Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 9

th (15)

Khi tướng Bố Đông được cử sang Đại Việt triều cống lại nhằm mùa gió chướng nên sứ đoàn phải đi bằng đường bộ qua ngả Hóa Châu. Quan Hành khiển Đỗ Tử Bình đang trấn thủ Hoá Châu nhận được thư báo trước ông vui mừng hết sức. Từ nay ông có thể ăn ngon ngủ yên rồi!
Tới đây thiết tưởng cũng nên lược sơ về nhân vật Đỗ Tử Bình này một chút: xuất thân với chức ngự tiền học sinh. Ông là người có học nhưng không có thực tài. Được trời ban cho cái khiếu ăn nói hay, biện bác giỏi, ông chuyên dùng sở trường này để tiến thân. Tuy ít thành công trong việc làm nhưng đường danh lợi cứ lên như diều gặp gió. Năm Mậu Tý* ông được thăng làm Thị giảng. Tháng 7 năm Kỷ Hợi* ông được thăng Tri Khu mật viện sự. Năm Nhâm Dần*, biên giới phía nam bắt đầu căng thẳng, ông được lệnh của vua Dụ Tôn đi bổ duyệt quân ở Lâm Bình, Thuận Hóa và đắp thành Hóa Châu. Năm Đinh Mùi, ông được cử làm phó Thống quân cho Minh tự Trần Thế Hưng đem quân đi đánh Chiêm Thành. Tháng 4 năm Mậu Thân* quân Việt tiến vào tới Chiêm Động thì bị quân Chiêm phục kích đánh một trận tan tác. Trần Thế Hưng bị bắt, Đỗ Tử Bình chạy thoát được. Từ khi ra làm quan, Đỗ Tử Bình không bỏ lỡ một cơ hội nào có thể vơ vét để làm giàu. Chẳng bao lâu ông đã thu gom được một số vốn liếng đáng kể. Mới ngoài bốn mươi ông đã xây dựng được cơ sở ăn ở vững vàng. Không ngờ trong trận đánh Thăng Long năm Tân Hợi, số của cải ông gom nhặt được lại bị quân Chiêm vét sạch. Mấy nàng hầu trẻ của ông cũng bị chúng bắt mất. Cái dinh thự ông tạo lập ở chưa được bao lâu cũng biến thành đống tro. Những việc đó đã khiến ông đau khổ vô cùng…
Khi sứ đoàn Chiêm Thành tới Hóa Châu, Hành khiển Đỗ Tử Bình đã thân ra đón tiếp, mời vào trú ngụ trong thành. Ông đã cùng tướng Bố Đông gặp nhau đàm đạo rất thân mật. Sau đó, ông lại ân cần mời tướng Bố Đông sáng mai đến tư dinh ông uống trà trước khi lên đường. Tướng Bố Đông nhận lời, Đỗ Tử Bình lại hỏi:
-Sứ đoàn có cần bản chức giúp đỡ gì không?
Tướng Bố Đông nói:
-Cám ơn quan Hành khiển đã có nhã ý giúp đỡ chúng tôi. Thú thật đường sá ở thượng quốc chúng tôi không được rành mấy. Chúng tôi lại còn mang theo một số cống phẩm để dâng triều đình. Nếu quan Hành khiển giúp cho một đội lính vừa làm hướng dẫn viên vừa tăng cường bảo vệ thì tiện cho sứ đoàn chúng tôi lắm!
-Cống phẩm kỳ này có gì đặc biệt không?
-Thưa, cũng khá quan trọng! Ngoài những cống phẩm thông thường còn có 10 mâm vàng!
-Mười mâm vàng? Nhiều đấy! Phải bảo vệ cẩn thận mới được! Để tôi tính giúp ông!
Thế rồi Đỗ Tử Bình trở về công đường cho đòi viên thuộc tướng Nguyễn Long đến dặn:
-Ngươi hãy chọn chừng năm mươi tên lính khỏe mạnh chuẩn bị sẵn để sáng mai theo hộ tống sứ đoàn Chiêm Thành về kinh.
Nguyễn Long vâng dạ. Tử Bình dặn thêm:
-Dẫn đường và bảo vệ sứ đoàn Chiêm Thành, là việc rất quan trọng. Mười mâm vàng cống phẩm mà thất thoát là ngươi hết đường về đấy! Phải cẩn thận lắm mới được!
