Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 6

th (37)

Từ khi vua Chế Bồng Nga lên ngôi, một mặt ông lo cải tổ việc nội trị, mặt khác, ông ráo riết tăng cường huấn luyện quân đội thật tinh nhuệ để chờ dịp thuận lợi sẽ mở cuộc Bắc chinh.
Để thăm dò sự phòng vệ và tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt, ông sai một đội quân nhỏ giả làm cướp biển, thình lình đổ bộ lên cửa Dĩ Lý, phủ Lâm Bình đánh cướp. Nhưng quân phòng vệ địa phương đã chống trả dữ dội buộc đội quân giả cướp biển kia phải rút chạy.
Năm sau quân Chiêm Thành lại xâm phạm Hóa Châu nhưng thấy quân Đại Việt phòng bị quá kỹ, lại phải rút lui.
Sau những vụ thăm dò trên, trong một phiên chầu, Chế Bồng Nga nói với quần thần:
-Hiện nay Đại Việt do Trần Hạo cầm quyền, mà Hạo là một kẻ ăn chơi hoang dâm vô độ, không biết lo đến việc nước, lẽ ra đây là cơ hội tốt nhất để ta ra quân. Thế nhưng sau khi mở những cuộc thăm dò, ta biết được quân Đại Việt khắp nơi vẫn phòng thủ kỹ lắm. Muốn thắng họ, ta phải có một lực lượng mạnh gấp bội! Tạm thời ta hãy tiếp tục tuyển mộ thêm quân, rèn luyện cho tinh nhuệ thêm, đồng thời phải nghĩ ra một mưu kế nào thật hay mới xong!
Tướng La Ngai nói:
-Thần sợ cơ hội này ta không ra quân, nếu lỡ Đại Việt thay đổi chủ, có minh quân lên cầm quyền rồi thì ý chí nuôi dưỡng lâu nay của mình cũng thành công uổng!
Chế Bồng Nga cười:
-Ta chẳng quên điều đó đâu! Nhưng Đại Việt muốn có minh quân cũng phải đợi hàng chục năm nữa! Hiện giờ ở Trần triều có gương mặt nào đáng giá đâu mà ngại? Chắc khanh cũng rõ, trong phép đánh trận, muốn chắc ăn, ít nhất lực lượng tấn công cũng phải mạnh gấp năm gấp bảy lực lượng phòng thủ! Chứ không, dù thắng được họ, ta cũng phải chịu tổn thất không ít. Phải gắng tìm kỳ mưu, ít nhất là làm sao dụ chúng ra ngoài cõi mới hòng thắng được!
La Ngai lại nói:
-Quân Đại Việt lúc này không dám ra khỏi cõi đâu! Ta đã mấy lần khiêu khích mà chúng cũng chỉ thủ chứ không chịu truy kích, biết làm sao đây?
Bỗng tướng Mục Bà Ma lên tiếng:
-Tâu bệ hạ, thần có một mưu này có thể dụ quân Đại Việt ra khỏi cõi được!
Chế Bồng Nga tươi nét mặt nói:
-Khanh hãy nói ta nghe thử!
Mục Bà Ma nói:
-Thần biết, theo tục Hóa Châu trước đây, tháng giêng hàng năm, trai gái Đại Việt vẫn họp nhau ở đất Bà Dương để chơi trò đánh đu. Chúng ta nên cho người núp sẵn đầu nguồn, đợi họ bắt đầu cuộc chơi thì ập đến bắt hết đem về bắt làm nô lệ, tì thiếp chơi. Như vậy vua quan Đại Việt sẽ tức lộn ruột lên, chắc chắn họ phải xuất quân ra khỏi cõi để trả đũa! Bên ta đã chuẩn bị sẵn, họ làm sao khỏi lọt vào tròng của ta?
Chế Bồng Nga khen:
-Kế ấy hay lắm! Hãy cho thực hiện đi!
Thế là từ tháng 12 Giáp Thìn, một toán quân Chiêm đã đến đầu nguồn Bà Dương phục sẵn. Đầu xuân năm Ất Tỵ* hàng trăm con trai con gái Đại Việt mới lớn kéo nhau ra Bà Dương chơi trò đánh đu như các năm trước. Trong khi cuộc vui đang tiến hành thì quân Chiêm Thành đột ngột xuất hiện. Đám trẻ hoảng hốt chạy tán loạn. Nhưng quân Chiêm đã núp sẵn nhiều nơi nên đã bắt được gần hết. Chỉ có một số nhỏ chạy thoát được!
