Tám mươi năm tội ác của Cộng sản và Hòa Giải Dân Tộc

 
Đỗ Ngọc Uyển

Nghị Viện Âu Châu Lên Án Các Chế Độ Cộng Sản

Năm 1996, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết số 1906 để đưa ra những biện pháp nhằm tháo gỡ những di sản độc hại của những hệ thống cộng sản chuyên chế trước đây. Về phương diện định chế, những di sản này gồm:  tập trung quyền hành tối đa, quân sự hoá các tổ chức dân sự, chế độ quan liêu, sự độc quyền và quy luật hoá tối đa mọi sinh hoạt xã hội. Về phương diện xã hội, những di sản này gồm: chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa tuân thủ mù quáng và những khuôn mẫu suy tư độc đoán.

Riêng tại Việt Nam, ngoài các di sản kể trên, cộng sản còn để lại nhiều di sản độc hại khác. Đó là sự phá hoại nền đạo lý và nếp sống văn hoá nhân văn, nhân bản truyền thống của dân tộc, và thay thế vào đó bằng một thứ văn hoá xã hội chủ nghĩa rừng rú, phi nhân tính. Những vụ con cái đấu tố cha mẹ; vợ chồng, anh chị em đấu tố nhau… một cách man rợ trong thời kỳ “Cải Cách Ruộng Đất” từ 1953 đến 1956 là những hành vi vô luân vượt ra ngoài sự tưởng tượng của những kẻ vô đạo nhất. Đây là tội phá hoại văn hiến, một tội chống lại quốc gia tức phản quốc của Hồ Chí Minh.  Không có cái công nào có thể chuộc được cái tội này. Những di sản độc hại này đã di căn vào toàn bộ cơ thể xã hội hôm nay, và còn tiếp tục gây tác hại cho tới khi nào cộng sản còn thống trị đất nước.

Tham chiếu Nghị Quyết trên đây, năm 2006, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua thêm Nghị Quyết số 1481 nhằm tố cáo và lên án những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền của những chế độ cộng sản đã cai trị ở Trung Âu và Đông Âu trong thế kỷ 20 và các chế độ cộng sản còn đang tiếp tục thống trị tại bốn quốc gia trên thế giới trong thế kỷ 21 gồm Trung Cộng, Việt Cộng, Hàn Cộng và Cuba.  Tất cả những chế độ cộng sản này – không có ngoại trừ – đã có một đặc tính chung là những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền.

Những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản bao gồm những vụ ám sát và xử tử các cá nhân và tập thể, giết người trong các trại tập trung, bỏ đói, bắt lưu đầy, tra tấn, hành hạ, bắt làm lao nô, khủng bố thể chất và tinh thần, bách hại tôn giáo và chủng tộc; vi phạm tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do báo chí và thiếu vắng đa nguyên chính trị.

Nghị Viện Âu Châu nhận định rằng – sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Trung và Đông Âu – đã không có một cuộc điều tra sâu rộng của cộng đồng quốc tế về những tội ác của các chế độ này. Và hơn nữa, những thủ phạm đã gây ra những tội ác cũng không bị mang ra xét xử tại một toà án hình sự quốc tế như trường hợp các thủ phạm đã gây những tội ác khủng khiếp của chế độ Đức Quốc Xã. Do đó, sự hiểu biết về những tội ác của cộng sản trong công chúng rất hạn chế, và những chế độ cộng sản còn sót lại vẫn tiếp tục phạm những tội ác chống nhân quyền.

Nghị Viện Âu Châu tin rằng sự hiểu biết thấu đáo về lịch sử là một trong những điều kiện tiên quyết để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn nữa, việc thẩm định mang tính đạo đức và sự lên án những tội ác mà cộng sản đã phạm giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ trẻ sau này. Quan điểm minh bạch về quá khứ sẽ soi sáng cho những hành động của cộng đồng thế giới trong tương lai.