-Dạ, thuộc hạ biết. Xin thượng quan yên tâm.
Viên thuộc tướng đi rồi, Tử Bình ngồi một mình suy nghĩ mung lung. Mười mâm vàng? Một tài sản mà ông hằng mơ ước! Bao năm làm quan ông đã vất vả thực hiện được một phần mơ ước đó nhưng bây giờ đã tan thành mây khói hết! Ông chợt nhớ lại nỗi đau khổ của mình khi quân Chiêm đánh phá Thăng Long năm xưa. Nào những người ngọc, nào châu báu, nào dinh cơ, tất cả vì một tay Chế Bồng Nga mà ông mất sạch. Nghĩ tới mười mâm vàng mà sứ đoàn mang sang cống Đại Việt ông càng đau lòng. Có thể trong đó có một số vàng do chính ông gom nhặt chắt chiu trước đây…
Tối hôm đó Tử Bình có vẻ trầm ngâm, nghĩ ngợi, chốc chốc lại thở dài. Đỗ phu nhân thấy thái độ lạ lùng của chồng bèn hỏi:
-Hôm nay sứ Chiêm đã chịu sang cống triều đình là một việc hết sức tốt lành cho quốc gia và cho cả gia đình ta nữa, thế mà tướng công chẳng có vẻ phấn chấn gì cả nghĩa là sao?
Đỗ Tử Bình cười nửa miệng đáp:
-Ta làm quan gần hai chục năm, gắng lắm mới gom nhặt được một số vàng bạc trù để lại cho con cháu đỡ vất vả. Không ngờ chỉ một ngày quân Chiêm vào cướp sạch! Lại đốt phá hết nhà cửa của ta nữa! Lúc này khó khăn, biết bao giờ ta kiếm lại được số của cải như trước? Nghĩ đến điều đó nên ta không được vui thôi!
Đỗ phu nhân hơi tức cười:
-Tướng công là kẻ ra trấn cõi ngoài, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ giặc tới bất ngờ, nay giặc đã chịu khuất phục, tướng công đã trút bớt được gánh lo, phải vui mừng mới được chứ! Còn chuyện tạo lại của cải, tướng công còn làm quan, còn chán gì cơ hội?
Đỗ Tử Bình cau mặt nói:
-Phu nhân tưởng cứ làm quan là lúc nào cũng có thể kiếm ra tiền của sao? Chán chi kẻ làm quan mà suốt đời vẫn thiếu thốn, khi chết vẫn không có chút của để lo lễ tang cho chính mình? Từ vua Dụ Tôn đến ngụy Nhật Lễ chẳng ai quan tâm đến chính sự nên các quan cứ mạnh ai nấy thao túng, kiếm tiền không khó. Đến thời vua Nghệ Tôn tuy ngài có chăm lo việc nước, nhưng tánh ngài nhân hậu, dễ thông cảm, ta vẫn có thể xoay xở được. Nay đức Duệ Tôn đã chấp chánh, ngài quá nghiêm minh, cương trực, lại siêng lo công việc, ta còn đâu cơ hội để khá lên như xưa?
Đỗ phu nhân càng tức cười hơn:
-Nhưng đó là chuyện riêng của nhà mình, mà chuyện của cải mất cũng đã mất rồi! Bộ hết lúc lo rồi sao mà tướng công lại nhằm lúc sứ giả Chiêm Thành ghé qua nhà mình mà lo? Thấy gương mặt đăm chiêu nghĩ ngợi của tướng công người ta sẽ e dè mất vui, điều đó đâu hợp với phép giao tế!
Bị vợ chỉ trích, Đỗ Tử Bình tâm sự:
-Lần này cống phẩm sứ Chiêm mang theo có đến 10 mâm vàng. Ta nghĩ lại số tài sản của ta bị giặc Chiêm cướp mà đau lòng. Nếu không, ít nhất ta cũng có gần một nửa số vàng như thế. Bây giờ thì không còn hi vọng gì nữa! Càng nghĩ càng thấy hận bọn giặc Chiêm!
Đỗ phu nhân nghe chồng nói lên sự việc như vậy cũng thấy động lòng, bà thở dài:
-À, hóa ra là vậy! Nếu nhà mình có được một số vàng như thế cũng đỡ lo cho đám con cháu! Nhưng đây là vàng của vua, tướng công suy nghĩ làm gì cho mệt? Trời khuya rồi, mời tướng công đi nghỉ!