Hành động gây hấn này đã làm cả triều đình Đại Việt nổi giận. Vua Dụ Tôn muốn cử binh đi đánh trả đũa ngay. Ngài kêu gọi các tướng tình nguyện cầm quân chinh phạt nhưng ai cũng tìm cách thoái thác. Cuối cùng, mọi người đều đề cử Đồng tri môn hạ Đỗ Tử Bình lúc ấy đang đóng quân yểm trợ việc xây thành Hóa Châu làm tướng kéo quân đánh Chiêm Thành. Đỗ Tử Bình nhận được lệnh sợ quá bèn nại cớ lương thực chưa đủ, binh sĩ mệt mỏi vì suốt thời gian qua đã phục dịch trong việc xây đắp thành Hóa Châu mà xin tạm hoãn.
Thấy khiêu khích đến thế mà quân Việt vẫn chưa chịu ra khỏi cõi đánh trả thù, Chế Bồng Nga lại cho một đội quân đi đường biển thình lình đổ bộ tấn công phủ Lâm Bình. Không may quân Chiêm lại gặp phải quan phủ Lâm Bình là Phạm A Song phòng bị quá kỹ nên cũng không làm gì được, phải rút lui. Tuy vậy, quân Việt cũng chẳng thèm truy kích.
Cái tin ấy báo về triều đình Chiêm, Chế Bồng Nga lộ vẻ bực mình nói:
-Người Đại Việt lúc này nhát như con thỏ, cứ ẩn trong hang làm ta khó xử quá.
La Ngai nói:
-Đại Việt suy yếu quá rồi nên chỉ biết lo thế thủ. Quân ta lúc này tinh nhuệ lắm, sao bệ hạ không thử xua thẳng vào Thăng Long một phen, lẽ nào không thắng?
Chế Bồng Nga lắc đầu:
-Tướng giỏi cầm quân phải biết làm sao đánh thắng được giặc mà mình thiệt hại rất ít. Nay quân giặc tuy yếu thật nhưng chúng thủ kỹ như vậy, mình đánh bừa vào, dẫu thắng, giặc chết mười mình cũng chết tám, phỏng được lợi ích gì? Lỡ Chân Lạp hay Xiêm lại thừa cơ hội này đánh sau lưng ta trở tay sao kịp? Nhất định phải dùng kế “điệu hổ ly sơn”, dụ chúng ra khỏi hang ổ mới đánh chúng được! Nếu chúng đã ra ngoài, ta chỉ cần thắng một trận thật oanh liệt, thật tàn nhẫn là cướp được tinh thần chúng. Chúng đã rúng lòng rồi, ta làm mưa làm gió gì mà chẳng được! Rất tiếc là ta chưa tìm ra mưu kế gì để dụ chúng!
Tướng Mục Bà Ma thưa:
-Lần trước thần đã dâng một kế để dụ giặc nhưng không kết quả. Nay thần muốn dâng một kế khác không biết có thể dùng được không?
-Khanh cứ nói ta nghe thử!
-Thưa, bệ hạ thử cử sứ giả mang thư đến Thăng Long, đòi Trần Hạo trả lại đất Hóa Châu. Viện lẽ đất ấy vốn là của Chiêm quốc mà vua Chiêm đã dùng làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Nhưng công chúa Huyền Trân đã tự ý trở về Đại Việt tại sao Đại Việt vẫn giữ lấy đất ấy? Nay xin trả lại Hóa Châu cho Chiêm Thành mới đúng lẽ! Nếu Trần Hạo sợ thế lực của ta mà trả đất lại thì tốt. Ta cũng sẽ nhân đó trả lại họ những người Đại Việt bị ta bắt vừa qua. Hai bên sẽ định lại ranh giới và chấm dứt chuyện thù hằn! Nếu Trần Hạo không chịu, ta dọa sẽ dùng võ lực để lấy lại! Như vậy Đại Việt còn nhịn sao được? Chắc hẳn họ sẽ xuất quân đánh ta!