Những chế độ cộng sản còn thống trị tại vài quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục vi phạm những tội ác chống nhân quyền. Những quốc gia trên thế giới không nên vì quyền lợi của quốc gia mình mà tránh né lên án những tội ác chống nhân quyền của các chế độ cộng sản toàn trị còn hiện hữu trên thế giới. Nghị Viên Âu Châu lên án mạnh mẽ những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản còn sót lại này.

Nghị Viện Âu Châu xác định rằng quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới khi thảo luận và lên án những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm là một bổn phận của đạo đức và không được trì hoãn lâu hơn nữa.

Nghị Viện Âu Châu cũng tin rằng những quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới đối với những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm sẽ mở ra con đường hoà giải sau này. Và hy vọng rằng quan điểm minh bạch trên đây sẽ khuyến khích các sử gia trên toàn thế giới hãy tiếp tục tra cứu để thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác mà cộng sản đã phạm.

 

Tám Mươi Năm Tội Ác Của Cộng Sản Việt Nam

Theo tinh thần của hai nghị quyết trên đây, việc thảo luận và lên án những tội ác mà cộng sản Viêt Nam đã phạm đối với dân tộc Việt Nam trong 80 năm nay là bổn phận của lương tri và đạo đức của mọi người Việt Nam. Việc tra cứu và thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác của cộng sản Việt Nam và đưa những chánh phạm ra xét xử trước ánh sáng của công lý là một thể hiện công bằng và minh bạch để đưa đến hoà giải và thống nhất ý chí và tư tưởng của dân tộc đã bị phân hoá và chia rẽ bởi những tội ác và những di sản độc hại mà chế độ cộng sản đã để lại cho xã hội Việt Nam trong gần một thế kỷ kể từ năm 1930 đến nay.

Hệ thống luật pháp quốc gia không dự liệu những tội ác của CS đối với dân tộc Việt Nam bởi vì đây là những tội đại hình có tính quốc tế (international crimes). Những tội ác của cộng sản Việt Nam thuộc bốn nhóm tội ác đã được dự liệu tại Đạo Luật Rome (The Rome Statute) gồm:

1) Tội Ác Xâm Lược (The Crime of Aggression);

2) Những Tội Ác Chiến Tranh (War Crimes);

3) Tội Ác Diệt Chủng (The Crime of Genocide);

4) Những Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity).

Sau đây xin lược kê và phân loại – theo bốn nhóm tội ác nói trên – một số tội ác của CSVN trong 80 năm nay.

I – Tội Ác Xâm Lược VNCH

Theo công pháp quốc tế, Việt Nam Cộng Hoà hội đủ tám tiêu chuẩn của một quốc gia độc lập:

1- VNCH có một lãnh thổ có biên cương được quốc tế công nhận.

2- VNCH là ngôi nhà chung của 22 triệu người Việt sinh sống trong đó.

3- VNCH có một nền kinh tế thị trường có tổ chức; có hoạt động nội thương, ngoại thương và phát hành tiền tệ.

4- VNCH có một bộ giáo dục và một hệ thống giáo dục miễn phí từ bậc tiểu học đến đại học; ngoài ra còn có một hệ thống các trường cao đẳng chuyên nghiệp.

5- VNCH có một hệ thống chuyên chở quốc nội và quốc ngoại gồm đường bộ, xa lộ, thiết lộ, đường thuỷ, đường hàng không; các bến xe, bến cảng và các phi trường để chuyên chở hành khách và hàng hoá trong nội địa và ra ngoại quốc.

6- VNCH có một chính phủ dân cử gồm ba nghành: hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập với quyền lực cân bằng và kiểm soát lẫn nhau; có một quân lực gồm một triệu quân nhân dưới cờ với hải lục không quân để bảo vệ tổ quốc và một lực lượng cảnh sát gồm hơn 200.000 nhân viên để giữ gìn trật tự và bảo vệ an ninh cho dân chúng.

7- VNCH là một quốc gia độc lập và có chủ quyền tuyệt đối trên lãnh thổ của quốc gia.

