Categories
Sưu Tầm Việt Nam Uncategorized

Vĩnh Biệt Ca Nhạc Sĩ Trường Hải (1938 – 2021)


10694478_800722189987146_5916902305916380970_o-1-750x430

Theo thông tin nhận được từ MC Jimmy Nhật Hà cũng như gia đình thì Ca nhạc sĩ Trường Hải đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 5 giờ 5 phút sáng Thứ sáu hôm nay, ngày 11 tháng 6 năm 2021. Hưởng thọ 83 tuổi.

Ca nhạc sĩ Trường Hải tên thật là Tạ Trường Hải, sinh ngày 3/10/1938 tại Sóc Trăng, vào năm 18 tuổi thì ông lên Sài Gòn để dấn thân vào con đường văn nghệ. Ca sĩ Trường Hải đã đoạt giải nhì trong cuộc thi tuyển lựa ca sĩ vào năm 1961 của đài phát thanh Sài Gòn với ca khúc “Gặp nhau” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Và sau đó ông được yêu thích với các ca khúc do ông trình bày thành công như Hận Đồ Bàn, Tình Như Mây Khói, Tôi Đưa Em Sang Sông…

10304429_804218819637483_6301755494563420795_n

Nhạc sĩ Trường Hải cùng vợ chồng nhạc sĩ Xuân Tiên (Tác giả ca khúc Hận Đồ Bàn)

Ngoài ra ông cũng là nhạc sĩ sáng tác nhiều ca khúc quen thuộc nổi tiếng như : Những Chiều Không Có Em, Mimosa, Tình Ca Người Đi Biển, Nhịp đàn vui… Nhạc phẩm đầu tay của nhạc sĩ Trường Hải mang tên Còn Nhớ Tôi Không được ông viết để kỷ niệm tình bạn, tình lính cùng nhạc sĩ Thanh Sơn khi ông đang ở trong quân ngũ và phục vụ ban Văn Nghệ của Quân Vận, ca khúc này được ông bán tác quyền cho trung tâm phát hành Diên Hồng và thu về được $15.000. Được biết rằng ca khúc nổi tiếng Mười Năm Tái Ngộ của nhạc sĩ Thanh Sơn cũng được viết tặng cho người bạn cùng quê và cùng chí hướng là Trường Hải.

Ca khúc tiếp theo của nhạc sĩ Trường Hải là Những Chiều Không Có Em, được ông viết cho mối tình buồn năm 17 tuổi khi ông mới học đệ nhị. Bài hát này được ca sĩ Hùng Cường hát lần đầu và trở thành một hiện tượng, đưa tên tuổi nhạc sĩ Trường Hải đến gần hơn với công chúng yêu nhạc.

Đặc biệt, ông cũng là người thực hiện những cuốn băng nhạc Trường Hải Không Chủ Đề từ trước năm 1975, cũng như đã thực hiện những cuốn băng video đầu tiên tại hải ngoại từ đầu thập niên 1980.

Sau 1975, nhạc sĩ Trường Hải kẹt lại VN và mưu sinh bằng nghề buôn bán nhạc cụ và lưu diễn hát dạo ở các tỉnh miền tây. Thời gian này, tuy cuộc sống ở VN có đôi chút khó khăn nhưng nhạc sĩ Trường Hải vẫn thường tặng đàn guitar cho những người bạn thân hữu của mình. Năm 1979 nhạc sĩ Trường Hải rời Việt Nam đến Nam Dương và sau đó định cư tại Quận Cam năm 1980. Với đầu óc và tầm nhìn kinh doanh tinh tường, chưa đầy 1 năm sau khi sang đến Hoa Kỳ, nhạc sĩ Trường Hải liền lập trung tâm băng nhạc Trường Hải hải ngoại, được coi là trung tâm nhạc sớm nhất, và cũng là nơi đầu tiên sản xuất băng nhạc video tại hải ngoại với 2 cuốn băng mang tên Không 1 và 2 rất ăn khách.

Ban Quản Trị Nhạc Vàng xin thành tâm chia buồn cùng toàn thể gia quyến nhạc sĩ Trường Hải. Và xin cầu nguyện cho linh hồn Giuse Tạ Trường Hải sớm hưởng Thánh Nhan Chúa

Phúc Ben & Nhật Hà.

Categories
1 - Văn Thầy Trò Trịnh Hoài Đức 9b - Lê-hữu-Nghĩa

Lái xe Lô Ca Chưn


199799018_249815643612932_850821268963887009_n

Các bạn ơi ,

Xin được khoe , đây là hình ảnh minh họa cho Lê-hữu-Nghĩa lúc mới ra tù “cải tạo” : lái xe lô ca chưn . Cứ coi hình là các bạn có thể biết tui phải khổ như thế nào . Phải kềm lắm mới hổng cúi xuống mà hun ẩu vô cái bản mặt yêu nữ đang ngước lên khiêu khích . Mà nếu hun bậy một cái thì còn khổ đời hơn nữa . Bởi vậy tui khổ lắm ! Rồi có khi tới chỗ cứ kéo thắng hoài mà thắng hổng chịu ăn vì kéo lộn cái cần thắng .

Các bạn biết hôn , trong thời gian “quản chế” ba năm ở địa phương thì VC cấm tù “cải tạo” mới về hổng được làm một số nghề như hớt tóc , bán vé số , chạy xích lô , bán tiệm nước…VC giải thích vì đó là những nghề có thể tiếp xúc thường xuyên với người dân để móc nối hoạt động . Mèn ơi ! Cấm kiểu đó khác gì triệt đường sinh sống của người ta vì có nghề nào mà hổng tiếp xúc với dân . Bởi vậy tui chạy xích lô cũng là chạy “lậu” , chạy lén mà thôi . Mà tui cũng đâu có tiền để sắm một chiếc xích lô . Tui phải mướn chiếc xích lô của một người trong xóm . Chủ xe là một thanh niên trẻ , cậu ta chạy buổi sáng còn tui chạy buổi chiều . Chiếc xích lô dòm tưởng cũng hễ ngồi lên rồi là đạp như xe đạp nhưng hổng phải vậy . Với chiếc xe đạp , mình muốn đạp thì đạp , muốn nghỉ chưn thì nghỉ chưn . Còn với chiếc xích lô thì khác , hai cái bàn đạp và bánh xe sau kết dính “chết” với nhau luôn . Hễ đạp thì bánh chạy và hễ bánh chạy thì bàn đạp cũng quây theo chớ hổng nghỉ chưn được . Bởi vì cái đùm bánh sau chiếc xích lô hổng có cái líp như xe đạp . Trong cái líp xe đạp có một vòng răng và hai con “chó” bằng thép . Hai con chó nầy lúc nào cũng ngóc đầu lên vì có cọng lò xo dưới bụng đẩy lên . Khi đạp tới thì hai con chó gài đầu vô bánh răng mà lôi bánh xe chạy theo . Còn khi nghỉ chưn , hoặc đạp lui chơi , thì vòng răng sẽ trợt qua đầu hai con chó gây nên tiếng kêu lách cách mà không lôi hai bàn đạp phải quây theo . Hai con chó trong cái líp xe đạp xài lâu ngày thường bị tà đầu hoặc lò xo bị yếu đi . Lúc đó mà đạp tới thì hai con chó mệt quá hổng chịu ngóc đầu nên đạp hụt giò , còn kêu là “trật con chó” . Chắc ai trong các bạn cũng từng trải qua kinh nghiệm bị “trật con chó” rồi phải hôn ? Con gái thì u mê còn con trai thì dai ế .
Trở lại chuyện đạp xích lô , tui xin kể vài mẫu chuyện “buồn vui nghề nghiệp” cho các bạn nghe nha .
1 – Lên dốc cầu .
Khi tới mấy chỗ dốc cầu người khách thường biểu ngừng xe để họ đi bộ , lên tới đỉnh cầu rồi mới leo lên xe đi tiếp . Có lần vừa tới dốc cầu chợ Lớn Mới (cầu Phạm Đình Hổ) thì trời phát mưa . Tui phải ngừng xe để kéo bạt che cho khách khỏi ướt . Còn khách là hai mẹ con bà xẩm vì trời mưa nên không thể xuống xe đi bộ được . Vậy là tui phải đội mưa mà đẩy xe lên dốc . Vừa đẩy tui vừa nghe hai mẹ con xí xô xí xào với nhau cái gì hổng biết . Khi tới nhà ở đường Phạm Văn Chí thì đứa con gái trả tiền xe và còn đưa thêm tiền tip . Hai bên đều nói lời cám ơn nhau . Người Tàu tốt bụng ha !
Lần khác tui chở một bà người Việt qua cầu ở kinh Bãi Xậy . Bà nầy hổng thèm xuống xe đi bộ qua cầu , mà tui cũng hổng tiện biểu bả xuống nên cứ lẳng lặng đẩy xe lên dốc . Có một ông đi xe đạp ngang qua thấy vậy lên tiếng :
– Đẩy bả xuống sông luôn đi .
Mấy người đi đường cười khúc khích . Tui chắc là bà khách đó cũng phải thấy quê độ và lần tới nếu có đi xích lô qua cầu thì bả sẽ nhớ mà xuống đi bô .
2 – Gặp bợm .
Có lần trên đường về nhà để nghỉ , tui định bụng là nếu khách nào tiện đường thì mới rước , còn không tiện đường thì thôi , về nghỉ . Tui đang chạy tới khu cư xá sinh viên Minh Mạng thì đột nhiên có người nhảy ra chận xe , lấy gậy đập lốp cốp vô xe và chửi :
– ĐM ! Mầy định chạy luôn không rước tao ?
Tui bị bất ngờ hổng biết chuyện gì xảy ra . Nhìn trong lề đường có vài người đứng lố nhố coi . Họ thấy tui nhìn ngơ ngác nên nói :
– Nãy giở ổng đón mà hổng ai chịu chở nên ông chận xe chú đó .
Tui hỏi ông khách :
– Anh muốn đi đâu ?
– Về đường Trương Minh Giảng .
– Tui đang trên đường về nhà . Khu đó ngược đường rồi .
Hắn sừng sộ lên , lấy gậy gõ vô càng xe lốp cốp , chỉ vô mặt tui chửi :
– ĐM ! Mầy dám hổng chở hả . Tao là thương binh đây biết hôn . Mầy không chở tao thì mầy cũng không đi khỏi đây được .
Hắn cũng chỉ trạc chừng hơn ba mươi tuổi như tui , chống gậy đi cà nhắc – hổng biết là thương binh thiệt hay giả – mà thái độ ngang tàng du côn quá xá cỡ . Tui nghĩ thôi thì ráng thêm một cuốc cũng có thêm tiền nên chịu thua hắn , biểu hắn lên xe . Khi ra tới khu đường Trương Minh Giảng hắn chỉ tui chạy lòng vòng qua mấy đường khác rồi biểu ngừng gần một trụ sở công an . Hắn nói :
– Mầy chờ đây ! Tao vô thăm bạn là Trưởng Công An chút xíu rồi đi tiếp .
Tui ngồi chờ thấy hắn cà thọt đi vô đường hẻm chớ hổng vô chỗ công an . Tui nghĩ chắc là gặp bợm muốn quịt tiến xe đây . Tui chần chờ thêm khoảng 10 phút hổng thấy hắn trở ra nên yên chí mình gặp bợm thiệt rồi nên đạp xe đi về .
3 – Gặp người đẹp .
Lần đó vừa ra khỏi nhà thì có một cô gái đứng bên lề đường ngoắc xe . Tui hỏi :
– Cô muốn đi đâu ?
– Dạ , qua bên đường Lương Văn Cang rồi chờ em vô nhà có chuyện một chút , xong trở ra đi tiếp được hôn anh ?
Tui nhớ tới thằng bợm quịt tiền , rồi nhìn người đẹp trong chiếc váy ngắn hở ngực , xẻ đùi liền quyết định :
– Được chớ ! Mời cô lên xe .
Cô gái rất đẹp , còn trẻ , chừng 20 tuổi , trang điểm và ăn mặc sang trọng nên dù có bị xí gạt nữa thì tui cũng chịu vì hai tiếng “anh , em” nghe sao muốn chết người . Cái tật dê khó bỏ . Khi cổ lên xe thì mùi nước hoa phảng phất càng làm tui ngây ngất thêm . Tui chợt nhớ tới câu nói đùa của một người cháu rể kêu tui bằng cậu vợ . Đó là Đại Úy Hải Quân Trần Văn Mười mà ở nhà kêu là ông Già Cọp vì rất nghiêm khắc và dữ như cọp đối với hai thằng con trai nhỏ . Ông Già Cọp nói :
– Cậu đạp xích lô như vậy có cực thì cũng có lời mà .
– Lời cái gì ?
– Thì người đẹp ngồi thấp phía trước , cậu ngồi sau trên cao vừa nhìn được , vừa hít mùi thơm được .
Đúng là bữa đó tui vừa nhìn vừa hít mùi thơm . Nhưng người đẹp bữa đó hổng có gạt tiền tui . Mà khi ngồi trên xe cổ còn nói chuyện rất vui , hoạt bát . Cổ nói cổ là em của một cô diễn viên khá nổi tiếng thời đó . Và cổ cũng đang tập làm diễn viên . Nhưng bây giờ tui cũng quên cổ tên gì và người chị diễn viên tên gì . Sau khi qua bên đường Lương Văn Cang rồi trở ra Sài Gòn về nhà cổ ở bên Quận 4 . Khi xuống xe cổ hỏi tui :
– Anh tính bao nhiêu tiền vậy ?
Trước người đẹp tui bèn hào phóng :
– Cô đưa bao nhiêu cũng được .
Vậy là người đẹp trả tui 90$ . Hai bên cám ơn nhau rồi cổ vô nhà , tui quay xe .

