Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 1

 Lời Mở Đầu

Bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng được hình thành với một quá trình gần giống nhau. Bắt đầu là những bộ lạc nhỏ ở kề cận nhau, vì nhu cầu nào đó mà hợp lại với nhau hoặc thôn tính lẫn nhau. Dần dần các bộ lạc nhỏ yếu biến mất và các bộ lạc mạnh trở thành những tập thể xã hội lớn hơn gọi là “nước”. Các xã hội ngày xưa cứ thế mà diễn tiến như là một việc tất nhiên. Điển hình như nước Trung Hoa ngày nay là một tập hợp của hàng vạn nước nhỏ tạo nên!
Xã hội Việt Nam cũng là một quần thể gồm nhiều dân tộc có tiếng nói, phong tục tập quán khác nhau hợp lại. Trong đó Việt tộc (người Kinh) chiếm đa số. Về lãnh thổ, Việt Nam là một dải đất hình chữ S nằm ven Biển Đông, chạy dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Để tạo dựng được một giang sơn như thế, Việt Nam không thể tránh khỏi việc phải thôn tính hoặc xâm lấn đất cát của một số nước láng giềng! Đó là công việc của người xưa đã phải làm để tồn tại.
Trên dải đất hình chữ S Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều chùa miếu, lăng mộ, đền tháp lâu đời của các dân tộc thiểu số nằm rải rác khắp nơi. Nổi bật là những dấu tích thành trì, những ngôi tháp cổ biểu tượng cho nền văn minh cổ của dân tộc Chiêm Thành ở miền Trung. Đặc biệt là khu Thánh địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam đã được tổ chức quốc tế UNESCO chọn là một trong các di sản văn hóa thế giới.
Khu Thánh địa Mỹ Sơn đã ghi lại dấu tích một thời vàng son của dân tộc Chiêm Thành. Thời Việt Nam còn nằm dưới ách Bắc thuộc, Chiêm Thành – tên cũ là Lâm Ấp rồi Hoàn Vương – đã nhiều phen gây bối rối cho Trung Hoa qua những vụ tranh chấp lãnh thổ, ngăn cản bước bành trướng của đế quốc to lớn này. Rất nhiều viên thứ sử, thái thú, huyện lệnh tàn ác của Trung Hoa đã mất đầu dưới tay người Chiêm. Người Chiêm cũng từng đánh vào các nước Mã Lai, Java, Chân Lạp, có lần còn đột kích luôn vào cả đảo Hải Nam để cướp ngựa nữa. Nói chung dân tộc Chiêm Thành đã có một quá khứ oanh liệt chẳng kém ai!
Ngày nay thì người Chiêm đã trở thành thiểu số trong cộng đồng Việt Nam. Trong bài “Tìm Hiểu Cộng Đồng Người Chăm Tại Việt Nam”, Tiến sĩ Dân tộc học Nguyễn Văn Huy có đoạn viết:
“Nhiều người sẽ hỏi dân số vương quốc Chiêm Thành xưa bây giờ ở đâu? Không lẽ họ đã bị tiêu diệt hết sao? Con số 100.000 người Chăm tại Bình Thuận và Châu Đốc có phản ánh đúng sự thật không?
Câu trả lời là dân chúng gốc Chăm vẫn còn nguyên vẹn. Người Chăm đồng bằng không đi đâu cả, họ đã ở lại trên lãnh thổ cũ tại miền Trung và với thời gian đã trở thành công dân Việt Nam một cách trọn vẹn. Có thể nói không một người Việt Nam nào sống lâu đời tại miền Trung mà không mang ít nhiều dòng máu Champa trong người. Điều này cũng rất dễ khám phá, ít nhất là về hình dáng: da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, vòm mắt sâu, mắt bầu dục hai mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Cũng không phải vô tình mà cách phát âm của người miền Trung khác hẳn phần còn lại của đất nước, với nhiều âm sắc thấp của người Champa. Đó là chưa kể những danh từ có nguồn gốc Champa. Cũng không phải tình cờ mà các điệu múa hát của người Chăm trở thành những điệu múa hát trong cung đình và ngoài dân gian thời Nguyễn. Nêu ra một vài trường hợp cụ thể trên để chứng minh một điều: dân cư vương quốc Champa cũ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam. Nhắc lại quá khứ của người Chăm cũng là nhắc lại quá khứ của cộng đồng người Việt tại miền Trung nói chung.”
Lời nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy chắc không xa thực tế mấy. Những cuốn Việt sử xưa nhất đều có chép vụ tháng giêng năm Ất Tị (1365) quân Chiêm đã bắt hàng trăm thanh thiếu niên nam nữ của Đại Việt đang vui chơi Hội Xuân ở đất Bà Dương (Hóa Châu) đem về nước! Bắt về để làm gì? Nếu muốn giết đám trẻ đó, người Chiêm đủ khả năng để giết tại chỗ mà! Tiếp theo, mỗi lần Chế Bồng Nga sang đánh Đại Việt thắng trận lại bắt về không biết bao nhiêu thiếu nữ và đàn bà trẻ để làm gì nếu không phải là làm quà ban thưởng cho các quan quyền làm thê thiếp hay nô lệ? Tới năm Nhâm Ngọ (1402), nhà Hồ chiếm được xứ Động Chiêm và Cổ Lũy của Chiêm Thành, đưa lính tráng vào trước để khai khẩn đất đai tính chuyện ăn ở lâu dài. Thế nhưng năm sau, khi đưa vợ con những người này vào để đoàn tụ gia đình bằng thủy lộ, không may lại gặp bão đánh chìm thuyền bè, hầu hết số người này đều bị chết đuối. Vậy, những người lính làm di dân không may ấy sẽ tìm vợ ở đâu nếu không phải là những đàn bà Chiêm Thành? Tới thời Trịnh Nguyễn phân tranh, các chúa Nguyễn còn đưa bao nhiêu đợt tù binh bắt được của họ Trịnh vào khai khẩn đất Chiêm Thành nữa, họ cũng phải lập gia đình chứ? Nhưng họ dễ gì kiếm được đàn bà Đại Việt khi đang ở trên đất Chiêm!
Thực tế như ở Thừa Thiên – Huế, chỉ điểm sơ ở các làng Vân Thê (xã Thủy Thanh), La Vân (La Chữ), An Mỹ (Thế Lại Thượng) đã có nhiều cư dân mang họ Chế. Hỏi dân địa phương họ ước tính người họ Chế trong ba làng đó đã lên tới vài ngàn người. Đó là chưa nói đến các họ khác mà vua Minh Mạng đã ban cho những người Chiêm trên toàn quốc: Bá, Đàng, Hứa, Lưu, Hán, Lộ, Mã, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên, Ức v.v…
Đến đây thiết tưởng cũng nên nói sơ về vấn đề “Họ” của người Chiêm một chút:
Ngày xưa người Chiêm chưa có họ. Những người đã đạt được một địa vị quan trọng trong xã hội thường tự chọn tên một vị thần, một vị thánh, một vị vua danh tiếng, một đấng anh hùng mình tôn sùng ghép vào tên mình để tăng thêm vẻ tôn quí. Như chữ “Chế”, chữ “Trà” đứng trước tên người mang ý nghĩa như một biểu tượng về một tước vị, một giai cấp cao sang hoặc để “thiên mệnh hóa” cái địa vị đương thời của người ấy. Sau này một số người Chiêm đầu hàng các vua Việt mới được các vị vua ấy ban “họ chính thức” theo ý nghĩa Việt Nam.
Đến đời vua Minh Mạng thì nước Chiêm bị sát nhập hẳn vào Việt Nam. Vua Minh Mạng đã bắt buộc những người Chiêm chưa có họ đều phải nhận cho mình một họ trong danh sách các họ do vua chỉ định để triều đình tiện việc thống kê hộ tịch.
