi khoác đồng phục được phát từ đại Hội kỷ niệm 50 thành lập Học Viện CSQG. Đến nơi mới phát giác là mình bỗng trở thành “hai vì sao lạc”! Cũng may tôi đem phòng hờ cái áo khoác nên đành để mặc cho chiến hữu CSQG nhà tôi làm vì sao lẻ loi giữa …ban ngày! May thay! Sau đó cũng khám phá được một chiến hữu khác cũng có áo của Đại Hội nhưng áo của anh trông “bảnh” hơn vì là áo polo có cổ với huy hiệu của 45 năm Đại Hội CSQG có kích thước lớn hơn!

Những năm về trước, chúng tôi không tham dự đều các buổi sinh hoạt hè, nhưng đôi khi các con tôi khi đi cũng dẫn mấy cháu bé đi theo. Tôi còn nhớ những buổi sinh hoạt hào hứng với các trò chơi cho trẻ con; phấn khởi với những lần phát phần thưởng cho học sinh xuất sắc thuộc gia đình CSQG. Những lần đó thường chúng tôi đã gọi cho các anh chị Nguyễn văn Nghi và Nguyễn sơn Việt  là hai người bạn thân khi còn ở Việt Nam để rủ nhau cùng đi. Nay hai anh đã ra đi vĩnh viễn! Hai chị cũng không còn đủ sức khỏe để tham gia các sinh hoạt ngoài trời nữa!

Tôi thơ thẩn đi lại vòng quanh khu nhà lồng, trung tâm của buổi sinh hoạt nhớ lại chỗ này đã từng ngồi ăn trưa với chị Nghi, chị Việt; chỗ kia là chỗ chúng tôi đứng nói chuyện với hai anh Nghi, Việt mà cảm khái rất đậm đà câu thơ của tác giả Vũ đình Liên”Người muôn năm cũ,hồn đâu bây giờ?” Khi hỏi thăm vài chị bạn khác mấy năm trước còn thấy hiện diện thì được cho biết:”Bà xã hôm nay đi chùa.” Hoặc:”Bà xã còn chưa đi xem lễ sáng nay”. Tuổi của chúng ta bây giờ đang tìm nơi trú ngụ cho tâm linh để chuẩn bị hành trang cho chuyến hành trình chuyển tiếp!

Sinh hoạt hè năm nay cũng thấy thiếu sự hiện diện của các hậu duệ. Khi tập trung trước khán đài để chào quốc kỳ, mũ nón được bỏ xuống để lộ những mái đầu mà nước thời gian đã gội bạc trắng! Quốc ca vẫn được cất cao nhưng giọng không còn hùng hồn được nữa! Đến giờ ăn các anh vẫn còn nhanh nhẹn đi phát những hộp thức ăn nhưng những hàm răng ngày xưa trong tù còn nhai được cả khoai mì khô lẫn “con gì nhúc nhích được”, bây giờ không gặm nổi khúc bánh mì! Còn được bao nhiêu lần họp mặt nữa!

Những bài thơ ngày xưa đọc thuộc lòng mà chẳng thấy ”chạnh lòng”. Nhưng giờ đây nghe sao mà “thấm” quá! Khi xưa bà huyện Thanh Quan than thở:”Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Nay nhìn về quê hương ! Đau thấm thía! Bên đây bờ đại dương người Việt hải ngoại còn mỏi miệng tranh đấu vọng về cố hương mong mỏi ngày về không phải ngậm ngùi với ca khúc”Việt Nam Tôi Đâu”! Ngày ngày mở TV, Internet, Radio mà chỉ muốn tắt đi để khỏi phải nghe toàn là những tin…tức!

Nhưng nghĩ lại thì thấy mình chẳng thể nào là con đà điểu vùi đầu xuống cát để tìm một chút ẩm ướt, tránh đi cái nóng gay gắt của cuộc sống chung quanh. Bài học “Tái Ông Thất Mã” thật đơn giản mà lại nhắc nhở cho một triết lý về cách sống lạc quan, hy vọng, luôn luôn tìm sự bình an khi đối phó với nghịch cảnh. Để biết nhìn đời với qui luật của hiệu ứng “nhân quả”: “Một cây có thể làm thành triệu que diêm. Nhưng một que diêm cũng có thể thiêu hủy hàng triệu cây”. Thì “Thà thắp lên một ngọn nến còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối” vẫn là thái độ tích cực cần có.

Với cái nhìn của “Tái ông thất mã” thì biến cố 30 tháng tư, chính sách giam giữ dã man những sĩ quan viên chức chế độ cũ, cái chết đau thương của hàng triệu thuyền nhân, bộ nhân đã khiến các nước tự do mở rộng vòng tay đón nhận những người Việt tỵ nạn, di dân và từ đó đã hình thành một lực lượng mà giáo sư Phạm cao Dương đã gọi là “lực lượng người Việt Nam siêu quốc gia” trên khắp thế giới. Cũng với cái nhìn ấy thì biến cố Formosa có hy vọng đốt cháy chế độ khi mỗi người dân trong nước trở nên một que diêm cộng với sự “chuyển lửa” của “lực lượng siêu quốc gia” bên ngoài?

Trong những giây phút bi lụy thì hình ảnh của bố tôi, một ông già gầy gò, râu tóc bạc phơ vẫn tươi tỉnh ra nhận quà thăm nuôi tại trại Long Thành.  Sau thời gian 6 năm tù, khi ông được trở về, nghe bố tôi phân tích về những hy vọng, lạc quan về tương lai định cư cho các tù nhân, tôi cứ “vâng, dạ” cho ông vui lòng nhưng thật không ngờ lời nói tưởng như giấc mơ đó sau nhiều năm đã trở thành hiên thực.

Mở quyển sách “Đường Hy vọng” của cố hồng y Nguyễn văn Thuận – một người tù 13 năm tại miền bắc đã “cải tạo” được anh cán bộ cai tù – đọc được những câu:    “Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.                     Phút này nối tiếp phút kia muôn triệu phút thành một đời sống.                         Chấm mỗi chấm cho đúng đường sẽ thẳng.                                                                        Sống mỗi phút cho đúng đời sẽ thánh.                                                                    Đường hy vọng cho mỗi chấm hy vọng.                                                                        Đời hy vọng cho mỗi phút hy vọng”

Lạc quan, hy vọng có giá trị của qui luật “tự kỷ ám thị” cho cái tuổi “cổ lai hy” trong giai đoạn này. Theo như phương châm “Tu, Tề, Trị, Bình” (Tiên tu thân hậu tề gia, tiên tề gia hậu trị quốc, tiên trị quốc hậu bình thiên hạ) của Nho giáo thì may ra ta còn lại được hai điều đầu tiên để làm trong lúc này. Cho dẫu cái điều thứ hai cũng không thực hiên được thì ta còn lại điều thứ nhất vẫn còn chút thời giờ quí báu còn lại để thực hiên. Cho nên cứ ráng sống vui , trân quý những gì mình đang có và tu thân cho “chắc ăn” vừa khỏe tâm vừa hy vọng sẽ kiếm được chiếc vé vào “thế giới bên kia” khi “trở về cát bụi”!

“Tâm bình, thế giới bình” đó là tựa đề của một bài thuyết pháp mà tôi đã được đọc trên internet.

Lan Lê