Mèn ơi ! Cũng tại cái tật dê . Nếu tính theo quãng đường dài và thời gian chờ đợi thì giá cũng phải cỡ 150$ . Bây giờ chỉ được có 90$ . Thôi thì dê làm sư phụ chịu . Mai mốt mà gặp nữa thì cũng vậy nữa thôi .

LHN

Trở về => Truyện Ngắn Lê-hữu-Nghĩa

Đọc thêm :

Thơ Lê Hữu Nghĩa

Nhạc Lê-hữu-Nghĩa & Con Gà Què

HOME

Categories
Sưu Tầm 1

Sự tích bài thơ lá Diêu Bông & Hoàng Cầm


ladieubong

Hoàng Cầm 

“Bài thơ “Lá diêu bông” tôi viết về một câu chuyện có thật, câu chuyện về mối tình đầu tiên trong đời tôi. Vào một đêm năm 1959, khoảng 3 giờ sáng, tôi chợt tỉnh giấc rồi thao thức không ngủ lại được. 

Căn nhà ở phố Lý Quốc Sư nằm sâu phía trong, lại thêm thuở ấy ban đêm không có tiếng xe tiếng còi ầm ĩ như bây giờ, nên đêm khuya càng thêm thanh vắng. Chợt tôi thấy lóe trong đầu văng vẳng mấy câu thơ do một người đàn bà đọc bằng giọng lanh lảnh: Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng… Tôi lấy ngay cây bút chì và tập giấy luôn để sẵn trên đầu giường ghi lại. Rồi từng mẩu ký ức cứ hiện lên trong đầu tôi, hình ảnh người đàn bà, người Chị năm xưa cứ rõ nét dần để đi trọn hết bài thơ. Tôi nhớ đâu hồi lên 4 tuổi, cha mẹ tôi từ làng quê chuyển lên sống ở một phố nhỏ dọc đường quốc lộ. Gọi là phố nhưng thực ra chỉ có khoảng 14, 15 ngôi nhà dựng dọc hai bên đường, cách thị xã Bắc Giang chừng 6 cây số.
Nhà tôi quay về hướng tây, phía trước là đường cái, sau nhà có một mảnh vườn nhỏ có hàng rào dâm bụt, tiếp đấy là đường xe lửa. Người trong phố làm các nghề thợ may, cắt tóc. Cha tôi có tủ thuốc bắc và gánh hàng xén của mẹ.
Lên 5, cha tôi đã cho tôi đến trường, cách nhà chừng 2 cây số. Nhưng đi học xa, dọc đường hay bị trẻ chăn trâu bắt nạt, vì vậy năm sau ông gửi tôi lên tỉnh học. Lên 6 tôi đã đọc thông viết thạo, lại thêm võ vẽ chữ Pháp, nên được nhận vào trường công ở thị xã Bắc Giang. 

Tôi được gửi ở nhà thầy ký ga Núi Tiết. Mỗi chiều thứ bảy, tôi đi thẳng từ trường ra sân ga lấy vé, đi tàu mất 10 phút là về đến ga gần nhà. Thuở ấy đi tàu dễ dàng nên trẻ con đi một mình cũng không sợ. Cuộc đời của một thằng bé cứ lặng lẽ trôi nếu không có một biến đổi về tình cảm mà dấu ấn của nó sẽ để lại trong lòng tôi nhiều cảm nghĩ đến tận sau này.
Năm đó tôi lên 10, đã học đến lớp ba (cour élémentaire). Một buổi chiều thứ bảy, tôi về nhà như thường lệ. Ðang dừng lại ngoài sân nhìn vào trong nhà, tôi thấy có một người đàn bà đang cúi xuống bồ hàng xén của mẹ tôi chọn mua một cái gì đó. 

Chị mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy bừng lên một khuôn mặt khiến tôi choáng váng cả người.
Không hiểu cái máu đa tình có từ bao giờ, mà chỉ mới lên chín lên mười, tôi đã bị khuôn mặt đó làm cho tôi ngơ ngẩn suốt buổi chiều. Mua hàng xong chị ra về, khi đi ngang qua tôi trông theo, thì biết chị là người hàng xóm, ở ngôi nhà ngay bên kia đường hơi xế cửa nhà tôi. 

Hỏi mẹ thì biết gia đình nhà đó mới dọn về, có ba mẹ con, chị là con gái lớn, còn một cậu em trai nhỏ. Thảo nào tuần trước tôi về chưa gặp. Tên chị là Vinh. Cả ngày chủ nhật hôm sau, tôi cứ ngong ngóng nhìn sang nhà đàng trước, chờ xem chị có xuất hiện không. Ðến sáng thứ hai tôi lại quay trở về thị xã.

Lá Diêu Bông

Về đến Bắc Giang, tôi làm ngay một bài thơ gửi chị, theo thể lục bát. Hồi đó tuy chưa học niêm luật, nhưng tôi đã biết làm thơ lục bát. Nguyên tôi trọ học ở nhà ông ký ga, buổi tối nhà chủ thường tập trung các bà ,các chị trong xóm đến làm hàng xáo. 

Buổi tối khoảng 9 giờ học xong, trước khi đi ngủ, các bà các chị thường gọi tôi xuống nhà dưới đọc truyện cho mọi người nghe, trong khi họ đang giần sàng thóc gạo. Mỗi tối tôi đọc chừng một tiếng rồi đi ngủ, các bà thường thù lao, khi thì bát chè, khi thì phong kẹo. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi được đọc hết mọi truyện thơ dân gian, từ Phạm Công Cúc Hoa, đến Nhị độ mai, rồi Hoàng Trừu…
Tôi có giọng tốt, lại biết ngâm nga, nên được các bà tín nhiệm, và cũng vì vậy mà thơ lục bát cứ ngấm vào người tôi, không cần học cũng biết cách gieo vần.
Tôi chép bài thơ vào tờ giấy học sinh. Trang đầu chép bốn câu có vẽ hoa bướm, trang sau chép nốt bài. Tôi không còn nhớ bài thơ tình đầu tiên đó viết những gì. Chỉ nhớ là tôi nắn nót viết lên đầu trang giấy dòng chữ “Em gửi chị Vinh của em”. 

Tôi bỏ thơ vào phong bì, chờ hôm về nhà, tìm gặp chị trao tận tay nói: “Em gửi chị cái này.” Chị không mở ra xem, chỉ mỉm cười hơi bí mật rồi bỏ vào túi, không nói gì. Sau đó chị không nhắc đến bài thơ đó, và tôi cũng không hỏi lại.
Từ đấy tôi không chỉ về nhà chiều thứ bảy, mà ngày thứ năm được nghỉ, tôi về cả chiều thứ tư. Mục đích là để được gặp chị. Ngày nghỉ, hễ thấy chị đi đâu là tôi đi theo đấy, đôi khi chị thấy tôi đi theo thì đưa tay dắt. 

Mỗi khi chị ôm chiếu ra sông giặt, tôi lại lẽo đẽo đi theo, ngồi trên bờ nhìn chị cúi khom mình giặt chiếu ven sông. Tình yêu tôi dành cho chị chỉ có thế, nhưng nó cứ đeo đẳng tôi hết năm này sang năm khác. Tôi càng lớn thì tình yêu đó càng thêm đằm thắm, nhưng tôi chưa biết làm thế nào để bày tỏ mối tình của mình.

9-la-dieu-bong-1

Lên 12 tuổi, những đêm sáng trăng, chị Vinh thường tập hợp trẻ em từ 10 đến 15 tuổi cả trai lẫn gái, tụ tập trên bãi cỏ sau ga để tập hát. Chị Vinh có giọng ca tốt, thường cùng một vài chị trong xóm hát Quan họ. Chúng tôi được chị dạy hát đủ loại dân ca như Trống quân, Cò lả…
Mỗi khi đứng hát, tôi thường chen vào đứng cạnh chị, có khi tôi đứng trước chị, đầu tôi vừa đúng ngang tầm ngực của chị. Có khi chị ôm lấy vai tôi, tôi hơi ngả đầu vào người chị, chị khe khẽ vuốt cổ xoa lên hai vai tôi. 