8- VNCH đã thiết lập liên lạc ngoại giao với gần một trăm quốc gia trên thế giới, có toà đại sứ  tại tất cả các quốc gia này kể cả tại bốn quốc gia thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Mỹ và Trung Hoa Quốc Gia. VNCH là thành viên của nhiều tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc và cũng đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế.

Chiếu theo tám tiêu chuẩn được công pháp quốc tế công nhận trên đây, Việt Nam Cộng Hoà đương nhiên là một một quốc gia độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, khi cộng sản Miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà bằng vũ lực trong tháng 4/1975, chúng đã phạm Tội Ác Xâm Lược. Cuộc xâm lược này là một tội ác có tính quốc tế (international crime) với sự yểm trợ và tiếp vận của khối Đệ Tam Quốc Tế nằm trong chủ chương bành trướng của chủ nghĩa công sản ra khắp thế giới. Điều này xoá bỏ luận điệu cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến mà có người đã so sánh một cách ngớ ngẩn với cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng của khối cộng sản quốc tế được uỷ nhiệm cho bọn bán nước, tay sai, Việt gian cộng sản.

II – Tội Ác Chiến Tranh

Khi xâm lăng VNCH, cộng sản Bắc Việt đã phạm rất nhiều tôi ác chiến tranh được dự liệu tai Điều 8 của Đạo Luật Rome. Sau đây chỉ liệt kê tượng trưng năm tội ác của chúng:

          1 – Tội Ác Giết Người Có Chủ Tâm (Wilful killing)

  1. a) Trong một bài nghiên cứu với tựa đề “Đàn Áp tại Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Hành Hình và Phối Trí Dân Cư”“Repression in the Socialist Republic of Vietnam: Execution and Population Relocation”được phổ biến năm 1990, tác giả Jacqueline Desbarats đã xử dụng những nguồn tin chính thức của CSVN và phỏng vấn hơn 800 người Việt Nam tỵ nạn tại Pháp và Hoa Kỳ trong bốn năm để lấy tài liệu viết bài nghiên cứu này và ước tính rằng đã có ít nhất là 100,000 công dân của VNCH đã bị hành quyết tức khắc một cách phi pháp. “Extrajudicial, or summary, execution.”  Tác giả đã nghiên cứu kỹ các hồ sơ và tìm thấy bằng chứng rằng cộng sản đã có một chương trình giết người có chủ tâm sau tháng 4/1975.

Sau tháng 4/1975, các uỷ ban quân quản và các toà án nhân dân được dựng lên trong khắp các thành phố tại Miền Nam VN để thi hành chương trình giết người phi pháp mà cộng sản đã hoạch định từ trước.  Hai phần ba trong số 100.000 nạn nhân đã bị giết trong hai năm 1975 và 1976, số còn lại bi giết trong 8 năm tiếp theo. Những nạn nhân bị giết là những nhân viên của chính quyền VNCH gồm: các tỉnh trưởng, các quận trưởng, các thị trưởng, các thành phần cao cấp trong quân đội, các nhân viên cảnh sát, các nhân viên hành chánh và các thành phần tình báo. Những nạn nhân cũng gồm một số các nhà tư sản mại bản, một số các nhà lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo, một số người Hoà Hảo, một số người tìm cách vượt biên và một số lớn những người tìm cách trốn khỏi các trại  tù “cải tạo”. Cộng sản đã đưa ra lý lẽ mơ hồ như chống đối nhà nước để kết tội và hành quyết ngay tức khắc. Ngay cả những người từ chối ghi danh đi “cải tạo” cũng bị kết tội và bị hành quyết. Con số 100.000 nạn nhân này nhiều gấp 5 lần số tù binh người Ba Lan bị hành quyết tập thể tai khu rừng Katyn trong tháng 3/1940 theo lệnh của Stalin.