Ngày nay dân tộc Chiêm đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng Việt Nam, lãnh thổ cũ của Chiêm Thành cũng đã trở thành một phần lãnh thổ Việt Nam. Vậy ta có thể coi lịch sử Chiêm Thành như một phần của lịch sử Việt Nam không? Sao lại không được nhỉ? Làm sao phủ nhận được sự liên can lịch sử của triều đại Chế Bồng Nga nước Chiêm Thành với lịch sử thời Trần mạt của Đại Việt? Người viết nghĩ cộng đồng Việt Nam cũng có thể hãnh diện với lòng chung thủy, dám hi sinh mạng sống của mình để giữ tròn trinh tiết với chồng của một vương phi Mỵ Ê, hãnh diện với những công trình văn hóa mà dân tộc Chiêm đã để lại cho đất nước Việt Nam lắm chứ!
Còn nữa, nói tới dân tộc Chiêm mà quên nói tới vị vua anh hùng Chế Bồng Nga là một điều thiếu sót! Đó là một vị anh hùng đúng nghĩa, anh hùng chính hiệu!
Sở dĩ người viết phải nhấn mạnh điểm anh hùng đúng nghĩa, anh hùng chính hiệu vì ngày nay người ta hay lạm dụng danh hiệu anh hùng quá đáng như anh hùng diệt tăng, anh hùng sản xuất phân xanh, anh hùng lao động v.v…! Danh hiệu này được dùng như một phần thưởng để ban phát một cách vô tội vạ! Điều mỉa mai là vẫn có lắm kẻ mê say nó đến quên mạng! Người viết còn nhớ hồi ở tù cải tạo, có một số bạn tù đói thắt ruột nhưng khi ra lao động vẫn cố gắng cuốc đất tối đa để cuối tuần được bầu làm “anh hùng lao động”! Lạm dụng đến nỗi có người phải than ngày nay là thời đại “ra ngõ gặp anh hùng”!
Vậy, phải như thế nào mới xứng đáng là anh hùng chính hiệu?
Theo nghĩa nguyên gốc thì anh là vua loài hoa, hùng là vua loài thú. Ngay chữ “anh” đã tự nó xác định cái ý nghĩa đẹp đẽ, thơm tho, tinh khiết của chính nó! Chữ “hùng” thì mang ý nghĩa sức mạnh, khả năng, lòng quả cảm, sự khôn khéo, sự chiến thắng…
Hai chữ này đi chung với nhau nó trở thành tiếng kép để chỉ hạng người vượt trội những người khác về mặt tài năng hay đức độ, tạo nên được những thành tích phi thường có lợi cho nhân quần xã hội, ít nhất họ cũng để lại được một tấm gương sáng đẹp cho người đời soi chung.
Từ ngữ anh hùng thường chỉ dùng giới hạn trong phạm vi một dân tộc, một đất nước, một liên bang thôi. Không nghe ai nói tới anh hùng quốc tế bao giờ! Để được gọi là anh hùng chính hiệu, nhân vật đó phải được dư luận quốc dân gạn lọc qua một thời gian dài mới định được!
Trong bộ sách “Tam Quốc Chí” của văn hào La Quán Trung, ở hồi thứ 21, có đoạn Tào Tháo uống rượu luận anh hùng với Lưu Bị nghe rất lý thú, xin lược lại như sau:
Trong khi uống rượu, Tào Tháo hỏi Lưu Bị có biết anh hùng trong thiên hạ đời nay là ai không? Lưu Bị đã nêu lên một số người đang có danh vọng, đang cát cứ một phần lãnh thổ của nước Trung Hoa đương thời, nhưng tất cả đều bị Tào Tháo bác đi. Tào Tháo cho Viên Thuật là nắm xương khô trong mả, Viên Thiệu thì mặt bạo mà gan non, thấy của thì quên mệnh, Lưu Biểu chỉ có hư danh mà không có thực tài, Tôn Sách thì dựa vào uy danh của cha, Lưu Chương là chó giữ nhà, Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại… là đám tiểu nhân lúc nhúc không đáng đếm xỉa. Tiếp đó Tào Tháo dõng dạc nói: “Người anh hùng ấy à? Anh hùng phải là người nuôi chí lớn trong tim óc, lại phải có mưu cao kế giỏi, có tài bao tàng cả máy Vũ Trụ trong lòng, có chí nuốt Trời mửa Đất, ấy mới đáng mặt anh hùng chứ!”. Lưu Bị hỏi lại: “Ai là người đáng mặt như thế?”. Tào Tháo không còn úp mở nữa, chỉ thẳng vào Lưu Bị rồi lại chỉ vào mình mà nói: “Anh hùng trong thiên hạ đời nay chỉ có sứ quân và Tháo!”. Lưu Bị nghe rụng rời cả chân tay, đôi đũa ông đang cầm cũng rơi xuống đất…
Theo cách luận này thì muốn làm anh hùng quả thật là khó!
Mạc Đăng Dung là một tướng có tài, khi triều Lê suy yếu, loạn lạc khắp nơi, ông ra công đánh Nam dẹp Bắc rồi cướp ngôi nhà Lê dựng nên triều nhà Mạc. Công nghiệp như thế nhưng chưa thấy sử sách nào khen ông ta là anh hùng cả! Vì sao? Vì Mạc Đăng Dung chỉ có “hùng” mà không có “anh”! Vì ông đã cam tâm dâng hiến một phần lãnh thổ của Đại Việt cho Trung Hoa để cầu chước bảo vệ ngai vàng, phản lại quyền lợi của dân tộc!
Nguyễn Thân, một đại thần triều Nguyễn thời Pháp thuộc là người nhiều mưu lắm kế, giúp Pháp dẹp được rất nhiều cuộc khởi nghĩa, nhất là diệt được phong trào Văn Thân của Phan Đình Phùng. Ông là một vị tướng bách chiến bách thắng, đã được chính phủ Pháp tặng Bắc Đẩu bội tinh đệ ngũ hạng rồi Bắc Đẩu bội tinh đệ tứ hạng. Với triều Nguyễn, ông được phong Cần chính điện Đại học sĩ, Túc liệt tướng Diên Lộc quận công. Bước đường công danh như vậy là đã tột đỉnh. Thế nhưng cuối cùng ông chỉ để lại trong lòng người dân Việt vỏn vẹn cái danh hiệu “Việt gian”! Vì ông cũng chỉ có “hùng” mà không hề có “anh”, cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, giết hại những người dân tranh đấu cho quyền lợi dân tộc!
Ngược lại, các nhân vật như Triệu Thị Trinh, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Đề Thám, Trương Định, Nguyễn Thái Học v.v… là những người không chịu khuất phục trước bọn giặc cướp nước, quyết kháng chiến tới cùng, dù thất bại họ vẫn được quốc dân nhớ ơn thờ kính, xưng tụng là những bậc anh hùng. Tên tuổi họ ngàn năm vẫn sáng ngời trong sử sách!
Trở lại chuyện vua Chế Bồng Nga: Khi ông lên ngôi vua thì nước Chiêm vừa trải qua một trận dịch hạch khủng khiếp. Ông vừa lo việc hàn gắn vết thương cũ vừa lo việc phát triển quân đội để tái chiếm những vùng đất cũ của Chiêm Thành đã bị Đại Việt xâm chiếm. Trong bước đầu ông đã thành công rất vẻ vang. Nhờ mưu trí tuyệt vời, quân đội hùng mạnh, ông đã chiến thắng Đại Việt nhiều trận oanh liệt. Nhưng ông không hề nuôi ý định thôn tính Đại Việt. Ông đã sáng suốt nhận ra được những mối nguy sẽ xảy đến nếu Chiêm Thành thôn tính Đại Việt: Thứ nhất, dân Đại Việt sẽ quật cường vùng dậy như nhiều lần trước họ đã làm với người Trung Hoa. Thứ hai, nếu Đại Việt không vùng dậy nổi thì Chiêm Thành sẽ thành ở sát cạnh Trung Hoa, chẳng khác chi con dê phải ở sát cạnh một con báo! Ông đã cố thực hiện một giải pháp khác giữ được an toàn cho nước Chiêm hơn. Ông chủ trương duy trì sự tồn tại của một nước Đại Việt để làm bình phong che chắn thế lực Trung Hoa! Dùng Trần Húc con vua Nghệ Tôn không thành, ông lại định dùng Trần Nguyên Diệu, con thứ vua Duệ Tôn làm con bài chủ cho giải pháp này! Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên! Không ngờ cuộc đời của một vị vua anh hùng ngang dọc một thời lại bị kết thúc đau đớn chỉ vì một sơ suất nhỏ! Ông đã không thực hiện được ước nguyện. Nếu Chế Bồng Nga cẩn thận hơn một chút, không biết cục diện khu vực Đông Nam Á ngày nay sẽ ra thế nào! Phải chăng đó là sự dàn xếp của định mệnh?