Tôi có một cảm giác là lạ, đó là những giờ phút say sưa nhất của tôi. Những đêm tháng chín tháng mười, trời hơi se lạnh, đứng dưới gốc cây trên bãi cỏ, tôi được hơi ấm từ người chị truyền sang.
Hình như chị cũng cảm thấy sự ham muốn của tôi. Mặc dù lúc đó tôi còn bé, nhưng là một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lại có đi học, khác hẳn với những đứa trẻ khác trong xóm. Ðược chị ôm trong lòng, nhưng tôi chưa bao giờ dám chủ động ôm người chị.
Lần ấy, trong dịp lễ Noel, tôi được nghỉ mấy ngày. Ðang đứng ở sân, tôi chợt thấy chị Vinh bỏ cửa hàng đi ra cánh đồng. Tôi vội đi theo. Thấy chị rẽ xuống ruộng, bới các bụi cây ven bờ ruộng. Tôi cũng nhảy xuống theo, không biết chị có nhìn thấy tôi hay không. Chợt chị ngẩng lên hỏi: “Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng như thế này nhỉ?” Tôi không trả lời, nhưng thấy sung sướng vì đã được chị chú ý tới.
Rồi chị tiếp tục cúi xuống tìm, cuối cùng bước lên trên một cái gò nhỏ có nhiều bụi cây dại. Tôi hỏi chị tìm cái gì. Chị dừng lại thẳng người lên, nhìn vào mắt tôi nói: “Chị tìm cái lá…” (tôi không nhớ là chị gọi cái lá gì nữa). Rồi chị tiếp lời: “Ðứa nào tìm được ta gọi làm chồng…” 

Nghe câu nói đó, tôi cảm thấy sung sướng vô cùng, người nóng ran lên. Tôi nghĩ đó là một cái lá gì kỳ diệu lắm, có thể dùng làm thuốc, hoặc dùng đắp lên mặt như các cô gái hồi đó thường làm.
Tôi cảm thấy giữa chị và tôi có một tình yêu mãnh liệt. Mà tình yêu đó giống như tình yêu tôi dành cho mẹ. Tôi không có chị gái, vì vậy đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy một tình yêu đối với người chị.
Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện đi tìm lá của chị Vinh hiện lại trong bài thơ mà tôi đặt cho cái tên là “Lá diêu bông.”
Chị thẩn thơ đi tìmÐồng chiềucuống rạChị bảo- Ðứa nào tìm được lá Diêu BôngTừ nay ta gọi là chồng…
Một tuần sau, khi tôi từ trên tỉnh trở về, nhìn sang trước nhà thấy cửa đóng im ỉm. Tôi vội hỏi mẹ nhà đó đi đâu rồi. Mẹ tôi trả lời, trong giọng nói như có nước mắt: “Nó đi lấy chồng rồi con ạ.” Tôi òa lên khóc, gục đầu vào lòng mẹ. 

Không biết mẹ tôi có biết mối tình của tôi đối với chị Vinh không, mà sao mẹ lại nói bằng giọng nghẹn ngào? Khi đó cha tôi vừa về, tôi vội lau nước mắt, không dám để cho cha nhìn thấy. Về sau mẹ kể cho tôi biết có một ông Quản khố xanh đi qua đây, trông thấy chị đã mê vì nhan sắc. Chị bằng lòng lấy lẽ, ông Quản đưa cả mấy mẹ con về Phủ Lý quê ông. Từ đấy tôi không gặp chị nữa.

dieu3

Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đấy. Năm đó tôi đã 17 tuổi, vừa thi đỗ tú tài xong, đang sống ở Hà Nội. Nhân ngày nghỉ, có một người bạn ở Sen Hồ có người anh cưới vợ, đã rủ tôi về nhà chơi, luôn tiện ăn cỗ cưới. Cỗ bàn xong, chiều hôm đó tôi dạo ra phố Sen Hồ chờ tàu về Bắc Giang. Lúc đó tôi đã viết báo nên cũng có tiền. Tôi mặc bộ complet, thắt ca vát, đầu đội mũ phớt, ra dáng người dân chốn thị thành.
Ðang thả bộ đi dọc phố, chợt nghe có tiếng gọi: “Cậu Việt ơi!” Nghe giọng quen quen, tôi nhìn sang bên kia đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một cái chõng bán nước chè. Tôi bước sang đường, chị Vinh mừng rỡ chạy ra, đặt hai tay lên vai tôi rồi kéo vào nhà nói chuyện.
Bà mẹ đã già nhưng còn nhớ tôi, hỏi thăm cha mẹ tôi. Một lát sau bà bảo bà có việc phải đi vào làng, tối có thể không về, cậu cứ ở lại xơi cơm. Cậu em đã lớn cũng theo mẹ đi. Hình như cả hai đều biết giữa tôi và chị Vinh còn có nhiều điều muốn nói với nhau.
Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra. Chị kể cho tôi biết tình cảnh của chị sau khi lấy chồng. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Mấy mẹ con chị về Phủ Lý cũng vẫn tiếp tục buôn bán làm ăn. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo người khác. Cuối cùng ông đã đuổi mấy mẹ con đi. Gia đình chị không muốn trở về chốn cũ, nên đưa nhau về Sen Hồ.
Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai. Bảy tám năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh của chị năm tôi lên 10 vẫn còn đọng mãi trong tôi.
Ngày cưới ChịEm tìm thấy láChị cười xe chỉ ấm trôn kim.
Và cảm giác khi đánh mất chị như vẫn còn đi suốt đời thơ tôi:
Từ thuở ấyEm cầm chiếc láđi đầu non cuối bểGió quê vi vút gọiDiêu Bông hời!…… ới diêu bông!…”
Hoàng Cầm (17-9-2004)

1100506065657Nhà thơ Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm TÁC GIẢ LÁ DIÊU BÔNG

*** 

NHÀ bên sông Đuống – Bắc Ninh 
THƠ hay cũng lắm đa tình là ông 
HOÀNG hôn kiếm lá diêu bông 
CẦM chưa tìm thấy, theo chồng chị đi 
Bút Tre Nguyễn Đình Trình 

Categories
6 - Trang lượm lặt

Sự ra đời của Insulin


197106015_1790844981122144_6661221589501302631_n

Năm 1922, các nhà khoa học tiến vào một khu chăm sóc những đứa trẻ sắp chết, tất cả đều bị hôn mê do nhiễm toan ceton biến chứng của bịnh đái tháo đường. Họ tiêm một loại thuốc mới (insulin) cho chúng trong khi gia đình các bịnh nhân đau buồn nghĩ đến cái chết của con em họ. Nhưng như có phép màu, trước khi họ tiêm cho bịnh nhân cuối cùng trong khu, thì người đầu tiên tỉnh dậy.

Để tưởng nhớ công lao của bác sĩ Frederick Banting, người đã cùng Charles Best đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra insulin, một phương pháp điều trị cứu sống bệnh nhân đái tháo đường vào năm 1922 người ta lấy ngày sinh của ông 14.11 làm Ngày Đái tháo đường Thế giới (World Diabetes Day)

Bác sĩ Frederick Banting sinh ngày 14.11.1891 tại Alliston, Ontario, Canada. Ông theo học tại trường đại học Toronto. Năm 1915, ông vào quân y và trở thành người chỉ huy, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất ông thực tập y khoa ở London (Anh), Ontario (Canada). Từ năm 1921 đến năm 1922, ông làm việc tại trường đại học Toronto trong phòng thí nghiệm của nhà sinh lý học người Scotland là John Macleod và cộng sự người Canada Charler Best. Banting đã khám phá ra Insulin, năm 1923, ông được trao giải thưởng Nobel về y-sinh lý học cùng với nhà sinh lý học Macleod.
Thực sự nhóm nghiên cứu đến bốn người, Banting và Best chia nhau nửa giải còn, Macleod và nhà hóa học Jame Bertramcllip (người đã giúp Macleod làm tinh khiết Insulin) cùng chia nửa giải. Năm 1923 trường đại học thành lập khoa nghiên cứu y khoa, Banting được bổ nhiệm làm trưởng khoa. Năm 1934 ông được hoàng gia Anh phong tước hiệp sĩ, đây là đỉnh cao sự nghiệp của ông.

Banting mất năm 1941 do nổ máy bay trên đường từ Canada qua Anh đang có chiến tranh, hưởng thọ 50 tuổi.

(Sưu tầm)

Categories
6 - Trang lượm lặt

“MỘT THẾ HỆ ĐANG DẦN BIẾN MẤT”


Một hôm, con gái hỏi tôi.
– “ Mẹ ơi, con không hiểu ngày xưa mẹ và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động?”
Tôi trả lời:
– Thế hệ mẹ, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:
– Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
– Sau giờ học, không ai đi học thêm, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
– Không ai ôm tivi, điện thoại, iPad từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet.
– Nếu như khát, bọn mẹ uống luôn nước ở bất cứ đâu được cho là sạch, chứ không phải nước ngọt đóng chai.
– Bọn mẹ ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 gáo nước. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền từ thầy lang hoặc trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
– Bọn mẹ không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng cơm, rau và bất cứ thứ gì có thể ăn được… Chỉ cần no…
– Bọn mẹ chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy như đất sét, lá cây, que củi thậm chí là mảnh vỏ chai… và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
– Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.
– Ngày xưa bọn mẹ đã có thể tự chăm sóc bản thân mình từ bé, không ỷ lại ông bà hay người lớn, 10 tuổi đã biết làm hết những công việc trong nhà để đỡ đần ông bà và những người lớn, thậm chí nấu cơm, giặt đồ, chăn trâu, cắt cỏ, lấy rau ngoài đồng về cho lợn ăn…
– Ngày xưa, bọn mẹ chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn mẹ có những người bạn thực sự, là khi:
– Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
– Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…
– Thế hệ mẹ không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chôn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
– Bọn mẹ không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram…
– Thế hệ mẹ ,có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái luôn chỉ cúi đầu nghe lời cha mẹ.
– Thế hệ mẹ, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.
– Thế hệ mẹ không cần biết tới những thứ xa hoa con nói nhưng con thấy đó, họ vẫn sống tốt, vẫn cống hiến cho xã hội, vẫn nuôi dậy các con lên người. Thế hệ nào cũng vậy đáng sợ nhất là không biết đến xã hội bên ngoài, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.
– Thế hệ mẹ là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý… Hãy tranh thủ thời gian quý giá thay vì smart phone, ipad, máy tính… để có thời gian chất lượng bên cha mẹ… Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con.

Nguồn : Sưu tầm

Categories
1 - TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 5 - Thơ GS Hồ Xưa (Hồ Nguyễn) Thơ Con Gà Què 2

NHÌN Và những bài họa


KHÓC

NHÌN

Nhìn một mắt thôi cũng đủ rồi,
Nhìn hai thấy hết những tanh hôi …
Nhìn người tối xám như tro bám,
Nhìn mãi nhìn hoài cũng thế thôi !
CGQ Azalea
Đọc thêm => Thơ Con Gà Què Azalea

Họa :
Đứng một giò thôi cũng vững rồi
Cần gì hai cẳng lôi tờ hôi
Đứng lâu có mỏi thì nằm nghỉ
Một cẳng , hai giò cũng vậy thôi .
LHN
Đọc thêm => Thơ Lê-hữu-Nghĩa

HỌA Ý: NHÌN RÕ NÓI ĐÚNG
Mắt nhìn chỉ một đủ tiêu rồi,
Lại phán cho người lấy tiếng hôi.
Xét ám tô tro nghe tội quá!
Nghĩ sai suy trái khổ mình thôi.
Bình tâm nhận định tìm ra thật,
Vội vã qui cho lệch góc đời.
Lời quí như son vàng rán giữ,
Lắng tai mắt tỏ trọng trao lời.
HỒ NGUYỄN (11-3-2020)
Đọc thêm => Thơ Thầy Hồ Nguyễn

Trở về =>  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 4 

Categories
6 - Trang lượm lặt

NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS: CHO DÙ BẠN CHỌN GHẾ HẠNG NHẤT HAY HẠNG PHỔ THÔNG THÌ KHI MÁY BAY HẠ CÁNH, BẠN CŨNG PHẢI BƯỚC XUỐNG !


197614312_1136113466914496_3045538558404827841_n

Trên mạng xã hội nhiều ngày nay, rất nhiều người lan truyền bức thư của Steve Jobs trước khi mất.