Những vụ giết người có chủ tâm này đã được tính toán từ trước và không có một bảo đảm tối thiểu của một tiến trình luật pháp nào cả. Đây là một tội ác chiến tranh

  1. b) Trong tết Mậu Thân năm 1968, cộng sản đã tấn công và chiếm giữ được cố đô Huế trong 25 ngày. Ngay khi chiếm được thành phố, chúng cho bọn nằm vùng đi lùng sục từng nhà, tìm giết những người mà chúng có tên trong sổ đen. Tiếp sau đó, chúng lập những cái gọi là chính quyền cách mạng; chúng ra lệnh cho dân chúng đến trình diện; chúng giam giữ; sau đó chúng mang đi giết và thủ tiêu. Chúng lập những cái gọi là toà án nhân dân để kết án tử hình những người mà chúng cho là “chống đối cách mạng”; sau đó chúng cũng giết và thủ tiêu. Sau hết, trên đường tháo chạy khỏi Huế, chúng bắt một số người đi theo; chúng giết và thủ tiêu những người này. Sau này, dân chúng và chính quyền đã tìm được 22 hố chôn tập thể. Những nơi có nhiều hố chôn tập thể được biết đến nhiều nhất là trường tiểu học Gia Hội, Cồn Thông, Phú Thứ, Bãi Dâu, Khe Đá Mài… Tại Khe Đá Mài, vào tháng 9/1969, đã tìm thấy hơn 400 bộ hài cốt chỉ còn sọ và xương; da và thịt đã bị rã nát và bị nước cuốn trôi đi mất. Thân nhân các nạn nhân đã nhận diện được là nhờ những thẻ căn cước bọc nhựa, các giây chuyền và kỷ vật mang theo.

Tất cả các nạn nhân tìm thấy trong các hố chôn tập thể đều bị trói giật cánh khuỷu bằng dây điện thoại hay dây kẽm gai. Có nhiều nạn nhân chết trong tư thế đứng hay ngồi; điều đó chứng tỏ rằng họ đã bị chôn sống. Tại Huế, có hơn 4.000 gia đình có thân nhân bị giết hoặc mất tích. Con số hơn 6.000 nạn nhân đã bị cộng sản thảm sát và thủ tiêu trong tết Mậu Thân năm 1968 là con số ước tính có xác xuất cao. Đây là những vụ giết người có chủ tâm và là tội ác chiến tranh.

          2 – Tội Ác Tấn Công Có Chủ Tâm Vào Dân Chúng hoặc Những Cá Nhân Không Tham Gia Vào Cuộc Chiến

  1. a) Trong cuộc hành quân triệt thoái khỏi cao nguyên trung phần vào tháng 3/1975 của Quân Đoàn II QLVNCH trên Tỉnh Lộ 7B, đã có khoảng 200.000  thường dân di tản theo quân đội. Cộng quân đã pháo kích và bắn trực xạ vào đoàn người chạy loạn. Chúng đuổi theo, tấn công liên tiếp một cách man rợ vào đoàn người này trong chín ngày đêm suốt theo chiều dài của Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku tới Tuy Hoà. Chỉ có khoảng 40.000 người dân đã thoát được tầm đạn sát hại của chúng. Chúng đã giết 160.000 đồng bào vô tội gồm người già, đàn bà và trẻ nhỏ. Những xác chết này không ai chôn cất, nằm phơi sương nắng ngoài trời, làm mồi cho chim chóc và muông thú.  Số nạn nhân này nhiều gấp hai lần số nạn nhân của quả bom nguyên tử thả xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản ngày 6-8-1945.
  2. b) Trên QL1 giữa Quảng Trị và Huế có một đoạn đường được đặt tên là“Đại Lộ Kinh Hoàng” vì những tội ác kính hoàng mà cộng quân đã gây cho người dân Quảng Trị. Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, người dân Quảng Trị chạy giặc cộng sản trên đoạn đường này đã bị cộng quân pháo kích như mưa bằng súng cối 61 ly và B40. Trên một đoạn đường dài 9km, nhầy nhụa máu, đầy những xác chết không toàn thây. Khi đi tìm kiếm và lượm xác, người ta đã thấy thi hài một cháu nhỏ đang ngậm vú thi hài người mẹ. Tuy không có con số thống kê chính xác, nhưng số nạn nhân được ước tính cũng phải trên mười ngàn người gồm người già, đàn bà và trẻ em. Đây là tội ác tấn công có chủ tâm vào dân chúng và là một tội ác chiến tranh.