Người viết vốn thích đọc lịch sử nước nhà, đã từng gặp nhiều đoạn sử oái oăm. Đôi khi chỉ cần một sự rủi may nhỏ nhoi cũng đủ làm thay đổi cả một cục diện lớn. Khi đọc qua đoạn sử này người viết không thể không suy nghĩ băn khoăn. Rõ ràng nhân vật Chế Bồng Nga, về nhiều mặt không thể tách rời dòng sử Việt được. Vì thế nên người viết mạo muội gom góp một ít tài liệu viết nên thiên tiểu thuyết lịch sử Chế Bồng Nga: Anh hùng Chiêm quốc.
Có một điều người viết xin thưa trước với quí độc giả: Tuy viết tiểu thuyết lịch sử chứ không phải khảo cứu lịch sử, nhưng người viết luôn chủ trương xây dựng tác phẩm của mình không đi quá xa nguồn chính sử! Tiếc rằng tài liệu về nhân vật Chế Bồng Nga trong chính sử quá hiếm và quá ngắn gọn. Về dã sử tuy có nhiều hơn nhưng thường rất mơ hồ, hoang đường nên sự gạn lọc khá khó khăn. Vì vậy, thiên tiểu thuyết lịch sử này có thể vấp nhiều lầm lỗi dễ gây sự hiểu biết sai lạc cho độc giả như nhà văn tiền bối Lan Khai từng vấp phải. Theo chính sử, nhân vật Đỗ Tử Bình là một viên quan tham lam, gian dối, sự gian dối của y đã tạo thành ngòi nổ cho trận chiến Việt – Chiêm năm 1377 mà kết quả là quân Việt đại bại, vua Trần Duệ Tôn bị giết. Thế mà trong tập tiểu thuyết lịch sử Chế Bồng Nga của nhà văn Lan Khai, nhân vật Đỗ Tử Bình lại được biến thành người giết được Chế Bồng Nga, là vị cứu tinh của nhà Trần! Thật sự người bắn hạ được Chế Bồng Nga chính là Đô tướng Trần Khát Chân, lúc đó Đỗ Tử Bình qua đời đã lâu.
Hi vọng với sự tiến triển của ngành nghiên cứu sử học, trong tương lai người ta sẽ tìm thêm được những tài liệu lịch sử về nước Chiêm chính xác hơn. Mong quí độc giả ai thấy những thiếu sót trong tập sách này xin chỉ giáo cho. Người viết lúc nào cũng sẵn sàng lắng nghe và xét lại để bổ chính khi sách được tái bản.
Sacramento, tháng 3 năm 2011
Trân trọng kính chào quí độc giả!

Ngô Viết Trọng

th (40)

Chương Một

Sau khi quân Mông Cổ bị thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược hai nước Đại Việt và Chiêm Thành, hai dân tộc này đã trải qua một thời gian sống hòa bình, thân thiện bên nhau ngót hai mươi năm. Vua Đại Việt Trần Nhân Tôn cũng như vua Chiêm Chế Mân đều rất cảm kích lòng dũng cảm, ý chí bất khuất của nhau trước lũ giặc lớn Mông Cổ. Khi vua Nhân Tôn đã xuất gia, trong một lần vân du sang Chiêm Thành, ngài đã hứa gả người con gái út của ngài là Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân. Thế nhưng khi vua Chế Mân xin thực hiện lời hứa đó, triều đình Đại Việt lúc bấy giờ đã do vua Anh Tôn lãnh đạo lại dùng dằng không muốn chịu. Bất đắc dĩ vua Chế Mân phải dâng hai châu Ô và Rí cho Đại Việt để làm sính lễ. Việc này đã làm cả triều đình lẫn dân chúng nước Chiêm bất mãn.
Năm Bính Ngọ*, Huyền Trân công chúa được vua Chế Mân phong làm hoàng hậu. Nhưng cuộc tình duyên này không được lâu dài. Vua Chế Mân sống với Huyền Trân công chúa chưa được một năm thì mất. Hoàng tộc Chiêm Thành tôn hoàng tử trưởng Chế Chí lên kế vị vua cha.
Vua Anh Tôn thương em, sợ Huyền Trân sẽ bị hỏa thiêu với chồng theo tục lệ Chiêm Thành – vua mất thì các hậu, phi của vua cũng phải hỏa thiêu theo vua(?) nên sai Đại hành khiển Trần Khắc Chung lập mưu cướp bà đem về Đại Việt.
Vụ cướp lại công chúa đã làm người Chiêm càng thêm bất bình. Vua Chế Chí quá tức giận, đã tìm cách chiếm lại hai châu đất cũ. Thế là tình hình giao thiệp giữa hai nước bấy giờ càng ngày càng trở nên căng thẳng. Năm Nhâm Tý*, vua Anh Tôn thân hành đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chế Chí thấy quân Trần quá mạnh, có ý muốn đầu hàng. Ngặt nỗi quân dân Chiêm vì quá phẫn uất, thúc ép ông phải kháng cự. Kết quả vua Chế Chí đã bị bắt sống. Vua Anh Tôn bèn hội các quan ở Đồ Bàn để bàn định việc cai trị nước Chiêm. Vua hỏi:
-Nay vua Chiêm đã bị bắt, quân Chiêm đã tan rã, ta có nên nhân dịp này đặt quan lại để cai trị nước Chiêm không?
Thiên tử chiêu dụ sứ Đoàn Nhữ Hài thưa:
-Đánh bại quân đội một nước có thể dễ nhưng cai trị một nước thì rất khó! Muốn cai trị nước Chiêm không phải bệ hạ chỉ để lại một số quan lại là đủ! Tuy rằng có thể tuyển mộ những binh lính tại địa phương nhưng làm sao tin tưởng chúng được? Còn nếu để lại nhiều binh lính của ta thì rất bất tiện: nào giải quyết vấn đề lương thực, vấn đề tình cảm gia đình, làm sao cho lớp binh lính xa nhà ấy được yên tâm để phục vụ? Chưa hết, nếu lỡ quân Bắc lại sang xâm lấn, lực lượng ta đã bị xé mỏng, bấy giờ tính sao? Theo thiển ý của thần, bệ hạ nên lựa chọn một người nào đó trong hoàng tộc nước Chiêm, phong cho y làm chúa rồi bắt y triều cống hàng năm thì vẫn lợi hơn là cai trị nước Chiêm để rồi gánh thêm bao nhiêu mối lo âu, xin bệ hạ xét định!
Các quan đều tán thành ý kiến ấy. Vua Anh Tôn nghe lời, phong cho người em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu để cai quản nước Chiêm, lấy hiệu là Chế Năng. Ổn định tình hình nước Chiêm xong, vua Anh Tôn cho rút quân về nước.
Nhưng Chiêm Thành thần phục Đại Việt chưa bao lâu lại trở chứng. Do tinh thần phẫn nộ của dân Chiêm về mối hận Ô Rí thúc đẩy, Chế Năng lại bước theo con đường Chế Chí đã đi. Năm Mậu Ngọ* Chế Năng kéo quân xâm phạm hai châu Ô và Rí. Lúc bấy giờ ở Đại Việt vua Trần Minh Tôn đã lên thay vua Anh Tôn, ông cử Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Trước khi xuất quân, vua Minh Tôn nói với Huệ Vũ:
-Với uy vũ của thúc phụ, chuyến đi này nhất định phải thành công. Tuy thế, trẫm chưa biết phải xử trí thế nào khi đã chiến thắng. Thúc phụ có cao kiến gì không?