Cha đẻ của Apple đã qua đời vào năm 2011 vì căn bệnh ung thư tuyến tụy khi ông 56 tuổi.

“Tôi đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của người khác, cuộc sống của tôi là một mẫu mực của sự thành công.

Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui. Cuối cùng, sự giàu có chỉ là một thực tế của cuộc sống mà tôi phải làm quen với nó.

Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhớ lại toàn bộ cuộc sống của tôi, tôi nhận ra rằng tất cả các công nhận và sự giàu có mà tôi mất rất nhiều nhiều năm tháng tuổi trẻ để có niềm tự hào đó, đã dần và trở nên vô nghĩa khi đối mặt với cái chết sắp xảy ra.

Bạn có thể thuê ai đó làm người lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn, nhưng bạn không thể có một người nào đó phải chịu bệnh tật cho bạn.

Vật chất bị mất có thể được tìm thấy. Nhưng có một điều mà không bao giờ có thể được tìm thấy khi nó bị mất – “CUỘC ĐỜI BẠN”.

Khi một người đi vào phòng mổ, anh sẽ nhận ra rằng có một cuốn sách mà anh ta vẫn chưa hoàn thành việc đọc – “CUỐN SÁCH SỨC KHỎE CỦA CUỘC SỐNG ĐÃ BAN”.

Cho dù giai đoạn trong cuộc đời chúng ta đang ở có huy hoàng tới mức nào, với sự tàn phá của thời gian, chúng ta sẽ phải đối mặt với những ngày đi xuống trầm trọng.

Hãy trân trọng tình yêu cho gia đình bạn, tình yêu dành cho người bạn đời của bạn, tình yêu cho bạn bè…

Hãy đối xử tốt với bản thân. Hãy trân trọng những người khác.Khi chúng ta già đi, cũng là lúc chúng ta trở nên khôn ngoan hơn với cuộc đời, từ đó mà dễ dàng nhận ra:

Một chiếc đồng hồ mệnh giá 300 USD hay 30 USD thì suy cho cùng, kim giờ kim phút cũng chỉ cùng một thời gian.

Một chiếc túi xách mệnh giá 300 USD hay 30 USD thì suy cho cùng, số tiền bên trong đều có cùng giá trị như nhau.

Một chiếc xe ô tô mệnh giá 150.000 USD hay 30.000 USD thì suy cho cùng, con đường, khoảng cách và địa điểm cuối cùng chúng ta đi đều giống nhau.

Một chai rượu vang mệnh giá 300 USD hay 10 USD thì suy cho cùng, say rượu vẫn chỉ là đau đầu và nôn mửa.

Một ngôi nhà rộng 300 hay 300 mét vuông thì suy cho cùng, nỗi cô đơn có thế nào vẫn cứ tồn tại.

Một lúc nào đó, bạn sẽ nhận ra hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất.

Cho dù bạn chọn ghế hạng nhất hay hạng phổ thông thì khi máy bay hạ cánh, bạn cũng phải bước xuống.

Vì vậy, tôi hi vọng bạn nhận ra khi nào bạn còn có bạn bè, người thân bên cạnh để cùng trò chuyện, nói cười, vui vẻ đàn hát với nhau, tám đủ thứ trên trời dưới biển… thì lúc ấy là lúc hạnh phúc thực sự.

Năm sự thật bắt buộc phải chấp nhận trong cuộc sống:

1. Đừng giáo dục con trẻ phải trở nên giàu có trong tương lai. Hãy dạy chúng cách để luôn hạnh phúc. Như vậy, khi lớn lên, chúng sẽ biết được giá trị thật của từng thứ không phải dựa trên mệnh giá đồng tiền.

2. Đừng nhịn ăn. Hãy ăn như thể đó là thứ thuốc quý giá nhất dành cho cơ thể bạn. Nếu không, bạn sẽ thật sự phải “ăn” thuốc như ăn thức ăn vậy.

3. Người thực sự yêu thương bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn dù ở bất kì hoàn cảnh nào hay dù bạn có nói 100 lý do để họ từ bỏ bạn đến thế nào đi chăng nữa.

4. Khác biệt giữa con người và làm người là rất lớn. Nhưng không phải ai cũng hiểu được.

5. Khi bạn sinh ra, chắc chắn bạn nhận được tình yêu thương. Khi bạn chết đi, có thể bạn sẽ nhận được tình yêu thương. Giữa khoảng thời gian đó, bạn phải biết cách xoay sở làm sao để biết cách sống.

Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nhưng nếu muốn đi xa, hãy đi cùng nhau.

Sáu bác sĩ tốt nhất trên thế giới:

1. Ánh nắng

2. Nghỉ ngơi

3. Tập thể dục

4. Chế độ ăn

5. Tự tin

6. Bạn bè

Hãy ghi nhớ những điều này thật kĩ để có một cuộc sống tốt hơn.

Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với bạn.”

(Sưu tầm)

Categories
6 - Trang lượm lặt

SỰ KINH TỞM CỦA PHẬT GIÁO THỜI NAY!


193913058_1787997548073554_7776353702076180281_n

 
– Có những ngôi Chùa được dựng lên sau sự tàn phá cả trăm herta núi rừng, cây gỗ hàng trăm năm tuổi. Muông thú mất nơi trú ngụ.
– Có những thằng Sư chỉ biết xúi bậy Phật tử cúng dường mà quên nhắc tới những mảnh đời nghèo khó cần giúp đỡ.
– Có những thằng Sư chỉ quan hệ với Cán bộ Đảng viên lắm của nhiều tiền. Rồi coi khinh người nghèo như cỏ rác.
– Có những thằng Sư, Phật tử “ khôn ngoan “ lấy việc bố thí từ thiện cho người nghèo để làm bình phong, đạo Đức giả. Nhưng cái Tâm, Thiện,Mỹ không hề có.
– Có những Phật tử hôm trước làm bao điều trộm cướp, đĩ điếm. Rồi hôm sau đi Chùa cho .. khuây khỏa.
– Có những Phật tử ăn ở thất đức, cướp của người nghèo để làm giàu. Rồi hàng ngày cúng Phật để sám hối.
– Có những Phật tử cúng lên Chùa cả trăm triệu đồng mỗi năm. Nhưng tuyệt nhiên ngoảnh mặt với những người nghèo khó.
– Có những Phật tử sống theo thuyết “ không nghe – không thấy – không nhìn “ trước sự nghèo khổ, thối nát & bất công ngoài xã hội.
– Có những Phật tử ăn ở bất hiếu với Cha Mẹ. Thế rồi khi Cha Mẹ chết lại cúng mâm cao cỗ đầy để mong họ phù hộ làm ăn phát tài.
* A di đà Phật ! Mong Phật hiểu cho con khi con viết những dòng này. Con không hề muốn gây khẩu nghiệp,xúc phạm tới Phật và những Phật tử chân chính khác. Mục đích của con chỉ mong mọi người hiểu đâu là Thiện – Ác . Con mong Phật tử, Chúng sinh nên hoà hợp. Những điều Chân- Thiện – Mỹ ở khắp nơi.
Từ Đức Minh.
Categories
1 - TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 5 - Thơ GS Hồ Xưa (Hồ Nguyễn) 8 - Thơ Lê-hữu-Nghĩa 9 - Thơ Trần Đông Thành Thơ Con Gà Què 2

Kính họa bài thơ : ĐÈO BA DỘI của nữ sĩ Hồ Xuân Hương


Đèo Ba Dội là một địa danh nằm trong vùng nhất bách lục sơn tức là 106 quả núi trùng điệp, nơi tiếp giáp giữa 2 tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình.
Bài xướng này nếu đã được làm bởi những người vô danh tiểu tốt như chúng ta, mọi người sẽ cho là nó bị sai niêm luật…Tuy nhiên, vì nó đã được viết ra từ Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương, nó lại được coi là PHÁ CÁCH, vì người đời cho rằng bà đã cố tình viết sai như vậy để làm tăng thêm giá trị của bài thơ ! (CGQ)

ĐÈO BA DỘI
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét, tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì, lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông, cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu, giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Hồ Xuân Hương

Bài họa 1 : HAM TRÈO ĐÈO
1- Lô nhô dưới hốc một con đèo,
Sâu thẳm ghê hồn vẫn muốn leo.
Loét khoét hang tung văng nước bọt,
Um tùm meo mốc mọc rong rêu.
Gió ru cành ngã đưa thân đón,
Sương rỉ lá chào hứng giọt gieo.
Nam tử gồng lưng nghe ớn lạnh,
Mà sao thích thú mãi ham trèo.

2- Hốc hác đưa tay cố níu đèo,
Đèo cao sao vẫn hứng tìm leo.
Leo mòn sức mỏn chồi cây héo,
Héo hắt thân tàn hố mọc rêu.
Rêu rạch phủ đầy hang gió né,
Né cây cỏ phủ đậm nguồn gieo.
Gieo dòng hứng thú đìu hiu vóc,
Vóc dáng khô khan cũng thích trèo.
HỒ NGUYỄN (28-5-2021)

Bài họa 2 : ĐÈO ĐÀ LẠT
Khách du Đà Lạt phải qua đèo
Rừng núi chập chùng rậm cỏ leo
Sừng sững đồi non khe mỏm đá
Sầm sầm sơn thạch đổ gành rêu
Hiu hiu gió lộng trên đường vắng
Lành lạnh sương rơi nhạt nắng gieo
Lữ khách qua đây giây hứng thú
Lâng lâng cảm giác nghĩ mình trèo
Trần Đông Thành

Bài họa 3 : HAM TRÈO ĐÈO
Cố đeo nẻo đó để qua đèo
Tay chống chân chòi bám đá leo
Khe suối sương rơi chèm nhẹp cỏ
Mép đường nước đọng ướt nhèm rêu
Toòng teng vạt áo đâu thèm kéo
Lơ lửng lưng quần đố dám gieo
Sụm gối còn mê luôn muốn thử
Oải gân hễ thấy vẫn ham trèo
Cóc Chát LHN.

Bài họa 4 : ĐÈO KHÔNG TÊN
Điêu gia khéo tạc bức tranh đèo
Lơ lửng kỳ quan dốc đá leo
Vách núi lom khom nằm xếp nếp
Cỏ non mũm mĩm mọc nhung rêu
Mưa đêm dấy động trăng thôn dã
Sấm chớp chập chờn thảm cỏ gieo
Thám tử không sờn lòng trẩy hội
Từng hồi vật vã thú vui trèo
Thằng Ngợm TĐT

Bài họa 5 : CỤ MUỐN TRÈO ĐÈO !
Cụ ông chợt nhắc chuyện qua đèo,
Đâu sợ gối què cứ muốn leo !
Mặc kệ thân già mềm tựa bún,
Lại còn xác lão mốc như rêu !
Đá ghềnh trơn trợt không lo té,
Cây cỏ um tùm chẳng ngại gieo !
Mắt mũi hom hem gà hóa cuốc,
Đã gần xuống lỗ vẫn mê trèo !
Con Gà Què Azalea

Trở về => Đầu TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 4 –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 3   –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 2 – TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 1  –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA  –

Đọc thêm => Thơ Con Gà Què Azalea  –   Thơ Trần Đông Thành  – Thơ Nguyễn Cang – Thơ Thầy Hồ Nguyễn –Thơ Lê Hữu Nghĩa – Thơ Hương Lệ Oanh –  Thơ Nhiều Tác Giả

HOME

Categories
Sưu Tầm

Xướng ca vô loài


Xướng ca vô loài

Quan niệm “xướng ca vô loài” dưới chế độ phong kiến bắt nguồn từ đâu và ảnh hưởng đến xã hội như thế nào?