Đỗ Tử Bình lặng thinh. Sáng hôm sau, khi phu nhân thức dậy, bà thấy đám gia nhân đang lăng xăng lo công việc bếp núc. Quá ngạc nhiên, phu nhân hỏi:
-Ai bảo các ngươi làm gì sớm thế?
Bà quản gia thưa:
-Thưa phu nhân, tướng công sai chuẩn bị tiệc để thết đãi sứ giả Chiêm Thành!
“Hôm nay tướng công ta định mời sứ giả uống trà rồi tiễn đưa lên đường, sao lại còn bày tiệc tùng gì khác nữa?” – Đỗ phu nhân ngạc nhiên đi vào phòng của chồng định hỏi lý do thì thấy ông đang ngồi viết thư từ gì đó. Nghe tiếng động, ông ngước mặt lên nhìn vợ tươi cười nói:
-Ta đã nghĩ ra một mưu kế thần diệu! Hôm nay ta tạm giữ sứ giả ở lại. Phen này ta sẽ làm cho Chế Bồng Nga dở sống dở chết! Phu nhân cứ yên chí đợi xem!
Đỗ phu nhân ái ngại nhìn chồng nói:
-Tướng công muốn làm gì xin phải suy tính cẩn thận! Để phạm vào phép vua luật nước là khổ đó!
Đỗ Tử Bình cười có vẻ đắc chí:
-Phu nhân chớ lo! Chỉ cần bà im lặng giùm ta!
Đỗ phu nhân nghe chồng nói thế bèn im lặng đi ra. Một lát sau gia nhân dọn trà ra. Đỗ Tử Bình cho người mời tướng Bố Đông vào cùng uống. Trong cuộc trà này, Đỗ Tử Bình đã sử dụng rặt tiếng Chiêm khiến tướng Bố Đông vô cùng ngạc nhiên. Ông lại ăn nói khéo léo nên tướng Bố Đông thích lắm. Uống trà nửa chừng Đỗ Tử Bình nói với Bố Đông:
-Tuyệt diệu thật, ai ngờ chúng ta mới đối đầu nhau đó mà bây giờ lại được ngồi uống trà với nhau trong tình thân ái! Từ nay chúng ta là bạn của nhau. Thỉnh thoảng tướng quân sang đây hoặc bản chức sang dinh tướng quân đối ẩm thế này thì vui biết mấy!
Bố Đông cũng vui vẻ nói:
-Cám ơn quan Hành khiển, được như thế này mãi thì còn gì hơn?
Đỗ Tử Bình lại nói:
-Hôm nay coi như ngày hòa bình, ngày hội ngộ của chúng ta, bản chức đã cho làm tiệc rượu, chúng ta sẽ có một ngày rất vui vẻ mừng hai dân tộc Việt Chiêm từ nay hết nạn binh đao!
Bố Đông ngạc nhiên:
-Ngài nói làm tiệc rượu đãi chúng tôi ư? Xin ngài miễn cho, tôi còn có sứ mạng đi Thăng Long dâng cống phẩm, không thể trễ nãi được. Hẹn ngày trở về sẽ xin uống rượu với ngài vậy!
Đỗ Tử Bình nói:
-Lo gì việc đó! Bản chức là người đại diện cho thiên tử ở đây, vì vấn đề an ninh, bản chức có thể nhận quốc thư và cống phẩm rồi chuyển về triều cũng xong! Tướng quân cứ giao hết cho bản chức, bản chức sẽ viết biên lai đàng hoàng để tướng quân mang về dâng Chiêm vương.
Ngưng giây lát, Đỗ Tử Bình lại giở giọng đùa:
-Tướng quân không tin bản chức ư? Nếu bản chức ăn bớt cống phẩm ắt hẳn sẽ bị thiên tử trừng phạt! Khi đó bản chức chỉ còn nước chạy sang nhờ tướng quân che chở thôi!
Lúc ấy gia nhân bắt đầu bày tiệc rượu ra. Bố Đông lúng túng chốc lát rồi đành nhập cuộc. Đỗ Tử Bình và Bố Đông như hai người bạn tri kỷ lâu ngày xa cách nhau nay được tái hợp, cùng nhau uống đến say mèm. Sứ đoàn Chiêm ở lại Hóa Châu thêm một đêm nữa!