Huệ Vũ đáp:
-Trước đây Thượng hoàng đã chinh phạt Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm. Thượng hoàng có hỏi ý các quan có nên chiếm đất Chiêm không, các quan đều bàn chưa nên. Lý do là sợ phải xé mỏng lực lượng của ta trong khi mối đe dọa của phương Bắc vẫn còn đó. Thượng hoàng bèn lựa một người trong hoàng tộc Chiêm phong làm chúa để y cai quản lấy nước Chiêm, buộc hàng năm triều cống Đại Việt. Lần phạt Chiêm này cũng chẳng xa cách lần trước mấy, tình hình cũng chẳng khác nhau, tôi nghĩ ta cũng nên bắt chước kế hoạch của Thượng hoàng là hơn!
Vua Minh Tôn nói:
-Nếu thúc phụ cũng có ý ấy, xin thúc phụ cứ tùy tiện!
Huệ Vũ bèn cử Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến đi tiên phong. Trong trận đụng độ đầu tiên, quân Chiêm đã kháng cự rất mãnh liệt. Quân Đại Việt thua lớn, Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến bị tử trận. May có Điện súy Phạm Ngũ Lão tiếp ứng kịp thời quân Đại Việt mới chuyển bại thành thắng. Quân Chiêm lại tan tác chạy. Huệ Vũ thừa thế tiến thẳng vào tới Đồ Bàn. Chế Năng hoảng sợ phải dẫn cả hoàng gia chạy sang nương náu ở Java là quê mẹ của ông ta. Triều đình Chiêm Thành như rắn mất đầu, các quan lại, các lãnh chúa người đầu hàng, kẻ chạy trốn hết.
Chiếm xong Đồ Bàn, Huệ Vũ bèn cho yết bảng phủ dụ chiêu an dân Chiêm. Ông kêu gọi ai làm công việc gì nay trở về với công việc nấy. Ông cũng ra lệnh cấm tuyệt quan quân Đại Việt quấy nhiễu dân Chiêm. Ai phạm tội nặng như giết người, hiếp dâm đều bị xử chém. Tội vừa như cướp bóc, trộm cắp thì phải chịu đánh đòn, trường hợp nghiêm trọng có thể bị tước quân tịch và bắt làm nô lệ. Nhờ lệnh đó, dân Chiêm có phần yên lòng, dần trở lại làm ăn như cũ.
Một hôm Huệ Vũ cho đòi tất cả các quan chức lớn nhỏ cũ của nước Chiêm đã đầu hàng tập trung tại nhà hội Vĩnh Xương trong thành Đồ Bàn rồi tuyên bố:
-Trước đây Trần đế đã đánh bại Chế Chí, đáng lẽ ngài đã sát nhập nước Chiêm vào lãnh thổ Đại Việt! Thế nhưng vì lòng nhân ái, ngài đã phong Chế Năng làm Á hầu để cùng các ngươi cai quản nước Chiêm! Không hiểu sao Chế Năng và các ngươi lại ôm lòng phản trắc, gây hấn tạo tình trạng bất an cho dân cả hai nước. Trần triều bất đắc dĩ lại phải ra tay trừng phạt. Nay nước Chiêm thêm một lần nữa coi như đã mất! Với quyền lực trong tay, ta sẽ đặt các quan Đại Việt cai trị dân Chiêm! Còn các ngươi, ta có thể giam vào ngục thất hoặc đày ải làm nô lệ suốt đời cho biết thân, các ngươi nghĩ thế nào?
Nghe Huệ Vũ hỏi thế, các quan chức Chiêm Thành đều lộ rõ nét mặt buồn bã lo âu nhưng chẳng ai dám hé môi. Huệ Vũ nhìn khắp bọn họ một lượt rồi nói tiếp:
-Ta nói như thế có phải không? Tại sao triều đình Đại Việt đã dung dưỡng các ngươi, trả quyền chức cho các ngươi, cho các ngươi tự cai trị lấy nhau, thế mà các ngươi lại a tòng với kẻ phản bội chống lại Trần triều như các ngươi đã hành động vừa rồi? Tại sao các ngươi không biết khuyên Chế Năng bỏ cái thói ăn cháo đá bát ấy? Một người khuyên y có thể không nghe nhưng nhiều người khuyên lẽ nào y lại chẳng nghe? Cũng bởi các ngươi không tốt nên y mới dễ dàng thuyết phục cùng nhau làm cái việc vong ân bội nghĩa ấy! Kinh nghiệm xương máu đã rành rành trước mắt, Đại Việt ta đâu còn dám để các ngươi tự trị? Chính các ngươi đã tự đưa dân tộc các ngươi đến chỗ diệt vong! Các ngươi còn có lời gì để nói nữa không?
Không khí im lặng ngột ngạt bao trùm cả sân hội. Đám cựu quan chức Chiêm Thành hầu hết gục mặt âu sầu tuyệt vọng. Bỗng một cụ già khoảng ngoài bảy mươi lấy can đảm đứng dậy tiến lên quì lạy Huệ Vũ rồi nói với giọng tha thiết:
-Bẩm Đại vương, chúng tôi đã lỡ dại phạm tội với thiên triều! Cúi xin thượng quốc mở lượng hải hà bỏ qua lỗi lầm cho lũ mán mọi lạc hậu này! Nếu Đại vương cho nước Chiêm chúng tôi được tự trị một lần nữa, dân Chiêm chúng tôi xin thề chẳng bao giờ còn dám phản bội! Nếu chúng tôi còn phạm lời thề xin trời tru đất diệt!
Nghe vị cựu quan già làm thế, nhiều người khác cũng bắt chước nhau cúi lạy Huệ Vũ:
-Cúi xin Đại vương mở lượng hải hà tha thứ cho dân Chiêm chúng tôi một lần nữa! Chúng tôi sẽ tuân phục thờ kính thiên triều như thờ cha mẹ, chẳng bao giờ còn dám ăn ở hai lòng!
Huệ Vũ đợi đám cựu quan chức Chiêm Thành van lạy một hồi rồi mới hỏi:
-Có chắc các ngươi thề không bao giờ còn phản bội thiên triều nữa không?
Một thoáng hi vọng lóe lên, đám cựu quan chức Chiêm Thành đồng loạt hô lớn:
-Chúng tôi xin thề! Chúng tôi xin thề! Kẻ nào sai lời xin trời tru đất diệt!
Huệ Vũ lại nhìn khắp đám người Chiêm sa cơ thất thế một lượt rồi tiếp:
-Thề với trời đất không phải là chuyện chơi đâu! Khi được phong tước Á hầu để cai quản dân Chiêm, Chế Năng đã long trọng thề sẽ tuyệt đối trung thành với thiên triều, thế nhưng rồi y lại phản bội lời thề! Kết quả y đã làm được cái gì? Chỉ thấy cảnh xương tan máu đổ giáng lên đầu dân Chiêm! Chính bản thân Chế Năng đã trở thành kẻ vong gia thất thổ khốn đốn ở quê người! Các ngươi phải nhớ bài học đó! May là thiên tử lòng nhân bao la nên cử ta đánh dẹp! Nếu việc này giao cho một tướng khác, chưa chắc các ngươi còn được yên lành như hôm nay! Thấy các nguơi đã biết hối hận về sự phản bội của mình ta cũng động lòng. Ta biết các ngươi chỉ vì ngây ngô dại dột nên bị Chế Năng dụ dỗ hoặc ép buộc phải làm việc quấy thôi! Vốn tình thiên tử thương dân Chiêm chẳng khác gì dân Đại Việt! Ngài đâu muốn để dân Chiêm phải buồn khổ, đau lòng! Khi ta xuất chinh, ngài đã cho phép ta được quyền tùy tình hình mà giải quyết. Để thể hiện lượng khoan hồng của thiên tử, ta sẽ cho nước Chiêm được tự trị một lần nữa, các ngươi nghĩ thế nào?