– Dưới thời phong kiến, “xướng ca vô loài” là cụm từ ám chỉ những người làm nghề ca hát với nghĩa khinh bỉ, miệt thị.

Nhà nghiên cứu Toan Ánh trong Phong tục Việt Nam (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.429) cho rằng “vô loài” liên quan tới quan niệm “vô luân” của người xưa như sau:

“Xã hội ta xưa quan niệm lũ xướng ca vô loài là một tầng lớp vô luân. Họ bị coi là vô luân không phải vì họ sa đọa, chính sự sống của họ cũng không phải là sa đọa, mà chỉ vì những vai trò của họ đóng khi xướng hát: họ bị coi là vô luân ở đây vì người con có thể đóng một vai vua và người cha đóng vai bầy tôi quỳ lạy, anh em ruột có thể đóng đôi vợ chồng, và vợ chồng lại có thể đóng vai mẹ con hoặc cha con… Tất cả cái vô luân là ở đây, ở đấy luân thường đã không còn nữa, mặc dầu chỉ trong những lúc trình diễn”.

Tác giả Thanh Thủy trong bài viết Nguồn gốc của định kiến “xướng ca vô loài” thì cho thành ngữ này có xuất xứ từ Trung Quốc qua câu chuyện dưới đây:

Theo sử cổ Trung Hoa, Nhà Thương (1766 – 1402 TCN) về sau đổi thành Nhà Ân (1401 – 1123 TCN) với vị vua cuối cùng là Trụ Vương bị một bộ tộc khác là Nhà Châu, một nước chư hầu, lật đổ sau 643 năm trị vì thiên hạ. Dĩ nhiên, con dân Nhà Thương (Ân) phải ôm một mối hận nhà tan và mối nhục mất nước, trong khi đó thì nhóm đàn bà con gái trong làng ca nhi của Nhà Thương, vì miếng ăn, manh áo, cùng nhau tụ tập ở các tửu điếm bên sông Tần Hoài, dùng lời ca, tiếng hát của mình để phục vụ cho quan quân và người của chế độ mới (tức là người của bộ tộc Nhà Châu) mà quên đi nỗi nhục nước mất, nhà tan của mình.

Làng ca nhi nầy của Nhà Thương đã làm ô nhục cho đất nước họ, một mối nhục muôn đời không gội rửa được, có lẽ vì thế mà người của Nhà Thương đã loại bỏ loại người hành nghề xướng ca nầy ra ngoài lề xã hội sinh hoạt của họ. Việc làm ô nhục của giới ca nhi nầy đã bị người đời mỉa mai, khinh bỉ. Gần 2 ngàn năm sau, đến đời Nhà Đường (618 – 907 sau Công Nguyên), thi hào Đỗ Mục đã phải viết lên bài thơ Bạc Tần Hoài, được Lệ Thần Trần Trọng Kim dịch như sau:

Khói lồng nước bóng trăng lồng cát
Bến Tần Hoài thuyền sát tửu gia
Gái ca đâu nghĩ nước nhà
Cách sông vẫn hát khúc ca Hậu Đình

Trong đó, nguyên văn chữ Hán của hai câu sau đã được người đời nhắc nhở: Thương nữ bất tri vong quốc hận/ Cách giang do xướng Hậu Đình hoa.

Theo chúng tôi, “xướng ca vô loài” có xuất xứ từ Việt Nam, bởi người Việt theo luân lý Nho giáo, có cái nhìn rất khắt khe đối với sự “vô luân”, “vô loài” của các “bọn phường chèo” hay “con hát” ngày xưa, như nhận định của Toan Ánh. Việt Nam đã từng có nhiều nhân vật nổi tiếng bị gian truân vì quan điểm khắt khe, cổ hủ ấy. Trong đó, nổi tiếng nhất là trường hợp Đào Duy Từ (1572 – 1634) vì có cha làm nghề ca hát, nên ông không được đi thi để ra làm quan dưới triều vua Lê – chúa Trịnh.

(Sưu tầm)

Categories
1 - TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 5 - Thơ GS Hồ Xưa (Hồ Nguyễn) 9 - Thơ Trần Đông Thành Thơ Con Gà Què 2

TÌNH THI HỮU và những bài thơ họa


TÌNH THI HỮU

Trời đất u buồn nhớ bạn thơ,
Mây đen phủ kín bóng tây mờ.
Đem vần kết nối âm dào dạt,
Gởi vận giao hòa ý thoáng mơ.
Gọi gió tiếp thu cung chuyển lối,
Kêu chim phụ lực mạch se tơ.
Tình thương thi hữu xa mà cận,
Chia sẻ suy tư chẳng đợi chờ.
HỒ NGUYỄN (16-4-2021)

Họa 1 : TÌNH THƠ

Xướng rồi họa chỉ mấy bài thơ,
Mà cớ sao hồn trí mập mờ.
Từng phút ngẩn ngơ trong xứ mộng,
Cả ngày lẩn thẩn ngoài vườn mơ.
Khép đời người lại bên gian bếp,
Mở kiếp tằm ra cạnh kén tơ.
Ai biết lòng còn như trước nữa,
Vấn vương chi mãi để trông chờ ?!
Con Gà Què Azalea

HỌA 2 : NGƯỜI TÌNH TRONG THƠ

Khi buồn đứt ruột lại làm thơ,
Tả cảnh tả người đã đợi chờ.
Đếm mấy thu rồi lòng khắc khoải,
Nhớ em gái nhỏ hiện trong mơ.
Nghi lòng vương vấn bao trăn trở,
Thi phú thì thầm mộng tóc tơ.
Trút mấy tình sâu thơ mộc mạc,
Tròn vần trọn chữ để mong chờ.
XCQ

Họa 3 : TRI KỶ NÀNG THƠ
Giải trí còn gì chỉ biết thơ
Thân già lọm khọm mắt mây mờ
Trưa về lượm lặt từng tư tưởng
Tối đến suy tư cả mộng mơ
Lảng tránh lòng sầu đông chất chứa
Soi gương Lý Bạch phú thi tơ
Đời mình tư lự lo thân lấy
Chớ cậy nhờ ai uổng đợi chờ
Trần Đông Thành

Trở về => Đầu TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 4 –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 3   –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 2 – TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 1  –  TRANG THƠ XƯỚNG HỌA  –

HOME

Đọc thêm => Thơ Con Gà Què Azalea  –   Thơ Trần Đông Thành  – Thơ Nguyễn Cang – Thơ Thầy Hồ Nguyễn –Thơ Lê Hữu Nghĩa – Thơ Hương Lệ Oanh –  Thơ Nhiều Tác Giả

Categories
Sưu Tầm

2 sai lầm lớn nhất của cả đàn ông và đàn bà.


Đời này phụ nữ và đàn ông có 2 điều sai lầm nhất. Có lẽ chính là : phụ nữ luôn cho rằng chỉ cần mình vị tha đàn ông sẽ thay đổi.

Đàn ông luôn nghĩ rằng cho dù mình đi bao xa thì phụ nữ vẫn sẽ đợi ở nhà.

Phụ nữ thì luôn lầm tưởng về tình yêu còn đàn ông thì luôn lầm tưởng về giá trị của bản thân đối với người khác.

Không có sự thay đổi nào mà cần một thời gian quá dài, người yêu bạn sẽ không để bạn phải chờ đợi quá lâu.

Không có sự chờ đợi nào là mãi mãi, đừng cho rằng ai cũng sẽ đứng mãi ở một nơi chờ đợi một người.

Tôi từng nói với một người :

“Điều đáng sợ nhất không phải là luôn cô đơn một mình, mà đáng sợ nhất chính là cô đơn trong chính tình yêu của mình.”

Nên trong tình cảm, người đàn ông khiến người phụ nữ của mình cảm thấy lạc lõng và cô đơn, thì tình yêu này đã sai ngay từ giây phút đầu. Đời này không chỉ có DUYÊN PHẬN,

mà còn có NGHIỆT DUYÊN.

Có những loại tình yêu được ví von :

Nói rằng thích uống bia, nhưng lại thường xuyên uống nước ngọt.

Nói rằng yêu cơn mưa, nhưng lại trốn trong nhà khi vừa thấy trời nổi giông bão.

Nói rằng thích mùa đông, nhưng khi đông đến lại mong hè về.

Nói rằng yêu em nhiều, nhưng lại đem tin yêu đi phân phát bao nhiêu.

Nên là đời người lạ lắm, có người mong bên ta một đời, nhưng ta lại yêu người chỉ cần ta một thời…

Rất nhiều điều có thể trở lại, người đi rồi có thể quay về, tình lỡ rồi có thể vãn hồi, nhưng thanh xuân qua rồi thì là vĩnh viễn.

Vậy nên, hãy sống để bản thân không hối hận…

“CHỜ ĐỢI MỘT NGƯỜI, CHỈ XỨNG ĐÁNG KHI HỌ CŨNG ĐANG NHÌN VỀ PHÍA MÌNH”.

(Sưu tầm)

Categories
Sưu Tầm Việt Nam

60 tấm ảnh màu đẹp lộng lẫy của biệt thự cổ Đà Lạt


Đọc/Xem hình tại link này :

Những tấm ảnh màu đẹp lộng lẫy của biệt thự cổ Đà Lạt

Categories
Chuyện ngắn

Bản Án Tử Hình


Lời Giới Thiệu của Khôi An:

Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến.

Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô.

Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.

Nhân kỷ niệm 30 tháng Tư, 2021, người viết xin đăng câu chuyện này như một lời tưởng nhớ các cựu chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chết trong tù ngục, và tôn vinh các người vợ suốt đời làm hậu phương sắt son, mạnh mẽ.

***

khoi-an

 

Mắt tôi mờ đi, tờ giấy nhòe ra.

Hàng chữ run lên, uốn éo như con rắn độc. Nó phóng tới, mổ vào giữa tim tôi.

“Xử phạt: Trần Văn Bé – Tử hình.”

Giọng nói run rẩy của tôi vang lên như âm thanh từ một cơn ác mộng, “Má nhận tin này hồi nào?”

Mẹ chồng tôi còn mếu máo thì cô em chồng nghẹn ngào đỡ lời, “Từ tháng Năm, nhưng Má chưa dám nói với chị…”

Mẹ chồng tôi chùi nước mắt, phân trần, “Má tính đi kiếm cho ra mộ chồng con rồi mới nói cho con biết. Bởi vậy, hổm rày con đòi đi kiếm chồng, Má biểu để Má kiếm cho. Má sợ con chịu không nổi khi đối mặt với tụi công an… Con ơi, bữa đưa tin tụi nó làm dữ lắm! Công an phường, công an quận, công an thành phố kéo lại cả bầy. Tụi nó đưa ra tờ giấy này ra, biểu Má ký nhận. Lúc đầu Má không chịu ký, vì Má nghĩ ký nghĩa là chấp nhận rằng thằng Hai đáng bị xử tử. Tụi nó hăm dọa Má, nhắc tới thằng Ba còn đang bị tù ngoài Bắc. Má sợ tụi nó đem thằng Ba ra bắn luôn nên phải cắn răng ký tên lãnh án tử hình của con mình. Má đứt từng khúc ruột, con ơi…” Mẹ chồng tôi nghẹn lời, bà khóc nức nở.
 