Chế Bồng Nga mừng rỡ nhìn Mục Bà Ma nói:
-Hay lắm! Khanh đã nghĩ ra cái kế độc này Đại Việt làm sao nhịn nổi nữa? Khanh có thể đi sứ Đại Việt giúp ta luôn không?
-Bệ hạ đã sai khiến, thần xin tuân mệnh!
Thế là tướng Mục Bà Ma vâng mạng vua Chiêm sang Thăng Long đòi lại đất Hóa Châu.
Từ khi Thượng hoàng Minh Tôn mất, Chiêm Thành bỏ hẳn việc triều cống Đại Việt. Vua Dụ Tôn quá ham chơi, đâu nghĩ gì đến việc đó! Những vị trung thần nhìn xa biết rộng hầu hết đã tìm phương ở ẩn cả. Những kẻ còn ở lại, một số thì nín thở đợi thời, một số mặc cho thời thế xoay chuyển, gắng ôm lấy chút tước lộc tới đâu hay tới đó. Vua Dụ Tôn lại quá tin bọn nịnh thần, ai dám bày tỏ lời ngay nữa? Tháng 6 năm Bính Ngọ*, vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương Mễ Sơ đến khuya mới về. Đêm đó vua uống quá say. Đến sông Chữ Gia, thuyền vua bị một bọn côn đồ chận lại cướp mất cả ấn tín lẫn kiếm báu truyền quốc. Vua lấy làm xấu hổ và tin sự việc này là một điềm chẳng lành. Nghĩ mình không còn sống bao lâu nữa, vua càng lao mình vào những cuộc chơi bời trác táng. Vì vậy, mặc cho Chiêm Thành khiêu khích, vua quan không hẹn nhưng đều đồng lòng làm ngơ, cố nhịn nhục.
Cho tới lúc Chiêm Thành ngạo nghễ cử sứ giả đến tận Thăng Long đòi lại đất cũ họ mới giật mình! Lòng tự ái cả vua lẫn quan đều bị đánh động! Vua Dụ Tôn nổi trận lôi đình, truyền đem Mục Bà Ma giam lại. Hoàng thân Nguyên Trác tâu:
-Chiêm Thành lờn mặt quá rồi! Không thể nhịn được nữa! Bệ hạ phải cử binh chinh phạt cho nó chừa cái thói hung hăng đi!
Vua Dụ Tôn nói:
-Quả thật Chiêm Thành đã coi trời đất không ra gì nữa! Trước đây ta đã cử Đỗ Tử Bình đi chinh phạt nhưng Đỗ Tử Bình xem bộ nhát quá, đã tìm cách thoái thác. Nay ta muốn giao ấn nguyên nhung cho Minh tự Trần Thế Hưng lo việc ấy được không?
Hoàng thân Nguyên Trác nhìn Trần Thế Hưng hỏi lại:
-Hoàng thượng tin tài lược của ông, muốn trao ấn nguyên soái cho ông đi trừng phạt Chiêm Thành, ông bằng lòng chứ?
Trần Thế Hưng tâu:
-Thần xin tuân mệnh!
Vua Dụ Tôn bèn cử Trần Thế Hưng làm thống quân , Đỗ Tử Bình làm phó, tiến binh đánh Chiêm Thành. Trần Thế Hưng chỉ huy đại quân đi trước, Đỗ Tử Bình dẫn hậu quân tiếp ứng. Tháng 4 năm Mậu Thân*, quân Trần kéo đến Chiêm Động. Lúc bấy giờ Chế Bồng Nga đã chuẩn bị trước, chọn địa điểm thuận lợi để phục kích sẵn. Sau đó Chế Bồng Nga cho một đạo quân nhỏ ra nghinh quân Trần. Đánh nhau một hồi quân Chiêm thua chạy. Quân Trần hăng hái đuổi theo, thế là lọt vào giữa ổ phục kích. Quân Chiêm liền đổ ra đánh một trận rất ác liệt khiến quân Trần phải tan rã. Trần Thế Hưng bị bắt sống. Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân thấy thế nguy không dám tiếp cứu, vội vã đem quân trở về. Khi về tới Thăng Long, sợ bị vua bắt tội, Đỗ Tử Bình lập tức cho người nhà đem vàng bạc đút lót hai viên Hành khiển là Tâm Đức Ngưu và Nguyễn Thanh Lương. Nhờ vậy, Đỗ Tử Bình chỉ bị vua khiển trách sơ rồi bỏ qua.