3 – Tội Ác Pháo Kích Vào Các Thành Phố, Thị Xã…Để Giết Dân

Trong cuộc chiến xâm lăng VNCH kéo dài 20 năm, Việt Cộng đã pháo kích hàng ngàn lần vào các thành phố, thị xã, quận lỵ…để giết dân lành. Điển hình nhất là cuộc pháo kích của Việt Cộng vào trường tiểu học Cai Lậy. Buổi sáng ngày 9-3-1973, khi hàng trăm học sinh của trường tiểu học tại thị trấn Cai Lậy đang xếp hàng để vào lớp học thì Việt cộng pháo kích vào sân trường bằng súng cối 82 ly. Trận pháo kích man rợ này đã giết chết 34 cháu và làm bị thương cho 70 cháu. Cuộc pháo kích giết các cháu nhỏ một cách dã man này đã gây kinh hoàng và phẫn nộ cho toàn dân Miền Nam. Đây là một tội ác chiến tranh.

 4 – Tội Ác Phá Hoại Những Di Tích Lịch Sử

Sau ngày 30-4-1975, quân xâm lăng cộng sản đã phá huỷ những di tích lịch sử của VNCH. Chúng đập phá và san thành bình địa nhiều nghĩa trang được xây dựng đã hàng trăm năm. Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi tại Saigòn, nơi chôn cất nhiều danh nhân và nhân vật lịch sử của Miền Nam Việt Nam, đã bị cộng sản san thành bình địa và xây trên đó một công viên mang tên Lê Văn Tám, một cái tên do tên cán bộ tuyên truyền Trần Huy Liệu phịa ra để tuyên truyền bịp bợm, lừa gạt lịch sử.

Với thú tính hận thù giai cấp, cộng sản đã phá huỷ hơn 50 nghĩa trang Quân Đội VNCH trong toàn Miền Nam Việt Nam. Chúng đào bới, lấy hài cốt mang đi thủ tiêu và san thành bình địa tất cả các nghĩa trang này.

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là Nghĩa Trang Quốc Gia của VNCH, nơi chôn cất 16.000 anh hùng tử sĩ QLVNCH, cũng bị cộng sản chủ tâm triệt hạ. Nghĩa Trang Quốc Gia này là một tập thể kiến trúc nhất quán – đậm vẻ văn hoá truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam – từ cổng tam quan đến đền tử sĩ và nghĩa dũng đài cùng với cảnh quan tổng thể. Cộng quân đã không phá huỷ và san thành bình địa Nghĩa Trang này mà chúng tìm cách phá hoại tinh vi hơn. Chúng giật sập và mang đi thủ tiêu Bức Tượng Thương Tiếc, một bức tượng đã đi vào huyền thoại của lịch sử. Chúng không cho thân nhân thăm viếng, tảo mộ. Chúng chủ tâm để cho Nghĩa Trang bị hoang phế. Chúng đập phá các mộ bia, san bằng các ngôi mộ. Chúng đập phá Nghĩa Dũng Đài. Chúng để cho Nghĩa Trang bị lấn chiếm mất hơn một nửa diện tích. Và sau hết, để biến Nghĩa Trang Quốc Gia này thành một nghĩa địa dân sự và cải danh thành nghĩa địa Bình An, ngày 27-11-2006, tên thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định cho nguỵ quyền tỉnh Bình Dương: “Chỉ đạo việc quản lý nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của chính phủ.”

Phá huỷ và triệt hạ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, một Nghĩa Trang Quốc Gia, một di sản lịch sử,không chỉ là tội ác chiến tranh mà còn là tội phá hoại văn vật.