***

Thế là hết!

Anh Bé đi tù tháng 6 năm 1975, sau đó tôi chỉ nhận được ba lá thư của anh. Lá cuối cùng đề tháng 2, 1976, gởi từ trại Suối Máu, Biên Hòa. Sau đó, anh bặt tin.

Tôi chờ đợi mòn mỏi, lên xuống trạm công an cả chục lần, hỏi gì họ cũng trả lời không biết. Cuối cùng, tôi nhất quyết làm đơn khiếu nại.

Lúc đó, tôi và sáu đứa con – đứa lớn nhất mười một tuổi, đứa nhỏ nhất mới lên hai – đang nương náu trong một mảnh vườn hẻo lánh tại Mỹ Tho. Vì vậy, tôi dùng nhờ địa chỉ nhà Mẹ chồng ở Sài Gòn. Cả chục lá đơn gởi tới trại tù Suối Máu đều như biến vào khoảng không, chẳng còn một chút tăm hơi.

Trại tù không trả lời thì tôi hỏi cấp trên; tôi mày mò kiếm địa chỉ của hai “Tòa Án Nhân Dân” ở Sài Gòn và Hà Nội rồi gởi đơn tới cả hai nơi đó. Thời miền Nam vừa mất, cây củi cũng mắc, mua một con tem là thâm vào tiền mua gạo cho các con, nhưng tôi vẫn cắn răng bớt miệng con để gởi đi mấy chục lá đơn, từ tháng này qua tháng khác.

Cuối cùng, nhà cầm quyền Cộng Sản cũng phải trả lời. Ngày 10 tháng Năm, 1977, họ gởi thư về nhà Mẹ chồng tôi. Để xác nhận rằng: họ đã giết chồng tôi.

Cô em chồng đưa tay đỡ vai tôi cho tôi khỏi gục xuống. Sáu đứa con sợ hãi chạy lại vây quanh, tôi chỉ nói được mấy tiếng “Ba chết rồi!” rồi khóc ngất. Lũ trẻ thấy vậy cũng khóc òa lên, thằng lớn nhất ôm lấy con em kế, bệu bạo nói “Vậy là Ba không về nữa!”

Sau vài ngày ở nhà Mẹ chồng, tôi lại phải gượng đứng lên, dắt đám con về căn chòi trống huơ, trống hoác, nóc dột, tường xiêu ở Mỹ Tho.

Mẹ chồng tôi sợ tôi chết thì bà sẽ không nuôi nổi bầy cháu, còn cha mẹ ruột thì lo tôi sẽ phát điên. Tuy vậy, Mẹ chồng tôi không đủ sức cưu mang bảy mẹ con tôi và cha mẹ tôi cũng chỉ dám ghé thăm vài ngày rồi đi về. Thời đó, mỗi tuần người dân đều phải đi họp tổ dân phố để công an điểm danh, ai đi đâu cũng phải xin phép, vì thế không người nào dám đi lâu, sợ công an kiếm cớ làm khó dễ.

Ngày mẹ chồng tôi làm lễ phát tang anh Bé ở Sài Gòn, tôi chỉ đủ tiền mua ba tấm vé xe cho thằng con trai lớn nhất, đứa con gái út, và tôi. Họ hàng phần vì không có tiền đi xa, phần vì sợ liên lụy với “tử tù” nên không ai dám tới.

Ngoài ba mẹ con tôi, đám tang chỉ có mẹ chồng và hai cô em ruột của anh. Sau ngày giao bản án tử hình, công an khu vực dòm ngó nhà chồng tôi như chồn cáo rình chuồng gà; vì thế, ngay cả trên bàn thờ của anh chúng tôi cũng không dám chưng bày nhiều.

Di ảnh của anh đứng sau dĩa trái cây lỏng chỏng, một bát nhang hiu hắt và hai cây đèn cầy leo lét. Trước bàn thờ, bốn người đàn bà đầu tóc rũ rượi quỳ bên hai đứa nhỏ xanh xao, ngơ ngác. Chỉ có tiếng nhà sư đọc kinh nho nhỏ, còn chúng tôi phải kềm tiếng khóc trong lồng ngực, nuốt ngược nỗi đau vào lòng. Anh Bé sống ở khu xóm đó từ nhỏ, ai cũng biết và thương mến anh, cho nên bà con lối xóm kéo đến rất đông, nhưng không ai dám bước vô nhà. Họ giả làm kẻ tò mò đứng trước cửa, nhưng suốt buổi lễ họ lén dùng tay áo quẹt nước mắt, và nhìn chúng tôi bằng những cặp mắt đỏ hoe, ứa tràn thương xót.

Tôi quỳ ở đó, dật dờ nửa mê, nửa tỉnh.

Những hình ảnh cuối của anh trở về trong đầu tôi.

Chiều 30 tháng 4, 1975, anh lái xe Jeep đến nhà cha mẹ tôi ở thành phố Mỹ Tho, nơi tôi đem sáu đứa con thơ từ khu cư xá sĩ quan ở Bình Dương về nương nhờ trong cơn hỗn loạn.

Tóc anh rối bời, mặt anh bơ phờ, nhưng anh vẫn mặc quân phục trên người. Anh ôm hôn từng đứa con, rồi nói với Ba tôi, “Ba cho con gởi vợ con của con.”

Ba tôi đã nghẹn ngào hứa, “Con đừng lo, vợ con của con ở đây với Ba Má, rau cháo có nhau. Con đi đâu cũng vậy, khi con trở về đây, vợ con của con sẽ còn đầy đủ.”

Trước mặt Ba Má tôi, anh ngại ngùng không ôm tôi lần cuối. Anh chỉ xiết tay tôi, dặn dò tôi giữ gìn sức khỏe và cố lo cho các con. Tôi quá bàng hoàng, lo sợ nên chỉ biết nghẹn ngào nhắc anh hết sức giữ gìn tánh mạng. Anh lưu luyến thêm một lát rồi quay đi.

Tôi đứng chết lặng ở bậc cửa.

Anh leo lên xe, rồ máy. Xe chuyển bánh. Chạy đi. Xa dần. Rồi mất hút.

Tôi cảm thấy một phần thân thể mình vừa bị chặt lìa ra…

Sau này tôi mới biết anh đã lái xe về nhà mẹ ruột ở Sài gòn và trốn ở đây cho tới ngày đi trình diện “học tập cải tạo”.

Mới hai năm qua mà tôi đã mất anh, con tôi đã mất cha. Người ta giết anh vì tội “trốn trại cải tạo nhằm mục đích phản Cách Mạng.” Độc ác hơn nữa là họ không thông báo gì cho thân nhân. Mạng sống của anh, của những người tù, và nỗi đau của gia đình họ, đối với người cầm quyền không có ý nghĩa gì!

Mãi hơn một năm sau từ ngày bắn anh, có lẽ vì mấy chục tờ đơn tìm chồng của tôi, họ mới gởi Tờ Trích Lục Án Hình về nhà. Tờ giấy đánh máy một cách cẩu thả vào tháng 5, 1977 đã đề sai ngày của phiên toà xử tử anh là 10 tháng 4, 1977, trễ một năm.

Tôi ngước nhìn anh trong uất nghẹn. Anh cũng đang đau đáu nhìn tôi. Có phải mắt anh long lanh vì nỗi đau cắt ruột, hay chỉ là màn lệ chan hoà từ mắt tôi?

***

Sau khi về lại Mỹ Tho, tôi nằm bẹp trên võng, không khóc nhưng nước mắt nóng hổi tuôn ra như vắt hết sức sống của tôi.

Lòng tôi nặng trĩu niềm đau, nỗi hận. Trong đầu tôi vang vang những lời oán trách số phận, nguyền rủa bọn giết người. Chồng tôi cả đời thanh liêm, đi lính Việt Nam Cộng Hoà tới lon Thiếu Tá mà vẫn không mua được cho vợ con một căn nhà riêng, tại sao anh phải chết tức tưởi như vậy?

Làm vợ lính, tôi đã nhiều lần nghĩ đến việc chồng tử trận, nhưng thà anh hy sinh trong cuộc chiến để các con còn được hãnh diện, để tôi còn được an ủi.

Bây giờ chiến tranh chấm dứt rồi, chồng tôi đã phải mang thân tù tội, tại sao người ta còn giết anh? Tại sao họ đẩy mẹ con tôi thành “thân nhân của tử tội”, lớp người cô đơn, khốn cùng nhất trong cái xã hội đầy móng vuốt này?

Ngày tiếp ngày trôi qua trong cơn đau, mí mắt tôi sưng vù, rát bỏng, tiếng các con réo gọi nghe xa xôi như vọng lại từ một thế giới khác, tôi nghe nhưng không thể nào trả lời nổi. Tôi nằm đó, dật dờ giữa hai bờ sống, chết.

Một buổi trưa, không biết là bao lâu sau, tiếng khóc thảm thiết của hai đứa con nhỏ nhất kéo tôi ra khỏi cơn mê sảng. Tiếng than đói của hai đứa bé xoáy vào tim tôi, nhắc rằng tôi còn bổn phận với sáu đứa trẻ thơ.

Tôi ngồi bật lên, quơ tay tìm con và ôm xiết chúng vào lòng. Giữa ban ngày mà trước mắt tôi tối đen. Không! Con không thể mù, con không thể chết! Xin Trời giúp con! Xin cứu con để con của con được sống!

Nhờ Trời thương và chắc anh vẫn theo phù hộ nên tôi hết bệnh, dù không có thuốc men gì. Tôi lết ra vườn, mò mẫm trồng rau, trồng khoai nuôi con.

Năm tháng rơi lặng lẽ như những sợi tóc của tôi rụng tơi bời trong cơ cực. Tay chân tôi khẳng khiu, trầy trụa, bầm dập, nhưng những vết thương đó không thấm thía gì với cái đau ở trong lòng.

Ở miệt vườn hẻo lánh, sự kìm kẹp của chính quyền địa phương khủng khiếp gấp mấy lần ở những thành phố lớn; công an mà dòm ngó, trù dập ai thì người đó không ngóc đầu lên nổi. Trong đám dân quê mùa, chất phác, gia đình có thân nhân là sĩ quan “Ngụy” đang ở tù đã là một điều ghê gớm, nói gì tới chuyện là con cái của người tử tội.

Thời đó, nhà trường cứ vài tuần lại bắt học sinh khai lý lịch, vì thế mỗi niên học các cháu đem về mấy chục tờ lý lịch nhờ tôi viết. Lúc nào tôi cũng khai là “Cha mất tích”, và các con tôi được dạy đi dạy lại rằng không bao giờ hé môi với ai về cái chết của cha.

Vậy mà cũng có lần chúng tôi xém bị lộ!

Tết Trung Thu năm 1977, trường học phát quà cho con của gia đình liệt sĩ. Thằng bé thứ Năm nhà tôi mới vô lớp Một, không biết nghe ai giải thích “liệt sĩ” là những người đi lính đã chết, thế là nó tính chạy lên lãnh quà.

May mà cô giáo của nó quen với tôi, cô thấy nó nhớm đứng lên, vội đè vai bắt nó ngồi xuống. Hôm đó thằng nhỏ tủi thân và thèm quà, khóc tức tưởi cả buổi chiều. Tôi xót cho các con ngây thơ mà phải chịu quá nhiều thiệt thòi, dồn nén, phải sống trong hất hủi, phải thèm khát từ miếng ăn tới tình thương. Đêm đó, tôi khóc trắng.