Đám dân Chiêm đang âu sầu ủ rũ như vừa chợt tỉnh ngủ, họ ngơ ngác nhìn nhau như dò hỏi. Nhưng cũng chẳng có một ai lên tiếng. Huệ Vũ lại tiếp:
-Quân bất hí ngôn, ta thay mặt thiên tử cho dựng lại nước Chiêm thật đấy! Triều đình Đại Việt muốn có một nước Chiêm mới mẻ biết sống thuận hòa với Đại Việt để dân chúng hai nước cùng được yên ổn làm ăn. Một nước Chiêm mới cần phải có một triều đình mới để cai trị muôn dân. Nhưng muốn có một triều đình vững mạnh phải kết hợp được thật nhiều nhân tài. Các ngươi tất biết rõ những ai hiện ở trong nước đáng mặt nhân tài. Các ngươi hãy thăm dò, vận động, tiến cử những người có tài có đức ấy đứng ra giúp nước. Nước Chiêm có lập lại được hay không là do chính các ngươi! Ta hứa khi nước Chiêm đã được tái lập quân Đại Việt sẽ rút về nước!
Nghe đến đây quan dân Chiêm đồng loạt reo vui:
-Đội ơn Thánh hoàng! Đội ơn Đại vương! Thánh hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế!
Huệ Vũ nở một nụ cười tươi tắn:
-Đã đồng lòng như vậy, các ngươi phải gắng làm tròn bổn phận của mình! Ta sẽ tiếp tay cho các ngươi!
Lúc bấy giờ có viên tù trưởng tên Hiệu cai quản vùng Nghĩa Sơn nổi tiếng là một tay anh kiệt ít người sánh kịp. Trước đây Hiệu đã cùng con là Thủ (Patalsor) từng làm tướng chỉ huy quân Chiêm đánh nhau với quân Đại Việt nhiều trận. Khi Chế Năng chạy trốn sang Java thì cha con Hiệu dẫn một số thuộc hạ ẩn thân vào chốn rừng núi để mưu đồ việc phục quốc. Nay nghe tin vua Trần cho tái lập nước Chiêm, Thủ bàn với cha:
-Thưa cha, nay có tin Đại Việt cho gây dựng lại nước Chiêm, không biết có đúng không? Nghe nói họ đang kêu gọi nhân tài nước Chiêm ra lập triều đình mới, cha nghĩ mình có nên tham gia không?
Tù trưởng Hiệu nói:
-Tin ấy đã được thông báo nhiều nơi, tức là có thật. Chắc là họ sợ người Trung Hoa đánh vào phía Bắc nên muốn rút quân về giữ nước đấy! Ta đang mưu việc phục quốc nay nhà Trần lại cho phục quốc lẽ nào ta không tham gia? Tuy thế, phải đề phòng cạm bẫy! Cha bây giờ cũng già rồi, có chết cũng không tiếc. Riêng con là một nhân tài đất nước đang cần, nếu bị gài bẫy thì uổng lắm! Chi bằng con cứ tiếp tục công việc đã dự tính, để một mình cha thử ra yết kiến Huệ Vũ vương xem sao! Nếu Huệ Vũ vương đặt cạm bẫy thì cũng chỉ hại được một mình cha. Còn nếu Huệ Vũ vương thật tình có thiện chí cho gây dựng lại nước Chiêm, cha sẽ gọi con ra cũng không muộn!
Thế rồi tù trưởng Hiệu về Đồ Bàn xin yết kiến Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Huệ Vũ vốn đã nghe tiếng tù trưởng Hiệu, nay thấy ông ta xin yết kiến thì mừng lắm. Vương ân cần hỏi han Hiệu về tình hình nước Chiêm, về cách cai trị dân. Tù trưởng Hiệu thấy thái độ mềm mỏng nhiệt thành của Huệ Vũ cũng trả lời rất thành thật. Huệ Vũ có vẻ hài lòng lắm. Sau một hồi nói chuyện, Huệ Vũ kết luận:
-Ông quả là bậc nhân tài. Thay mặt đấng thiên tử, ta quyết định chọn ông làm chúa nước Chiêm Thành kể từ hôm nay. Ta hi vọng ông sẽ đem hết tài năng để phụng sự đất nước ông. Ta tin tưởng ông sẽ làm mọi cách để hàn gắn tình hữu nghị giữa hai nước Việt Chiêm và dân hai nước sẽ sống yên ổn bên nhau mãi mãi. Ông thấy thế nào?
-Đa tạ Đại vương đã tin yêu kẻ hèn này mà phó thác việc lớn. Tuy thế, kẻ hèn này chỉ có thể làm bề tôi mà không dám nhận ngôi vị chúa tể nước Chiêm Thành!
Huệ Vũ ngạc nhiên hỏi:
-Ông chớ khiêm nhường! Ta đã tiếp xúc với nhiều nhân vật có tiếng của nước Chiêm nhưng chẳng ai có kiến thức bao quát như ông cả. Chẳng lẽ ông còn nghi ngại điều gì?
-Bẩm, tôi không nghi ngại gì nhưng dân Chiêm Thành sẽ không chịu để tôi làm chúa đâu!
-Tại sao vậy? Ta cho ông cầm quyền sinh sát trong tay sao lại sợ điều đó?
-Bẩm, Đại vương chưa rõ tập quán của dân Chiêm. Dân Chiêm tuy trông yếu hèn vậy nhưng tập quán và niềm tin của họ khó lay chuyển lắm. Xưa nay họ vẫn chỉ ủng hộ những người có gốc gác liên hệ đến hai bộ tộc Cau* và bộ tộc Dừa* – tức là dòng dõi quí tộc – lên làm chúa. Người Chiêm tin hai bộ tộc ấy do nữ thần Bà Mẹ Đất Nước (Pô Inư Nưgar) trao nhiệm vụ cai trị quốc dân. Tôi cũng dân Chiêm nhưng bất quá là một tù trưởng nhỏ, một tướng lãnh, thuộc giai cấp thấp mới vươn lên, dẫu làm chúa được cũng chỉ bị coi là tiếm vị, không sớm thì muộn cũng sẽ bị dân lật đổ.
-À, hóa ra là vậy! Nhưng ông đừng lo! Sau lưng ông còn có Đại Việt mà! Chẳng lẽ dân Chiêm dám coi thường Đại Việt? Ông cứ giúp ta đi!
Tù trưởng Hiệu có vẻ suy nghĩ một hồi rồi thưa:
-Bẩm Đại vương, là kẻ bại trận đã được Đại vương tha chết lại còn giao phó trọng trách làm chúa Chiêm Thành, lẽ ra tôi phải gắng sức để báo đáp ơn sâu! Ngặt nỗi, nay tôi đã hơn năm mươi, sức mòn trí nhụt khó gánh vác nổi trọng trách ấy. Tôi hiện có đứa con tên là Thủ đang độ trai tráng, cũng có chút hiểu biết về việc trị dân. Nếu Đại vương không chê, xin cho nó gánh vác việc đó thay tôi, tôi sẽ đứng sau lưng giúp đỡ nó, dám mong Đại vương chuẩn thuận cho!
Huệ Vũ ngạc nhiên hỏi:
-Ông còn có đứa con giỏi như vậy sao nãy giờ ông chẳng nhắc tới? Thủ so với ông thế nào?
-Thưa, theo tôi nghĩ, Thủ hơn tôi mười phần!
-Vậy bây giờ Thủ đang ở đâu? Ông gọi ra gặp ta gấp để ta xem thế nào!
-Thưa, xin Đại vương thư thả cho. Vì Thủ hiện đang ở chốn rừng sâu.
-Thì ra ông vẫn còn nghi ngờ thiện chí của ta?