Hôm sau Đỗ Tử Bình lấy tư cách đại diện cho hoàng đế Đại Việt, nhận quốc thư cùng 10 mâm vàng và các cống phẩm khác của sứ đoàn Chiêm Thành. Ông tự tay viết tờ phúc đáp rõ ràng trao cho tướng Bố Đông về trình với Chiêm vương. Xong việc Đỗ Tử Bình lại đãi Bố Đông thêm một tiệc nữa rồi tiễn đưa ông ta trở về Chiêm Thành.
Khi tướng Chiêm Bố Đông về nước xong, việc đầu tiên của Đỗ Tử Bình là cho người thân tín đem cất giấu hết 10 mâm vàng nước Chiêm dâng. Tiếp đó, ông cho đòi viên thuộc tướng Nguyễn Long đến sai chạy thư khẩn cấp về Thăng Long. Nguyễn Long ngạc nhiên hỏi:
-Bẩm, thượng quan có dặn thuộc hạ chọn năm mươi tên lính để hộ tống sứ đoàn Chiêm Thành về kinh. Chúng đợi mấy hôm nay rồi, bây giờ tính sao?
Lúc đó Tử Bình mới sực nhớ mình đã truyền cái lệnh đó, liền bảo:
-Bây giờ sứ đoàn Chiêm Thành không chịu đi nữa, hãy cho chúng trở về với công việc cũ. Ngươi đi một mình đủ rồi! Nhớ phải cẩn thận cái miệng đấy. Việc của ngươi bây giờ chỉ là mang thư khẩn của ta về triều. Những việc khác ngươi không biết rõ ai hỏi chớ có nói ẩu có khi mang họa đó!
Nguyễn Long vâng dạ. Sau khi truyền lệnh cho đám lính của mình trở về công việc cũ, Nguyễn Long vội vã lên đường ngay.
Bức thư khẩn của Tử Bình viết đại lược như sau: “Thần đã trao quốc thư cho viên tướng Chiêm trấn giữ biên giới là Bố Đông nhờ y chuyển cho Chiêm vương Chế Bồng Nga. Chế Bồng Nga xem quốc thư của ta xong đùng đùng nổi giận. Y đã dùng những lời lẽ rất xấc xược để thóa mạ vua quan Đại Việt. Hiện giờ y đã cho động binh khắp nơi, quân Chiêm có thể vượt biên giới Đại Việt bất cứ lúc nào. Vậy, thần kính khẩn báo để bệ hạ đề phòng”.
Vua Duệ Tôn đọc thư xong ngài nổi giận nói lớn:
-Tên Man vương ngang ngược này coi trời đất không ra gì nữa! Ta phải cho nó biết tay!
Ngài lại nói với các quan:
-Thế mà lâu nay các khanh cứ khuyên trẫm dùng văn đức để cải hóa Chiêm Thành! Các khanh đã thấy nó vẫn giữ thái độ ngang ngược, hỗn láo như cũ chưa? Phen này trẫm nhất quyết phải cầm quân đi đánh nó.
Thế rồi ngài ra lệnh cho Lê Quí Ly đốc sức dân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Châu và Hóa Châu vận tải lương thực để cung cấp cho quân sĩ. Ra lệnh cho các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa phải điều động quân các nơi tập trung theo những địa điểm ấn định để sẵn sàng xuất chinh.
Mùa đông năm Bính Thìn, vua Duệ Tôn đã huy động được một lực lượng 12 vạn quân. Ngài sai các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa chỉ huy tiền quân. Chính ngài và Ngự Câu vương Trần Húc là con trưởng của Thượng hoàng chỉ huy trung quân. Sai Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân, Lê Quí Ly làm vận lương sứ có nhiệm vụ tải lương thực đi sau.

Trước khi ra trận, vua Duệ Tôn vào bái yết Thượng hoàng và nói:
-Xin hoàng huynh coi việc nước thay trẫm một thời gian. Trẫm đi chuyến này nhất định sẽ làm người Chiêm khiếp phục không bao giờ còn dám hung hăng xâm phạm Đại Việt nữa. Hoàng huynh cứ yên lòng chờ tin thắng trận!
Thượng hoàng nói:
-Quan-gia đi lần này ta cũng yên lòng và tin tưởng tất thắng. Nhưng ta cũng ngại một điều là quan-gia hay nóng nảy và cương quyết quá có khi làm cho quân dân hai nước chết oan nhiều cũng tội. Hành khiển Phạm Huyền Linh vừa cho ta biết Chế Bồng Nga đã chịu khuất phục nạp cống rồi sao nay sự thể lại đổi thay như thế nhỉ?