          5- Tội Cướp Bóc (Pillaging)

Khi xâm lăng VNCH, cộng sản đã hành sử như một lũ thổ phỉ đi ăn cướp.

  1. a)  Chúng cướp 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia của VNCH. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chuyên chở số vàng ăn cướp này ra ngoài Bắc và dấm dúi chia nhau như quân cướp chia của ăn cướp
  2. b) Chúng cướp tất cả các kho tàng dự trữ của VNCH và chuyên chở ngày đêm về Miền Bắc bằng đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không trong nhiều tháng trời.
  3. c) Chúng ăn cướp nhà của ba triệu người vượt biên và chia cho nhau.
  4. d) Chúng cưỡng bức 1.5 triệu người dân thành thị đi lưu đày tại những “vùng kinh tế mới” để cướp nhà và chia cho nhau.
  5. e)  Chúng bắt người dân phải hiến nhà cho chúng trước khi xuất cảnh.
  6. f) Chúng hạ thấp trị giá đồng tiền của VNCH và tổ chức đổi tiền hai lần để cướp tiền của dân. Mỗi lần đổi tiền, chúng chỉ trả lại cho người dân một số ít để chi tiêu trong một thời gian ngắn và chúng cướp sạch số còn lại.
  7. g) Chúng cướp tiền của dân chúng ký thác tại các ngân hàng
  8. h) Chúng tổ chức đánh tư sản mại bản để cướp tài sản, cướp cửa hàng và kho hàng của thương gia.
  9. i) Chúng cướp các nhà máy, các xí nghiệp của tư nhân để thành lập các hợp tác xã của chúng
  10. j) Chúng ăn cướp bất động sản của các tôn giáo.
  11. k) Chúng dùng luật lệ rừng rú của chúng để cướp tất cả thổ cư và nhà của dân.
  12. l) Chúng cướp ruộng của nông dân qua thủ đoạn “hợp tác hoá nông nghiệp.”
  13. m) Chúng cướp đất tha ma, đất nghĩa địa

Tóm lại, bọn cộng phỉ đã cướp trắng tài sản quốc gia của VNCH và của cải của toàn dân Miền Nam Việt Nam đã chắt chiu, dành dụm hàng bao nhiêu đời. Toàn dân Miền Nam đã bị bần cùng hoá. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chia nhau của ăn cướp và chúng đã trở thành những tên tư bản đỏ hàng trăm triệu dollars. Những bức hình chụp những đồ vật trang trí trong “dinh thự”  tại Hà Nội của tên đầu sỏ cộng sản Lê Khả Phiêu –  mới đưọc đưa lên hệ thống internet toàn cầu – toàn là những thứ đi ăn cướp của Miền Nam. Đây là một tội ác chiến tranh

III – Tội Ác Diệt Chủng

Điều 6 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Diệt Chủng là những hành động có chủ tâm tiêu diệt toàn phần hay một phần, một nhóm dân tộc, sắc tộc, bộ tộc hay tôn giáo. Những hành động đó gồm: (a) Giết các thành phần của nhóm; (b) Gây thương tích trầm trọng về thể chất và tinh thần cho các thành phần của nhóm; (c) Chủ tâm gây tác hại đến điều kiện sống với âm mưu tiêu diệt toàn thể hay một phần của nhóm.

Theo định nghĩa trên đây thì vụ “Cải Cách Ruộng Đất” tại Miền Bắc là tội ác diệt chủng  của Hồ chí Minh nhằm tiêu diệt bốn thành phần  – trí, phú, địa, hào –  trong xã hội Miền Bắc. Đầu năm 1950, từ khu rừng núi Bắc Việt, Hồ Chí Minh đã bí mật đi Liên Xô để cầu viện. Tại đây, Hồ Chí Minh đã gặp Stalin và Mao Trạch Đông. Stalin đã ra lệnh cho Hồ phải “Cải Cách Ruộng Đất.” Sau khi trở về Bắc Việt, Hồ đã tự tay viết hai báo cáo bằng Nga ngữ về kế hoạch “Cải Cách Ruông Đất” gửi Stalin để xin chỉ thị.