-Xin Đại vương thông cảm. Binh pháp có nói “binh là trá”, thú thật tôi cũng phải đề phòng, nếu phải chết cũng chỉ chết một mình tôi. Nay thấy Đại vương quả thật lòng muốn cho dựng lại nước Chiêm, tôi sẽ gọi Thủ về ra mắt Đại vương!
Quốc Chẩn cười mà khen:
-Cha con ông quả thật giỏi lắm! Ta đã chọn đúng người rồi!
Không lâu sau đó, tù trưởng Hiệu dẫn Thủ vào yết kiến Huệ Vũ vương. Sau khi phỏng vấn Thủ một hồi, Huệ Vũ càng tỏ vẻ vui mừng:
-Cha con ông đã chịu nhập cuộc thì thật đáng mừng cho cả hai nước! Ta sẽ phong Thủ làm chúa nước Chiêm.
Cha con tù trưởng Hiệu liền quì xuống bái tạ Huệ Vũ.
Hôm sau Huệ Vũ cho tổ chức lễ tấn phong Thủ làm Hiệu Thánh Á vương. Thủ lấy hiệu là Chế A Nan và tôn phong thân phụ ông làm Thái thượng vương. Thế là Chế A Nan trở thành vị vua đầu tiên của vương triều thứ 12 nước Chiêm Thành.
Tổ chức triều đình nước Chiêm xong, Huệ Vũ vương Quốc Chẩn giữ đúng lời hứa, cho rút quân về Đại Việt. Nước Chiêm Thành cứ theo lệ mỗi năm lại cử sứ giả sang triều cống Đại Việt một lần.
Từ khi Chế A Nan lên cầm quyền nước Chiêm, nhờ sự cố vấn, trợ lực tận tình của Thái thượng vương Hiệu và hai người bạn chí thiết là Du Đà và Bố Tân, ông đã mở đầu một triều đại khá hùng mạnh. Bên trong, ông đã xây dựng lại quân đội, bên ngoài, ông đã khéo léo ngoại giao không làm mất lòng các nước láng giềng. Từ biên giới Đại Việt ở phía Bắc đến biên giới các nước Lào, Chân Lạp phía Tây, phía Nam, đến cả mặt giáp biển phía Đông đều trở nên yên ổn. Dân Chiêm Thành đã được sống trong cảnh ấm no, thanh bình một thời gian.
Trong khi Chiêm Thành đang dần hồi sức thì ở Đại Việt, Thượng hoàng Anh Tôn rồi Điện súy Phạm Ngũ Lão lần lượt qua đời. Sự tranh chấp quyền hành, địa vị giữa các đại thần trụ cột của triều đình Đại Việt cũng bắt đầu chớm dậy.
Nhắm vào hiện tượng đó, các vương tử vương tôn của hai bộ tộc Cau và Dừa đua nhau thúc đẩy vua Chế A Nan dấy quân đánh Đại Việt để thu hồi phần lãnh thổ đã mất. Nhưng Chế A Nan không chịu nghe họ. Những người này bực mình liền sách động dân chúng công kích vào nhược điểm Chế A Nan không thuộc dòng vua chính thống và cho ông chỉ là tên tay sai của Đại Việt. Trong triều lẫn ngoài dân chúng có nhiều người nghe theo, gây thành một phong trào chống đối Chế A Nan. Chế A Nan lo sợ phải sai sứ sang Trung Hoa cầu phong với nhà  Nguyên(Quí Hợi). Vua Nguyên bèn cử sứ sang phong tước vương cho nhà vua. Nhờ vụ phong tước này mà phong trào chống đối vua Chế A Nan bị khựng lại.
Nhà Trần biết được việc Chiêm Thành giao thiệp với nhà Nguyên thì nổi giận. Vua Minh Tôn bèn sai Huệ Túc vương đem quân phạt Chiêm. Nhưng Huệ Túc vương đánh không thắng được, phải rút quân về (Bính Dần).
Cuộc chiến thắng quân Đại Việt của vua Chế A Nan đã làm dân Chiêm mát mặt. Uy tín nhà vua tự nhiên vọt tăng cao. Phong trào chống đối vua Chế A Nan bị xẹp hẳn. Quân đội Chiêm Thành càng ngày càng hùng mạnh thêm.
Ở Đại Việt, cuộc tranh giành quyền lực giữa các trọng thần trong triều càng ngày càng trở nên trầm trọng. Kết quả tệ hại nhất là Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn, một vị hoàng thân và cũng là một võ tướng có nhiều chiến công hiển hách đã bị gièm pha rồi bị giết vào năm Mậu Thìn. Quân đội Đại Việt càng ngày càng suy yếu.
Vua Chế A Nan chỉ có hai người con: công chúa Đa Lợi và hoàng tử Chế Mỗ. Khi công chúa Đa Lợi đến tuổi trưởng thành, vua Chế A Nan cho kết hôn với một viên quan trẻ trong triều là Trà Hòa Bố Để. Cha của Bố Để vốn là một cận vệ của vua Chế Năng. Khi quân Đại Việt tiến vào Đồ Bàn đánh đuổi Chế Năng, cả gia đình Bố Để đều chết thảm giữa đám loạn quân, chỉ một mình Bố Để may mắn thoát được. Vì thế, Bố Để rất căm hận người Việt. Ý chí phục thù Đại Việt đã thúc đẩy Bố Để khổ công chăm lo tập luyện, học hỏi để trở thành một nhân tài. Vua Chế A Nan thấy Bố Để có nhiều tài lạ nên thương yêu, tin cậy lắm.
Khác hẳn với Trà Hòa Bồ Để, hoàng tử Chế Mỗ không được thông minh, lại lười biếng học hành, ưa chơi bời lêu lổng. Có khi Chế Mỗ còn giao du với cả những kẻ không ra gì. Vua Chế A Nan rất lo buồn về sự hư hỏng của hoàng tử. Vua đã tìm những thầy giỏi để lo việc giáo huấn cho Chế Mỗ nhưng vẫn không thấy kết quả gì. Chính Thái thượng vương Hiệu cũng tham gia trong việc uốn nắn đứa cháu khó dạy này nhưng rồi ông cũng chán nản lắc đầu. Thế rồi vua phải giao phó việc giáo dục hoàng tử cho người bạn tin cậy là Du Đà. Vua nghĩ Du Đà là người thân thiết, chắc chắn ông ta sẽ gắng dạy dỗ hoàng tử và hoàng tử cũng sẽ nể nang ông ta mà chịu vâng lời hơn.
Dù tánh khí hoàng tử có vẻ bất thường nhưng đã vào tuổi trưởng thành nên được vua cha cấp cho một ngôi biệt điện rộng rãi để tập sự cuộc sống tự lập. Trong biệt điện có cả một số tôi tớ lo việc hầu hạ phục dịch. Lại có cả một đội lính đóng gần điện lo việc bảo vệ cho hoàng tử. Ông đã dành riêng một phòng trong điện để làm nơi đọc sách và học hành. Giảng quan Du Đà cũng được dành riêng một phòng làm nơi ăn ở.
Từ khi nhận nhiệm vụ, Giảng quan Du Đà đã hết lòng chăm lo công việc được giao phó. Một mặt ông tận tình dạy dỗ Chế Mỗ, bắt Chế Mỗ giới hạn các vụ rượu chè hát xướng, một mặt ông dặn đội bảo vệ an ninh tìm cách ngăn chận bớt những vụ giao du của Chế Mỗ với bên ngoài. Sự kiểm soát ráo riết này đã làm Chế Mỗ dần sinh ra bất mãn. Một lần không kiềm chế nổi cơn tức giận, hoàng tử đã hung hăng mắng nhiếc Du Đà. Thấy Du Đà nhẫn nhịn, Chế Mỗ được thế càng coi thường ông hơn. Vua Chế A Nan hay được việc đó chỉ biết lắc đầu đau khổ. Ông cố răn đe Chế Mỗ mãi nhưng vẫn không kết quả. Cuối cùng Du Đà phải xin từ chức.