Vua Duệ Tôn bực mình nói:
-Cái lão ấy đặt chuyện vu vơ đó! Xin hoàng huynh chớ nghe!
-Phạm Huyền Linh nói có chứng cớ hẳn hoi chứ không nói càn đâu! Nội thị đâu? Đi mời quanh Hành khiển Phạm Huyền Linh tới quan-gia gặp ngay!
Vua Duệ Tôn không kịp cản lại. Ngài nói:
-Mấy cái anh hủ nho nhát như cáy mà cứ lắm chuyện!
Lát sau thì quan Hành khiển Phạm Huyền Linh đến. Vua Duệ Tôn hỏi:
-Ngươi nghe ai nói Chế Bồng Nga đã chịu khuất phục ta?
Phạm Huyền Linh bất đắc dĩ phải đem việc Nguyễn Long nhận lệnh chuyển bức thư khẩn của Đỗ Tử Bình về triều ra sao thuật lại hết đầu đuôi. Thì ra Nguyễn Long là cháu gọi Huyền Linh bằng cậu. Vì trước đó Đỗ Tử Bình có ra lệnh cho Nguyễn Long đi hộ tống sứ đoàn Chiêm Thành về Thăng Long dâng quốc thư và cống phẩm. Tử Bình cũng có cho Nguyễn Long biết là số cống phẩm có 10 mâm vàng. Sau đó Tử Bình lại thuyết phục được sứ Chiêm trao cống phẩm và quốc thư để ông dâng về triều. Nhưng thay vì chuyển quốc thư và cống phẩm của nước Chiêm về triều, Tử Bình lại gởi về triều bức thư báo khẩn Chiêm Thành hỗn xược và đang chuẩn bị tấn công Đại Việt. Sự thay đổi về chuyến đi cũng như sự trái nghịch giữa việc dâng cống phẩm với bức thư báo khẩn đã làm Nguyễn Long ngạc nhiên. Nhưng Nguyễn Long không dám nói với ai mà chỉ tiết lộ việc ấy với ông cậu mình. Phạm Huyền Linh thẳng ruột lại đem việc đó báo với Thượng hoàng xin bí mật điều tra. Nghe chuyện xong, vua Duệ Tôn nói:
-Chuyện có thể xảy ra lắm. Nhưng khui ra bây giờ là gây trở ngại công việc ngay! Ta đã chuẩn bị ra quân không lẽ đình lại nữa? Mọi việc đâu vẫn còn đó, cứ đợi trẫm bình Chiêm xong rồi tính! Bây giờ ta muốn quan Hành khiển theo ta ra mặt trận một chuyến chịu đi không?
Hành khiển Phạm Huyền Linh bất đắc dĩ phải xin đi.
Mấy hôm sau vua Duệ Tôn chia quân hai mặt thủy bộ cùng tiến về đất Chiêm. Đến cửa sông Nhật Lệ, vua Duệ Tôn cho tạm dừng để quân sĩ tổng tập dượt lại và cũng để biểu dương khí thế hơn một tháng. Sau đó đại quân tiến về cửa Thị Nại. Quân Đại Việt tiến đến đâu quân Chiêm Thành né tránh đến đó. Thừa thế quân Đại Việt tiến lên Thạch Kiều, đóng đại bản doanh ở động Ỷ Mang.
Trước đó Chế Bồng Nga đã cho dựng lũy bằng tre gỗ ở ngoài thành Đồ Bàn để chống cự. Thấy đoạn đường từ động Ỷ Mang đến thành Đồ Bàn lối đi chật hẹp khúc khuỷu, hai bên cây cối rậm rạp rất tiện cho việc phục binh, Chế Bồng Nga đã nghĩ ra được một diệu kế. Ông bí mật cho quân ra phục sẵn hai bên rừng rồi sai tướng Mục Bà Ma đi trá hàng. Mục Bà Ma đến doanh trại Đại Việt, xin vào ra mắt vua Duệ Tôn. Vua Duệ Tôn hỏi:
-Ngươi đến đây làm gì?
Mục Bà Ma nói:
-Muôn tâu bệ hạ, hạ thần vốn là thuộc tướng của Chế Bồng Nga đến đây xin hàng. Mong được bệ hạ thương tình nạp dụng!