Năm 1953 là năm bắt đầu kế hoạch “Cải Cách Ruộng Đất.”  Từng đoàn cố vấn Tầu và các đội cải cách – đã được Tầu huấn luyện – đằng đằng sát khí, mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu đổ về các vùng quê để “phóng tay phát động quần chúng” thực hiện kế hoạch giết người. Theo lệnh của cố vấn Tầu, người bị Hồ Chí Minh cho bắn chết đầu tiên trong đợt thí điểm là Bà Nguyễn Thị Năm tức Bà Cát Thanh Long, một người yêu nước, chủ một đồn điền ở tỉnh Thái Nguyên và là ân nhân của cộng sản. Bà Năm đã từng giúp đỡ tiền bạc, nuôi dưỡng, che giấu những tên đầu sỏ cộng sản như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Hoàng Quốc Việt… khi  chúng còn sống chui nhủi trong rừng. Trong cuộc đấu tố Bà Nguyễn Thị Năm, những nông dân bị chỉ định ra đấu tố Bà Năm không một người nào kết tội người đàn bà phúc hậu và cũng là ân nhân của họ về những tội mà cộng sản bịa đặt cho Bà. Nhưng cuối cùng, theo lệnh của cố vấn Tầu, cộng sản vẫn bày trò gian sảo để bắn chết người đàn bà ân nhân của chúng.

Cuộc đấu tố dã man này mà cộng sản gọi là “Cuộc Cách Mạng Long Trời Lở Đất” kéo dài từ năm 1953 tới năm 1956 đã giết và bức hại 5% – chỉ tiêu do Mao Trạch Đông đặt ra – của 14 triệu nông dân Miền Bắc tức 700.000 người, trong số này có hơn 200,000 người bị chúng xử tử, số còn lại bị chúng đưa đi tù vô thời hạn. Những nạn nhân này là những nông dân chân chỉ đã quanh năm suốt tháng cúi mặt xuống những cánh đồng ngập nước, đổi từng bát mồ hôi lấy những hạt gạo để nuôi cả dân tộc. Khắp nông thôn Miền Bắc ảm đạm, thê lương, trắng xoá khăn tang, đẫm máu và nước mắt trong cơn say máu hận thù giai cấp của Hồ Chí Minh và đồng đảng.

Giết giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.

Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.

Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt.

                                                       Tố Hữu

Trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất”, ngoài tội ác diệt chủng, Hồ Chí Minh còn phạm một tội đại hình theo luật pháp quốc gia:  Tội phản quốc, Việt gian. Đi nhận lệnh ngoại bang về giết đồng bào.

IV- Tội Ác chống Nhân Loại

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã liệt kê và định nghĩa 11 tội ác chống nhân loại. Trong gần một thế kỷ nay, cộng sản đã phạm ít nhất là 7 trong số 11 tội ác nói trên như sau:

1-Tội Ác Lưu Đầy hoặc Cưỡng Bức Di Dân

“Deportation or Forcible transfer of Population”

Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Lưu Đầy hoặc Cưỡng Bức

Di Dân như sau: “Cưỡng bức người ta ra khỏi nơi cư trú hợp pháp bằng cách trục xuất hay bằng những biện pháp bạo lực bất kể đến luật pháp quốc tế.”

Theo định nghĩa trên đây thì cộng sản đã phạm tội ác chống nhân loại khi chúng cưỡng bức người dân Miền Nam đi những “khu kinh tế mới.”  Những thành phần mà cộng sản cưỡng bức đi vùng kinh tế mới gồm: 1) Những người không có việc làm và có khó khăn về kinh tế; 2) Những người có việc làm nhưng tạm thời có khó khăn và không có gì bảo đảm trong tương lai; 3) Gia đình các quân nhân và công chức VNCH có thân nhân đã và đang bị cải tạo; 4) Những người có phương tiện s