Thái thượng vương Hiệu cũng lo rầu khôn xiết. Ông than thở với vua A Nan:
-Nhà ta vốn chẳng thuộc giai cấp cao sang, mấy đời hao tổn biết bao nhiêu tâm lực mới vươn lên được địa vị hôm nay. Con cháu đã mọn mảy lại sinh phải thằng Chế Mỗ ngu đần ngỗ nghịch này ta e rồi con cháu ta thứ dân lại hoàn thứ dân thôi!
Vua Chế A Nan an ủi:
-Xin cha bớt ưu phiền. Con sẽ nhờ Bố Tân thay Du Đà dạy dỗ nó một thời gian xem sao!
Khi vua Chế A Nan ngỏ ý nhờ Bố Tân dạy dỗ Chế Mỗ, Bố Tân đáp:
-Tánh khí hoàng tử thất thường như vậy kiềm hãm cho được không dễ! Tuy thế, tôi cũng xin thử sức sáu tháng xem sao! Thành công được thì tốt, nếu thất bại, xin bệ hạ thông cảm tìm người khác thay thế cho!
Vua Chế A Nan nói:
-Mong ông vì gia đình ta mà gắng sức! Ta sẽ không quên ơn ông!
-Tâu vâng! Tôi sẽ làm hết sức mình!
Hằng ngày Thái thượng vương Hiệu vẫn theo dõi việc học hành của Chế Mỗ. Ông đã tìm mọi cách để hỗ trợ, an ủi, khuyến khích Bố Tân kiên nhẫn làm nhiệm vụ. Ông sợ nếu Bố Tân cũng nản lòng thì thật khó tìm ai thay thế. Nhưng nhận nhiệm vụ chưa được bao lâu Bố Tân đã bắt đầu lộ vẻ chán nản. Thấy tình trạng như vậy, phò mã Bố Để tâu với vua A Nan:
-Hay bệ hạ thử cho hoàng tử theo hạ thần tập làm quen với công việc một thời gian xem sao? Hạ thần có thể dẫn dụ làm cho hoàng tử vui mà quên bớt thói ăn chơi lêu lổng!
Vua A Nan nghe lời Bố Để vui mừng nói:
-Ý kiến của con hay đấy. Nếu con làm được việc đó ta sẽ trọng thưởng!
Thế rồi vua vẫn để Bố Tân tiếp tục dạy dỗ Chế Mỗ, nhưng mặt khác, vua buộc hoàng tử phải bỏ một số thì giờ nhất định, hằng ngày phải theo chân Trà Hòa Bố Để để học việc. Ban đầu Chế Mỗ vùng vằng không muốn vâng lệnh. Vua Chế A Nan dọa:
-Ngươi muốn sau này lên làm vua thì cũng phải biết sơ qua về công việc triều đình ra sao để điều khiển các quan chứ! Ngươi không biết gì hết thì ai phục tùng ngươi? Người ta làm sai hay đúng ngươi làm sao phân biệt được để thưởng phạt? Nếu ngươi không chịu học việc ta sẽ truyền ngôi cho người khác!
Chế Mỗ bất đắc dĩ phải nghe theo. Từ đó hàng ngày ông phải bỏ một ít thời gian để học việc. Không ngờ chẳng bao lâu sau Chế Mỗ lại trở nên thích thú với sự học việc này. Từ đó Chế Mỗ với Bố Để gần gũi nhau như hình với bóng. Gánh nặng của Bố Tân cũng tự nhiên được trút bỏ. Ông không còn kêu ca gì với vua Chế A Nan nữa.
Mỗi khi Thái thượng vương Hiệu hoặc vua A Nan hỏi đến, bao giờ Bố Để cũng có những lời tốt lành để nói về hoàng tử. Sự thay đổi của Chế Mỗ đã làm Thái thượng vương Hiệu và vua A Nan giảm bớt phần nào nỗi ưu phiền.
Thấy Thái thượng vương Hiệu đã già yếu, vua Chế A Nan cho dựng một biệt thự ở một nơi yên tĩnh ngoài hoàng thành để ông an dưỡng. Biệt thự được xây bên sườn một đồi thông mát mẻ, dưới chân đồi có một dòng suối nước chảy quanh năm. Đó là một khu vực cảnh trí thật tuyệt vời do chính Thái thượng vương Hiệu chọn. Nhưng ông chưa kịp dời đến ở thì Chế Mỗ, trong một lần theo Bố Để học việc, đã dẫn một thiếu nữ vào biệt thự để làm chuyện dâm ô. Một người lính gác biệt thự phát giác được, liền trình với Bố Để. Nào ngờ Bố Để sợ việc tiết lộ ra ngoài bèn đem người lính ấy kết tội phạm kỷ luật mà giết mất! Nhưng chuyện ấy cũng không giấu được thiên hạ. Vua A Nan tức giận đòi Chế Mỗ đến hỏi tội, Chế Mỗ sợ nên chối phăng. Vua lại hỏi Bố Để nhưng Bố Để cũng chối. Vua A Nan tuy bực mình nhưng thấy chàng rể luôn che chở con mình cũng tạm yên tâm. Ông chỉ quở trách Chế Mỗ sơ sài chiếu lệ. Từ đó Chế Mỗ càng thêm tin cậy, càng ỷ lại vào Bố Để.
Thái thượng vương Hiệu biết được việc Bố Để cố tình bao che Chế Mỗ ông càng bực bội thêm. Ông càng thất vọng về đứa cháu duy nhất của mình. Một người tư cách như thế làm sao cai trị muôn dân? Làm sao có thể giữ gìn cơ nghiệp do cha ông gây dựng? Ông than trách số phận của mình. Cha con ông mọn mảy quá, không có thêm được một mống con cháu khá hơn Chế Mỗ để yên lòng phó thác việc mai sau! Ông thường nói với vua A Nan:
-Cha không tin Chế Mỗ có thể giữ được cơ đồ nhà ta! Ước sao ơn trên cho con sinh thêm được một hoàng tử nữa! Khi đó dẫu nhắm mắt cha cũng yên lòng!
Chính câu nói này đã ám ảnh vua A Nan một thời gian khá dài.
Không biết có phải do lòng khấn nguyện của Thái thượng vương Hiệu đã được đấng thiêng liêng nào cảm ứng không mà khi ông đã vào tuổi 65, bỗng nhiên người thiếp* của ông là A Lý báo cho ông biết bà đã có thai. Ông vui mừng hết sức. Hằng ngày ông chỉ còn biết lo việc đốc thúc chăm sóc sức khỏe cho A Lý và nôn nóng mong đợi ngày bà khai hoa nở nhụy.
Nhưng Thái thượng vương Hiệu đã không được may mắn thấy mặt đứa bé ra đời. Ông đã đột ngột lâm bệnh nặng đúng vào thời điểm người thiếp chuyển bụng lâm sàng. Khi ông tắt thở cũng chính là lúc đứa bé cất tiếng khóc chào đời. Sự trùng hợp lạ lùng đó đã khiến nhiều người lấy làm kinh dị, phỏng đoán lung tung.
Hài nhi là một đứa bé trai trông khôi ngô sáng sủa lắm. Vua Chế A Nan đặt tên cho cậu là Bà Bỉ Na Tác Nhĩ (Po Binasor). Vị hoàng tử này xếp theo hệ thống gia đình là vai chú của hoàng tử Chế Mỗ. Hoàng tử Na Tác Nhĩ càng lớn càng thông minh, tướng mạo lại khôi ngô chững chạc lạ thường nên vua Chế A Nan thương quí lắm. Na Tác Nhĩ mới lên ba vua Chế A Nan đã cho tìm thầy để dạy cậu học hành. Các thầy học đều phải khen cậu là một bậc thần đồng.