***

1979.  

Nước ngập cao. Hút mắt chỉ thấy làn nước đục ngàu, lềnh bềnh rác rến. Những cây chuối chỉ còn lú lên chút ngọn run rẩy bên những cành mận trụi lủi, khẳng khiu đang vật vã trong gió.

Trời vẫn mưa! Mưa như xối nước.

Trên mấy bộ ván chồng lên nhau, tôi và sáu đứa nhỏ nằm, ngồi lủ khủ bên đống chăn mền, quần áo, bếp lò, chén dĩa – tất cả tài sản còn lại của bảy mẹ con. Cơn bão đã kéo dài gần một tháng, nước sông Tiền dâng ngập hết ruộng vườn, cuốn băng đi công sức mẹ con tôi vật lộn với mảnh đất này trong gần bốn năm trời kể từ tháng Tư, 1975.

Mưa càng lúc càng nặng hột. Gió xoáy mạnh, rít lên như oán trách, như thay tôi than tiếc cho công sức của mẹ con tôi đang trôi theo giòng nước.

***

Như lời đã hứa, sau tháng 4, 1975, Ba Má tôi hết lòng bao bọc mẹ con tôi. Nhưng vai gầy không thể chống được cả bầu trời đang đổ xụp, sức lực của hai cụ già không thể nào đỡ nổi trận hồng thủy của cuộc đổi đời.

Nhà cầm quyền Cộng Sản bắt cha mẹ tôi phải nạp hết ruộng cho Hợp Tác Xã rồi mỗi tháng chúng phát cho mấy ký gạo vừa đủ cho hai người già sống cầm hơi.

Bảy mẹ con tôi không có tên trong “hộ khẩu” nên trở thành những người “ngoài pháp luật”, sống lây lất bên lề xã hội. Mỗi ngày, Ba Má tôi thu mót hoa màu trong vườn, rồi đem bán để mua gạo chợ đen về nuôi cháu.

Sau mấy tháng tôi không thể chịu được cảnh cha mẹ khổ sở, lo lắng, chạy ăn từng bữa vì mình nữa. Tôi đành nuốt nước mắt đem các con về ở tại năm công đất vườn do ông nội của chồng tôi chia cho anh từ thời anh còn trẻ.

Ngày mẹ con tôi dắt díu nhau ra đi, tôi không dám quay đầu nhìn lại, sợ ba má tôi thêm nát lòng. Tôi cắm đầu bước, nước mắt ràn rụa. Tôi gọi tên anh, xin anh giúp sức cho người vợ mỏng manh, yếu ớt, chưa bao giờ biết cầm cái cuốc, cái cày…

Khu vườn thiếu người chăm sóc chỉ có thưa thớt vài cây mận, bà nội chồng thương nên cho thêm ba công ruộng ven để tôi kiếm gạo nuôi con.

           ***

Tôi nắm một đầu chiếc gầu giai, đầu bên kia thằng Hai và con Ba – đứa mười một tuổi, đứa tám tuổi mím môi giữ. Trời nắng như đổ lửa, mặt tôi ướt đẫm mồ hôi; phía bên kia, dưới vành nón lá rách nát, hai đứa con tôi mặt đỏ bừng như lên cơn sốt. Chúng tôi múc từng gàu nước từ con rạch cạn, tạt vào những cây lúa đèo đẹt đứng gục đầu trên mảnh ruộng nứt chân chim.

Mùa đầu tiên trời hạn, sau khi trả tiền mướn trâu, tiền công cấy, tiền phân bón, tiền thuốc trừ sâu, tiền đóng thuế cho nhà nước, chúng tôi không còn một hột lúa mà ăn, đành đi vay mượn chờ năm tới.

Mùa kế, tôi chỉ dám mượn tiền để trả công cày rồi cố gắng tự làm đủ thứ việc, hy vọng cuối mùa thu được chút gạo sống qua ngày. Tôi học cách nhổ cỏ, rải phân, cấy lúa. Ngày ngày tôi bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Có lần tôi khiêng bình thuốc trừ sâu to hơn một vòng ôm đi xịt quanh ruộng. Bình thuốc lớn che khuất mặt, tôi không thể thấy thuốc xịt đều hay không nhưng vẫn nghiến răng tha cái bình đi xịt hết một vòng. Làm xong, tôi run run leo lên bờ ruộng thì bình thuốc đẩy tôi té ngược ra sau. Tôi nằm ngửa như con nhái bén ôm bình thuốc to tướng, hên là đất ruộng không quá cứng nên tôi không bị thương. Lần đó, đám con tôi phải xúm lại kéo cả bình và tôi lên bờ ruộng.

Không hiểu vì cày không sâu, cấy không khéo, phân không đủ, thuốc không đều, nước không đẫm, hay vì vận mạng của chúng tôi lúc đó đang tối tăm nên đất ruộng cũng không chịu hợp tác với mẹ con tôi. Tôi thất thu ba năm liên tiếp, nợ sau chồng lên nợ trước, cuối cùng tôi phải thế ruộng để trừ nợ, mẹ con rút về kiếm ăn trên mấy công vườn xơ xác.

Khai mương, đào đất, trồng cây, tưới bón, tất cả chỉ có tôi và hai đứa con lớn lăn lộn làm, còn mấy đứa nhỏ đành bỏ liều trong lều.

Có một lần tôi hái mận đem ra chợ bán, đường xa nên mãi tối mịt mới về. Về tới nhà, thấy thiếu thằng Năm, tôi hoảng hồn chạy ra vườn, nhảy xuống mương tìm. Con mương không sâu lắm, chỉ để lấy nước tưới cây, nhưng cũng làm tôi lo lắng từ ngày mới về đây. Nước dưới mương ngập tới gần bắp vế, tôi vừa gọi tên con vừa khom người mò. Đụng thấy một vật tròn cứng như đầu người, tôi hét lên rồi vật ra chết giấc. Cũng may là lưng tôi dựa vô bờ mương nên tôi không ngộp nước và có con bé Ba chạy theo, nó vừa khóc vừa kéo tôi lên. Và may hơn nữa là cái vật tròn tròn đó chỉ là một cái gáo dừa chìm dưới mương, còn thằng Năm vẫn trùm mền nằm ngủ sau đống quần áo trong lều. Chắc nó đói quá nên lả đi, không lên tiếng khi tôi gọi.

Trăm ngàn khổ cực vậy mới thu được vài mùa mận, mà bây giờ cơn lụt lại phá tan hoang mảnh vườn, nguồn sống duy nhất của chúng tôi…

***

Cuối cùng nước lụt cũng rút để lại khu vườn đầy rác rến với những luống khoai bị nước san bằng và những gốc cây trụi lá, gãy cành. Chỉ còn vài cây chuối non, tôi chặt về bào mỏng bóp với muối cho các con ăn qua bữa.

Đói thì đầu gối phải bò, tôi lại bỏ liều các con ở nhà, qua Bến Tre đi buôn. Xứ dừa Bến Tre bạt ngàn cây trái nên dân bên đó khá giả, có lò nấu đường, làm xà bông. Tôi mua hàng đem về Mỹ Tho bán để kiếm chút lời.

Thời 1979-1980, trạm thu thuế mọc lên ở khắp nơi, như bầy rệp đói hút máu dân nghèo. Công an rình ở khắp các ngả đường, khám xét càng ngày càng gắt gao. Tiền lời chỉ đủ để đóng thuế nên người đi buôn phải trốn, nếu thoát thì kiếm được chút đỉnh, không may bị bắt là bị tịch thu hết hàng, đứt vốn.

Một mình tôi kiếm không đủ tiền rau cháo nên tôi phải dắt hai đứa con trai theo. Tôi cưỡi một chiếc xe đạp, hai đứa chở nhau trên chiếc xe đạp khác, làm bộ như hai anh em chở nhau đi học nhưng trong cặp chúng nhét đầy đường và xà bông.

Thằng Hai còn biết xoay xở chút ít, còn thằng Tư ngây thơ, tính tình lại nhút nhát nên nó rất sợ. Mỗi khi qua trạm gác, mắt nó nhìn thẳng phía trước, làm bộ bình tĩnh, nhưng ngón chân nó bấm xuống dép, cổ nó căng lên như sợi dây đàn. Tôi ngó mà đau như bị đâm vào tim.

Chuyến phà Bến Tre – Mỹ Tho chiều hôm đó đông nghẹt. Mặt trời đã xế nhưng vẫn tỏa sức nóng hừng hực làm cho những gói đường quấn quanh bắp chân, quanh bụng tôi thêm trĩu nặng. Tôi ì ạch dắt xe, nón lá che xùm xụp xuống mặt nhưng vẫn liếc mắt ngó chừng hai đứa đi phía sau. Chỉ còn một khúc nữa là vô trạm gác, ba mẹ con càng tách xa nhau như người xa lạ để nếu có bị bắt thì không bị dính cả chùm.

Tôi thoát qua trạm gác, đứng lại, làm bộ gỡ nón quạt để ngó lại tìm con. Thằng Hai vừa dắt xe đi ra, thằng Tư đang tiến vào trạm…

            Bỗng nhiên cái cặp ở tay thằng Tư rớt xuống, những gói đường và xà bông văng tung tóe. Mắt thằng nhỏ mở lớn, hãi hùng, miệng há ra nhưng không dám khóc lên thành tiếng. Một tên công an bước tới, nắm lấy cổ áo nó. Mắt tôi hoa lên, ngực tôi nhói đau, tôi ngồi xụp xuống để khỏi té vật ra. Phà đã tới, đám đông ùn ùn xô nhau tràn tới, tôi đội xụp nón lên đầu rồi đành bước chân đi.

            Phà qua tới Mỹ Tho, thằng Hai mới dám chạy lại bên tôi, mếu máo, “Má ơi, thằng Tư bị bắt rồi!” Tôi ôm con, vuốt lên mái tóc cháy nắng khét lẹt rồi nói cứng, “Chắc họ không nhốt con nít đâu. Con đem đồ về nhà trước để tụi nhỏ khỏi trông, Má ở đây chờ em.”

            Trời đã nhá nhem tối, tôi đang nghĩ cách quay lại kiếm con thì thằng Tư thất thểu bước ra khỏi phà. Lưng nó khom xuống, mặt nó thất thần. Vừa thấy tôi, nó phóng tới ôm riết rồi khóc nức nở, người nó run bần bật trong những cơn nấc nghẹn ngào. Nước mắt tôi cũng rớt như mưa. Tôi hận mình bất tài, hận số phận mình khốn khổ để tuổi thơ của các con quá bi thảm và tủi nhục. Tôi lại ngửa mặt gọi anh. Anh ơi, hãy giúp em cứu các con ra khỏi cảnh khổ hận này.

Từ bữa đó, tôi không dám bắt các con đi buôn lậu nữa. Tôi đi tới từng vườn trái cây mua rồi chở đi bỏ cho những bạn hàng ở Sài gòn. Mỗi ngày tôi dậy từ 3 giờ sáng, cột mấy giỏ trái cây lên xe đạp rồi chở ra bến, đón xe đem về Sài Gòn.

Tiền xe hai chuyến đi về mắc mỏ mà tôi thì sức yếu, vốn nhỏ nên lời rất ít. Thấy dân nghèo tứ xứ bày bán đủ mọi loại hàng trên lề đường trước cửa chợ, tôi quyết định không bán sỉ nữa mà bán lẻ để kiếm lời khá hơn.