Sau khi thắng trận, Chế Bồng Nga cho người sang Đại Việt đề nghị trao đổi tướng Trần Thế Hưng với sứ giả Mục Bà Ma. Vua Dụ Tôn đành phải chấp thuận.
Chế Bồng Nga rút quân về tới Đồ Bàn thì nhận được tin nhà Minh đã đánh đuổi nhà Nguyên ra khỏi Trung Hoa và đóng đô ở Kim Lăng. Ông lo ngại nói:
-Trung Hoa đã đổi chủ, thế nào nhà Minh cũng thị uy với các nước láng giềng! Nếu ta không khéo léo là sinh kẹt ngay!
Thế rồi ông lập tức sai Hổ Đô Man đem hai con voi, hai con hổ và một số sản vật địa phương sang Kim Lăng triều cống để xưng thần. Việc này đã làm vua Minh hài lòng lắm. Vua Minh sai Ngô Dụng sang Chiêm đáp lễ ban cho Chiêm vương một bức thư có đóng dấu ngọc tỉ như sau:
“Ngày mồng 4 tháng 2 năm nay, Hổ Đô Man đến dâng cọp, voi; lòng thành của Vương trẫm đã hiểu rõ. Tuy nhiên khi Hổ Đô Man chưa tới, sứ giả của trẫm cũng đã sẵn sàng đi đến nước Quốc vương. Sứ giả của trẫm đến báo cho Quốc vương biết rằng trước đây nước Trung Hoa bị rợ Hồ (Mông Cổ) trộm chiếm hàng trăm năm, khiến tập tục man di đầy rẫy, phế bỏ phong hóa Trung Hoa. Trẫm khởi binh trong vòng 20 năm, dẹp sạch bọn chúng, làm chủ Trung Hoa, thiên hạ bình an. Sợ các Di trong bốn phương chưa biết nên sai sứ giả báo tin cho các nước. Không ngờ sứ giả của vương tới trước, lòng thành thể hiện vững vàng, khiến trẫm rất vui. Nay ban một bản lịch Đại Thống, 40 bộ y phục lụa là, lụa ỷ dệt kim tuyến, sai người đưa sứ giả về nước. Lại dụ Vương về đạo thờ nước lớn, Vương nên phụng thừa coi như đạo trời, khiến dân Chiêm Thành yên với nghề nghiệp, Vương giữ được lộc vị truyền đến con cháu, trời đất soi xét sự cố gắng, Vương chớ xem thường”.
Được thiên triều ân cần phủ dụ, Chế Bồng Nga rất mừng. Thế là ông vững tâm theo đuổi ý định chinh phạt Đại Việt. Để giành lấy lẽ phải về mình, Chế Bồng Nga đã sai Bình chương Bồ Đán Ma Đô sang Kim Lăng tạ ơn đồng thời tố cáo vụ Đại Việt đã đem quân đánh Chiêm Thành năm trước trong đó có đoạn như sau: “… Vua An Nam đã sai Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình đem đại quân xâm lấn nước thần. Nhưng nhờ hồng phúc của bệ hạ, nước thần đã đánh tan quân xâm lược, bắt sống được thống quân của giặc là Trần Thế Hưng. Tuy vậy, thần vẫn sợ An Nam sẽ tìm cách trả thù. Vì vậy, cúi xin bệ hạ thể hiện đức hiếu sinh, trừng phạt nặng nước An Nam để răn đe những kẻ vô đạo hiếu chiến tàn hại dân lành…”.
Cử sứ giả đi xong, Chế Bồng Nga tiếp tục chuẩn bị việc Bắc chinh. Lúc bấy giờ Đại Việt cũng đã cử sứ giả sang cống Minh triều nên vua Minh cố làm ra vẻ công bằng, cho Hàn lâm viện biên tu La Phục Nhân, Chủ sự bộ binh Trương Phúc mang thư đến cả hai nước Đại Việt lẫn Chiêm Thành để dàn hòa như sau:
“Trẫm vốn xuất thân từ giới bình dân, nhân thiên hạ loạn bèn khởi binh để bảo vệ làng xóm, không ngờ hào kiệt theo rất đông. Trẫm cầm binh vài năm, đất đai mở rộng, quân lính cường thịnh, được toàn dân tôn lên làm vua trị thiên hạ, nối dòng chính thống, đến nay đã được 3 năm. Các nước ngoài đến triều cống thì An Nam là nước đầu tiên, thứ đến Cao Ly rồi Chiêm Thành. Tất cả đều dâng biểu xưng thần, hợp với chế độ xưa, khiến trẫm rất vui lòng.