Khi so sánh cậu em trai Na Tác Nhĩ với đứa con ruột Chế Mỗ, vua A Nan cảm thấy rõ sự cách biệt nhau một trời một vực. Đã bao lần ông phân vân nghĩ đến việc mai sau. Về căn bản thì Chế Mỗ không thể nào trở thành một ông vua trị nước giỏi được! Nhưng truyền ngôi cho Chế Mỗ hợp lý hơn, sẽ không mấy ai có lý do để chống đối. Chế Mỗ ngang bướng kém cỏi nhưng đã trưởng thành, lại đang được phò mã Trà Hòa Bố Để là một trọng thần có tài ủng hộ. Còn Na Tác Nhĩ tuy thông minh, nổi tiếng thần đồng, nhưng còn nhỏ quá. Cậu ta có thể trở thành một vị minh quân, nhưng truyền ngôi cho Na Tác Nhĩ chắc chắn sẽ gặp sự chống đối, ít nhất là sự chống đối từ Chế Mỗ và những người bảo thủ trong triều.
Sở dĩ vua Chế A Nan phải phân vân về chuyện đó vì ông luôn bị ám ảnh bởi lời nhận xét của thân phụ ông “Cha không tin Chế Mỗ có thể giữ được cơ đồ nhà ta!”. Hơn nữa, lúc bấy giờ ông cũng đã lớn tuổi, sức khỏe ông đã xuống dốc. Nhiều triệu chứng bệnh hoạn trong ông dần nẩy sinh. Cứ suy nghĩ về vấn đề này ông lại thấy đầu óc rối tung lên. Nếu không truyền ngôi cho Chế Mỗ thì chuyện nồi da xáo thịt có thể xảy ra. Nhưng nếu truyền ngôi cho Chế Mỗ thì cơ đồ do cha con ông gây dựng có thể tan tành! Ông rất chán nản khi nghĩ tới thực tế: Chế Mỗ chưa bao giờ hé lộ được chút dấu hiệu tài năng nào cả! Một hôm vua Chế A Nan thăm dò Bố Để:
-Ta thấy hoàng tử Chế Mỗ tài năng kém cỏi lại ham chơi quá, không biết sau này có gánh vác nổi việc nước không? Em ta là Na Tác Nhĩ thông minh lanh lợi hơn nhiều nhưng còn quá nhỏ, ngươi nghĩ ta nên làm thế nào?
Trà Hòa Bố Để ngẫm nghĩ một lát rồi thưa:

-Bẩm Phụ vương, con nghĩ hoàng tử Chế Mỗ không phải tầm thường đâu! Chỉ vì Phụ vương còn tại vị nên hoàng tử chưa phát lộ tài năng đấy thôi.
Vua A Nan lộ vẻ ngạc nhiên hỏi:
-Làm sao ngươi biết được điều đó?
Trà Hòa Bố Để thưa:
-Bẩm Phụ vương, một lần hoàng tử rủ con đi săn trong rừng, buổi trưa gặp một giòng suối mát nên chúng con cùng xuống tắm. Tắm xong con lên trước, hoàng tử vẫn còn mê mải ngâm mình dưới nước. Khi đang mặc y phục lại, con ngạc nhiên thấy một ông già tiên phong đạo cốt xuất hiện. Ông chăm chú nhìn xuống suối mà lẩm bẩm: “Quí quá, quí quá, đất nước này từ nay sẽ hưng thịnh mãi!”. Con nghe mà không hiểu gì cả nên hỏi ông lão: “Cụ khen cái gì vậy?”. Ông lão nói: “Tôi nói chàng thanh niên đang tắm kia! Gần vú trái của chàng có cái bớt đỏ chính là dấu hiệu đại quí đấy. Sau này chàng sẽ trở thành một vị vua hiển hách!”. Con lại hỏi: “Cụ ở đâu đến và nhờ đâu mà đoán được vận mạng con người như thế?”. Ông lão nói: “Ta là đệ tử chân truyền của Quỉ Cốc Tử từ Trung Hoa vân du sang đây. Ta rất mừng biết được nước Chiêm từ nay sẽ hưng vượng trở lại!”. Nói xong, ông lão cười ha hả rồi đi vùn vụt như bay, trong giây lát đã mất dạng. Việc xảy ra khác thường quá, con nghĩ dẫu có nói ra cũng chẳng ai tin. Vả lại, nói ra có thể làm cho hoàng tử sinh lòng kiêu hãnh sợ tổn đức đi nên con cũng im luôn! Nhưng từ đó con hết lòng nể phục và luôn lo giúp đỡ, bảo vệ hoàng tử. Con tin tưởng thế nào cũng có ngày hoàng tử phát lộ tài ba một cách phi thường!
Vua Chế A Nan kinh ngạc suy nghĩ một hồi rồi nói:
-Hèn gì! Hoàng tử quả có cái bớt đỏ lớn ở gần vú trái, không ngờ đó là cái tướng đại quí! Phải rồi, chính năm hoàng tử ra đời ta được Huệ Vũ vương phong làm Hiệu Thánh Á vương! Đã vậy ta còn lo lắng gì nữa? Nếu ta có mệnh hệ nào, ngươi gắng phò tá hoàng tử để giữ nước nhé!
-Phụ vương cứ yên chí. Lẽ nào con lại dám quên ơn tri ngộ của Phụ vương và hoàng tử. Việc giúp hoàng tử gây dựng lại một nước Chiêm hưng thịnh cũng là ước nguyện của con. Con sẽ hết lòng làm tròn chức phận của mình!
Từ đó vua Chế A Nan chuyển giao dần các công việc trong triều cho hoàng tử Chế Mỗ lo. Tất nhiên đầu óc mẫn tiệp và bàn tay khéo léo của Trà Hòa Bố Để đã tỏ ra rất đắc lực trong vai trò phụ tá hoàng tử. Công viêc nào cũng được giải quyết suôn sẻ, tốt đẹp khiến vua Chế A Nan rất hài lòng. Khi việc thành, dù lớn hay nhỏ, bao giờ Bố Để cũng nhường công đầu cho hoàng tử. Điều đó làm vua Chế A Nan càng mừng, càng tin yêu lòng trung hậu của Bố Để. Chế Mỗ cũng càng ỷ lại vào Bố Để thêm. Mọi việc vua cha giao phó Chế Mỗ đều để mặc Bố Để tùy tiện giải quyết, miễn sao công việc chạy là được.
Một thời gian sau vua Chế A Nan phong Bố Để làm Tể tướng. Với cương vị này Bố Để đã lần lượt thay thế những người thân tín của mình vào các chức vụ quan trọng trong triều. Một số quan lại để ý thấy tình trạng đó đâm ra lo ngại. Có người đã kín đáo báo cho Chế Mỗ biết để đề phòng nhưng Chế Mỗ nói:
-Những việc đó đều do ý ta cả. Từ nay Tể tướng ra lệnh gì các ngươi phải coi đó như là lệnh của ta và phải triệt để thi hành. Nếu không nghe lời, ta sẽ thẳng tay trừng trị chớ có trách.
Thấy không trông cậy gì ở Chế Mỗ được, các quan chán nản dần xa rời ông ta.
Vua Chế A Nan thì bệnh hoạn ngày càng tăng, đầu óc ông cũng dần kém minh mẫn. Một hôm Du Đà đem việc các quan xầm xì về thái độ có vẻ chuyên quyền của Bố Để tâu với ông, ông gạt đi:
-Bố Để là hạng người trung hậu, không nên nghi ngờ.
Thấy vua A Nan quá tin tưởng Bố Để, sợ nói nhiều sẽ rước vạ vào thân, mọi người cũng lơ dần. Chẳng bao lâu sau, Chế A Nan giao hết quyền hành cho Chế Mỗ để nghỉ ngơi an dưỡng. Đương nhiên Trà Hòa Bố Để trở thành người trực tiếp điều hành guồng máy triều đình bên cạnh vị hoàng tử bù nhìn. Mọi việc trong triều vẫn tiếp tục được giải quyết êm xuôi. Dần dần, các quan và ngay cả Du Đà đều cảm thấy phục tài Bố Để và tin tưởng Bố Để sẽ làm cho nước Chiêm trở nên hùng mạnh!
Giữa năm Nhâm Ngọ thì vua Chế A Nan qua đời.

 

Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 2

th (11)