-Vì lý do gì ngươi đầu hàng?
-Vì hạ thần thấy Chế Bồng Nga không biết tự lượng sức, ngang ngạnh chống lại thiên triều, hạ thần biết trước sau ông ta cũng bị bệ hạ bắt nên đến xin hàng trước để tội khỏi nặng thêm.
-Ngươi biết Chế Bồng Nga bố trí phòng thủ thế nào hãy nói ta nghe thử?
-Muôn tâu bệ hạ, trước đây Chế Bồng Nga định dựa vào thành lũy dựng bằng tre gỗ ấy để chống cự nhưng sau thấy quân Đại Việt mạnh quá, ông ta khiếp sợ nên đã kéo quân chạy trốn cả. Nay bên trong chỉ còn một cái thành không. Bệ hạ nên tiến quân gấp thì có thể bắt được Chế Bồng Nga, không nên bỏ lỡ cơ hội!
Vua Duệ Tôn tin lời Mục Bà Ma, ra lệnh tiến quân gấp. Đại tướng Đỗ Lễ liền can:
-Theo binh pháp, đánh lấy thành là sự bất đắc dĩ. Kẻ kia đã nói xin hàng thì ta nên lấy việc cho nước nó được an toàn là hay hơn cả. Vậy, ta hãy cho một tay thuyết khách cầm thư đi hỏi tội để dò hư thực, theo như mưu chước Hàn Tín đánh nước Yên ngày trước, chẳng phải khó nhọc lắm mà được nên công. Vả lại, tình ý của kẻ địch khó suy lường được. Xin bệ hạ hãy xét kỹ.
Vua Duệ Tôn nói:
-Ta mặc áo giáp bền, cầm vũ khí sắc, gội gió, tắm mưa, trèo non, lội suối, len lỏi đi sâu vào đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Thế là cái cơ trời giúp ta đó. Huống chi bây giờ, vua nước nó đã sợ bóng sợ gió, chạy trốn xa, không có tinh thần chiến đấu. Việc binh quí hồ nhanh chóng. Nếu để chậm trễ không tiến quân coi như trời cho mà mình không nhận. Sau này nó lại trở mặt, dù ăn năn thì sự đã rồi! Nhà ngươi thực là kiến thức đàn bà!
Vua Duệ Tôn nói xong liền sai lấy áo đàn bà mặc cho Đỗ Lễ. Thế rồi ngài ra lệnh quan quân nối đuôi nhau như xâu cá mà tiến. Vua đi đoạn giữa đoàn quân. Đường quá chật, khúc khuỷu khó đi nên đoàn quân phải trải dài hàng mấy dặm. Thình lình quân Chiêm Thành đã bố trí sẵn đổ ra đánh cắt quân Trần làm nhiều đoạn không cho ứng cứu nhau. Quân Đại Việt tan rã cả, bị giết và bị bắt rất nhiều. Vua Duệ Tôn bị hãm giữa trận rồi mất tích luôn. Các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa và quan hành khiển Phạm Huyền Linh đều tử trận. Riêng Ngự Câu vương Trần Húc bị quân Chiêm bắt sống.
Hành kiển tham mưu quân sự Đỗ Tử Bình chỉ huy đạo hậu quân thấy hai đạo tiền quân và trung quân bị phục kích liền hoảng sợ vội vã rút lui. Vận lương sứ Lê Quí Ly nghe tin quân Việt bại trận cũng vội bỏ trốn về triều.
Thượng hoàng nghe tin giận quá sai đem một chiếc xe tù đi bắt Đỗ Tử Bình. Khi Đỗ Tử Bình về qua phủ Thiên Trường, dân chúng đua nhau đón đường chửi mắng, lấy gạch ngói ném vào xe tù chở y. Quân về tới Thăng Long, Thượng hoàng liền sai đem Đỗ Tử Bình ra xử tội. Nhưng ai nấy đều ngạc nhiên y không bị tội chết mà chỉ bị đày đi làm lính. Riêng Lê Quí Ly dù bỏ lương mà chạy làm thiệt hại của quốc gia rất nhiều nhưng Thượng hoàng nể tình hai bà mẹ và em gái của ngài nên làm lơ không hỏi tội.

 

Chế Bồng Nga : Anh Hùng Chiêm Quốc – Chương 10