Mới đây Chiêm Thành sai Bình chương Bồ Đán Ma Đô đến cống, tâu rằng An Nam mang binh đến xâm nhiễu, trẫm xem tờ trình lòng không được yên. Nghĩ rằng hai nước các ngươi từ xưa đến nay, cương vực đã định sẵn, đó là ý trời, không thể cậy mạnh mà làm càn. Huống đất đai các ngươi, cách Trung Hoa hết núi đến biển, lời nói về sự xâm nhiễu nhất thời khó mà biết được để trình bày rõ ràng cho trẫm hay. Các người được truyền đời nối đời đã lâu, việc giữ đất an dân, trên phụng đạo trời, tôn kính Trung Hoa, những việc này Vương trước của các ngươi chắc đã để lại lời dạy bảo, không đợi trẫm dụ mới biết. Trẫm làm chủ thiên hạ, việc đáng làm là trị loạn dẹp nguy, nay sai sứ đi quan sát sự việc, hiểu dụ các ngươi phải sợ trời, thủ phận. Nếu như cả hai dùng binh, năm này qua năm khác không ngừng, làm độc hại sinh linh, thượng đế hiếu sinh sẽ không bằng lòng, e rằng trên thì trời ghét, dưới thì lòng dân oán hận, mối họa sẽ không tránh được! Vương hai nước hãy nghe lời trẫm, tuân theo đạo lý, yên phận mình, để con cháu các ngươi được hưởng phúc lâu bền, há lại không tốt đẹp hơn ư? Khi chiếu thư tới, hai nước hãy tuân lệnh bãi binh!”
Khi sứ giả Trung Hoa đã về nước, La Ngai hỏi Chế Bồng Nga:
-Bây giờ vua Minh hạ chiếu dàn hòa như vậy bệ hạ tính sao?
Chế Bồng Nga cười mà nói:
-Vua Minh hạ chiếu cứ hạ chiếu, việc mình đã định mình cứ làm!
La Ngai hỏi lại:

-Như vậy là mình vẫn chuẩn bị đánh Đại Việt? Làm trái ý vua Minh như vậy lỡ vua Minh nổi giận giúp Đại Việt đánh ta thì sao?
Chế Bồng Nga lại cười:
-Khanh chớ ngại chuyện đó! Vua Minh hạ chiếu thư dàn hòa chiếu lệ để làm vừa lòng cả đôi bên thôi! Thực chất lão lại muốn cho đôi bên xung đột để lão thủ lợi đấy chứ! Ta còn lạ gì cái thói đểu giả của bọn vua quan Trung Hoa? Bên ngoài họ luôn lấy lễ giáo để ru ngủ thiên hạ nhưng chính họ làm chuyện gian tà độc ác hơn ai hết! Xưa nay không biết đã bao nhiêu nước vì tin vào những lời đạo đức của bọn vua quan Trung Hoa mà bị diệt vong đấy! Nếu Minh triều thấy ta suy yếu, họ sẽ tìm cách nuốt lốn nước ta ngay! Vì vậy, ta đánh Đại Việt cũng là một cách biểu dương lực lượng cho người Minh gờm mà đừng nghĩ đến chuyện thôn tính nước ta! Ta tin chắc khi chiến tranh giữa hai nước Chiêm Việt xảy ra, vua Minh cũng chỉ đứng ngoài can gián suông mà thôi! Đợi đến khi nào cả hai bên suy kiệt hết họ mới nhúng tay vào. Nhưng với ta họ chớ hòng!
La Ngai lại nói:
-Với ta thì khỏi lo, nhưng lần này Đại Việt sẽ đi về đâu?
Chế Bồng Nga nói:
-Đại Việt sẽ đi về đâu? Khanh nghĩ Đại Việt sẽ bị Trung Hoa nuốt ư? Khó lắm! Đại Việt đã từng là một cục xương mà Trung Hoa nuốt mãi không trôi! Ta mắc gì mà lo!
Nói xong Chế Bồng Nga cười một tràng dài sảng khoái.
Vua Dụ Tôn tuy có nhiều thê thiếp nhưng khi đã ngoài 30 tuổi ngài vẫn chưa có một mụn con nào. Hiến Từ thái hậu đã cho cầu đảo nhiều nơi nhưng vẫn không kết quả. Người anh cùng cha cùng mẹ của ngài là Cung Túc vương Nguyên Dục (đã mất) cũng không con. Hiến Từ thái hậu thất vọng hết sức: Dòng con đích của vua Minh Tôn có nguy cơ bị tuyệt tự! Thái hậu rất hoang mang trong việc lựa chọn người kế nghiệp sau này. Cuối cùng Thái hậu nghĩ đến người con nuôi của Cung Túc vương Nguyên Dục là Nhật Lễ. Vua Dụ Tôn thấy mẹ chăm sóc Nhật Lễ thì biết ý nên cũng chiếu cố đến Nhật Lễ nhiều hơn. Nhưng ngài vẫn còn do dự chưa quyết định lập tự. Sau vụ thua trận của Minh tự Trần Thế Hưng, vua Dụ Tôn buồn rầu mà sinh bệnh. Các ngự y đã hết lòng chạy chữa nhưng bệnh vẫn mỗi ngày mỗi tăng. Giữa năm Kỷ Dậu*, thấy bệnh đã ngặt, biết mình không thể sống nổi, Dụ Tôn cho mời các quan đến giường bệnh ngỏ ý truyền ngôi cho Trần Nhật Lễ rồi qua đời. Vua ở ngôi được 28 năm, thọ 34 tuổi.
Trần Nhật Lễ vốn gốc họ Dương. Hồi còn sống, vua Dụ Tôn vẫn truyền các vương hầu, công chúa lần lượt thay nhau tổ chức những cuộc hát chèo, diễn các tuồng tích xưa tại gia để ngài và các quan đến thưởng thức. Lúc bấy giờ các bộ môn này mới được du nhập từ Trung Hoa vào, rất mới mẻ, hấp dẫn nên vua quan Đại Việt đều ưa thích. Cung Túc vương Nguyên Dục tuy là con dòng đích, lại là anh của vua Dụ Tôn, nhưng vì tính khí Nguyên Dục thất thường nên vua Minh Tôn bỏ đi mà chọn vua Dụ Tôn kế vị. Nguyên Dục rất say mê xem hát tuồng. Hôm xem tuồng “Vương Mẫu Hiến Bàn Đào”, vương thấy vợ con hát Dương Khuông là Đào thị đóng vai Tây Vương Mẫu đẹp lộng lẫy quá đâm ra si mê. Thế rồi vương ép Dương Khuông nhường Đào thị cho mình. Lúc ấy Đào thị đã mang thai với Dương Khuông hơn ba tháng. Vương vì quá si tình, bất chấp việc đó. Nửa năm sau Đào thị sinh được một bé trai. Vương nhận đứa bé làm con, đặt tên Trần Nhật Lễ. Khi vua Dụ Tôn gần mất, ông ngỏ ý với quần thần truyền ngôi cho Nhật Lễ. Các tôn thất nhà Trần và bá quan biết Nhật Lễ không phải gốc họ Trần nên không muốn tôn lập. Hiến Từ hoàng thái hậu bênh Nhật Lễ bèn nói:
-Cung Túc vương là con trưởng dòng đích đã không được làm vua lại mất sớm, thiệt thòi nhiều rồi. Nhật Lễ không phải là con của Cung Túc vương sao?
Mọi người kính sợ hoàng thái hậu mới tôn Nhật Lễ lên ngôi. Nhật Lễ bèn đổi niên hiệu là Đại Định, tôn Hiến Từ hoàng thái hậu làm Hiến Từ Tuyên Thánh thái hoàng thái hậu, truy tôn cha là Nguyên Dục làm hoàng thái bá, tôn mẹ Đào thị làm hoàng thái phi, lập con gái của Cung Định vương Trần Phủ làm hoàng hậu.

 

Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 7