Tôi trải đại một tấm ny lông xuống lề đường, bày một ít trái cây làm mẫu, phần còn lại để trong giỏ gởi mấy cửa tiệm ở mặt đường, có tiệm thương tình cho gởi, có tiệm bắt trả tiền. Tôi lê la từ chợ Cầu Ông Lãnh tới chợ Tân Bình, chợ An Đông, đôi khi gặp bạn bè cũ, tôi cúi gầm mặt dưới vành nón, không dám ngước lên.

“Ủy Ban Trật Tự Thành Phố” nói rằng bán hàng trên lề đường gây hỗn loạn nên ra lệnh cấm, nhưng người dân đói quá cứ làm liều.

Từ cụ già tám mươi tuổi đến đứa bé sáu, bảy tuổi, từ người lành lặn tới anh thương phế binh, người trải tấm nylon, kẻ đẩy cái xe tự đóng bằng ván mục, người bưng cái rổ, kẻ đội cái mâm, chúng tôi đứng ngồi la liệt trên khắp các ngả đường để kiếm sống.

Ngày nào bán được khá, ngoài mấy lít gạo tôi còn mua về cho con vài ổ bánh mì. Trời sụp tối tôi mới về đến nhà, nhìn chúng chia nhau nhai ngấu nghiến một cách hết sức thèm thuồng, tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục lăn lộn trên vỉa hè.

Tuy nhiên, những ngày vui thường ít hơn những ngày buồn. Rất nhiều khi đang ngồi bán thì người ở đầu đường la, “Công an!” và mọi người vùng lên chạy. Những người bán mặt hàng gọn, nhẹ thì túm tấm trải lại, ôm vào người rồi biến vào trong những ngõ hẻm. Tôi quảy đống trái cây nặng hơn nên thường lẹt đẹt phía sau và bị công an hốt. Công an đem tôi về “Trụ Sở Ban Quản Lý Chợ”, bắt ký tên vào biên bản rồi tịch thu hết hàng.

Tôi nhớ tới lời Mẹ chồng tôi thường an ủi tôi rằng “trời sanh voi, sanh cỏ” mà muốn gào vào lên sao các người ác vậy, đã giết chồng tôi mà còn không chừa cho mẹ con tôi một cọng cỏ để ăn!

Những ngày bị mất hàng, tôi trở về nhà với hai tay không, thê thảm như người vừa bị cướp. Mấy mẹ con phải ra vườn mót những củ khoai đèo đẹt và hái rau dại về ăn. Ngồi nhìn đám con chia nhau dĩa rau luộc chấm nước muối, lòng tôi đau nhói. Mới ngày nào tôi là cô dâu hai mươi tuổi, ngây thơ, lãng mạn cùng chồng mơ về một căn nhà ấm cúng với đàn con ngoan ngoãn, cười giỡn rộn ràng. Bây giờ, đàn con tôi gầy ốm, buồn rầu còn tôi thì da đen xạm, tay chân chai sần, tóc tai xác xơ như lòng tôi tan nát.

Sau nhiều lần bị công an bắt, vốn liếng sắp cạn thì tôi may mắn gặp được quý nhân.

Chị là vợ của Trung Tá Kh. ở cùng Sư Đoàn 5 với chồng tôi, và hai gia đình đã ở gần nhau trong Cư Xá Sĩ Quan Ngô Quyền tại Bình Dương trước năm 1975. Không ngờ sau cuộc đổi đời, chị cũng dắt con về ở ngay bên cạnh xã tôi. Con út của chị học chung một lớp với con tôi, có lẽ cùng thuộc diện con “tù cải tạo” nên chúng thân và tâm sự với nhau. Kể qua kể lại, té ra là hàng xóm hồi xưa, con tôi vui mừng về báo cho tôi và tôi đã tìm thăm chị.

Hầu hết các con của chị Kh. đã lớn nên kiếm được việc làm lặt vặt để sống qua ngày. Thời đó, phong trào đan mây tre và làm nón để xuất khẩu ra nước ngoài lên mạnh, chị giới thiệu cho tôi lãnh nón về thêu ăn công. Đêm nào tôi và con gái lớn cũng ngồi thêu bên cây đèn mù mờ, nước mắt sống chảy ròng ròng vì dùng mắt quá độ, nhưng số tiền công rẻ mạt chỉ giúp chúng tôi kiếm thêm chút cháo. Chị Kh. có người thân ở Huế nên chị cũng làm đại lý cung cấp nón lá Huế cho các sạp bán lẻ, thấy vậy chị lại thương tình cho tôi lấy nón về bán, bán xong mới đưa lại tiền vốn cho chị.

Thời đó, chợ huyện Tân Hiệp họp từ một, hai giờ đêm để người ta kịp mua hàng đem lên Sài Gòn bán lúc sáng sớm. Khoảng mười một giờ đêm là tôi mò mẫm dắt xe đạp ra khỏi nhà, trên yên sau là gói hàng lặt vặt như tiêu, tỏi, xà bông, bột ngọt, phía trên là chồng nón. Chiếc xe đạp cũ nát run rẩy bò trên con đường đất gồ ghề, hai bên là ruộng, côn trùng ếch nhái kêu nỉ non, đom đóm bay lập lòe như mắt quỉ.

Hồi còn con gái, tôi rất sợ ma, nhưng lúc đó tôi chỉ còn sợ… người. Trời tối đen, chỉ nhìn thấy một khúc đường ngắn lờ mờ trước mặt, tôi vừa đạp xe vừa cầu xin anh phù hộ cho tôi không bị cướp.

Ra tới chợ, có những đêm vừa bày hàng xong thì trời đổ mưa, tôi lấy hết nylon che cho hàng hóa rồi ngồi chịu trận trong cái áo mưa đầy lỗ lủng, nghe từng giọt nước lạnh như kim chích trên lưng, nghe gió quất từng cơn trên gương mặt ướt đẫm nước mưa hòa nước mắt.

Sau những đêm ế ẩm, sáng ra tôi phải đạp xe tới từng nhà quanh chợ, mời người ta mua nón dùm. Các bà không ai biết chuyện chồng tôi bị xử tử, nhưng họ biết tôi là vợ tù nên rất thương tôi. Họ cũng chẳng dư dả gì nhưng người mua dùm cái nón, người cho củ khoai, ly nước, người dúi cho tôi chút trái cây để đem về cho các con.

Những ngày tôi bán ế, không đủ tiền trả vốn số nón đã lấy của chị Kh., chị chỉ mắng yêu, “Thôi, không đủ tiền thì thím để bữa sau bán tiếp rồi trả, chớ không lẽ bây giờ tui bắt xác thím được ha…”

***

Bữa đói bữa no, bịnh không có thuốc nhưng nhờ Trời thương, đám con tôi vẫn lớn như cây dại mọc ở bờ rào.

Các cháu biết thân phận mình nên rất ngoan và chăm học. Ngoài giờ học, chúng đi câu, đi chạ, đi lưới để kiếm thêm thức ăn. Tuy vậy, chúng càng lớn thì tiền học, tiền sách vở càng tốn kém, rất nhiều lần các cháu bị thầy cô rầy la vì xài chung chỉ một cuốn vở cho mọi môn học, nhưng các cháu không hề than van.

Những ngày tôi đi buôn bán về trễ, lòng tôi ấm lại trước cảnh các con quây quanh ngọn đèn dầu leo lét, mấy đứa nhỏ tập đọc ồn ào, nhưng mấy đứa lớn vẫn ráng chăm chú giải toán, học bài.

Dù không có tiền đi học thêm, dù sự giảng dạy ở vùng quê trồi xụt bất thường, ba đứa con lớn của tôi đã đạt được điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp trung học. Tuy vậy, các cháu nhưng chỉ được trúng tuyển vào những trường dạy nghề như Trung Học Lâm Nghiệp ở Sông Bé, Trung Học Sư Phạm ở Tiền Giang, và Trung Học Xây Dựng ở Vĩnh Long. Dù sao, đây là một điều rất quan trọng cho cuộc đời của hai cháu trai bởi vì nếu không được đi học tiếp, các cháu sẽ phải đi “nghĩa vụ quân sự”, bị gởi đi đánh nhau ở vùng biên giới Tàu hay Campuchia.

Tôi đã thề cùng vong linh của anh rằng tôi sẽ làm mọi cách để các con chúng tôi không bị đi bộ đội. Chỉ tưởng tượng các cháu phải mặc cùng bộ quân phục, đứng cùng hàng ngũ, và đem thân đi chết vì chính kiến của những người đã giết cha các cháu, tôi rùng mình. Nếu bị kêu đi “nghĩa vụ”, các cháu chỉ còn nước bỏ làng xóm đi sống lang thang, dật dờ như rất nhiều thanh niên thời đó.

Dù trúng tuyển vào trường, nhưng sau khi tốt nghiệp, cả ba cháu không có tiền chạy chọt, không quen biết ai, nên bị gởi đi làm việc ở những nơi xa xôi, hẻo lánh. Các cháu chán nản quay về nhà, làm ăn lặt vặt qua ngày. Cuộc sống tuy đỡ đói khổ hơn thời các cháu còn nhỏ, nhưng đầy bế tắc, không có tương lai.

***

Từ đầu thập niên 1980 đã có lác đác sĩ quan đi tù được thả về. Mỗi lần nghe tin người quen được về với vợ con, tôi mừng cho họ nhưng nghe lòng càng thêm cô đơn, cay đắng.

Chồng tôi sẽ không bao giờ trở về, mà thân xác anh cũng vẫn còn lạc lõng ở tận phương nào. Mẹ chồng tôi đã già yếu, không còn tiếp tục đi tìm mộ anh được nữa, còn tôi thì lăn lộn kiếm gạo cho bầy con nên không thể hết lòng tìm kiếm. Vì thế, ngoài nỗi khổ đói nghèo, nỗi hận mất chồng, nỗi sợ hãi xã hội nhiễu nhương, và nỗi buồn đơn chiếc, tôi còn mang cảm giác nặng trĩu tội lỗi của người vợ vô tình.

Tôi không thể ngờ rằng năm 1984, tám năm sau khi anh mất, anh đã tìm về với mẹ con tôi.

Hôm đó, tôi đang lúi húi ngoài vườn thì chị Hai tôi bước vô cổng. Vừa tháo nón lá quạt lia lịa, chị vừa kêu, “Dì Ba! Dì Ba ơi! Có tin dượng Ba!”

Tôi quăng cuốc chạy ra, chị chụp tay tôi, hổn hển vừa thở vừa nói, “Mèn ơi, thiệt không ngờ! Em nhớ cô giáo H. dạy trong trường chị chớ? Chị với cổ thân nhau, lúc người này có chuyện thì người kia dạy dùm. Mới cách đây mấy bữa, chị coi lớp dùm cổ để cổ đi hốt cốt người em trai tên Thịnh, chết trong tù cải tạo. Cổ đi về kể chuyện cho chị nghe, cuối cùng cổ nói thêm ‘Kế sát bên mộ em tui có ngôi mộ của một ông chết cùng ngày. Tội nghiệp, chắc gia đình ổng đi vượt biên hết nên không ai chăm sóc, cỏ mọc tùm lum!’ Trước giờ chị ít để ý chuyện của ai, nhưng bữa đó như có gì xui khiến nên chị hỏi tới, ‘Vậy chứ bà có nhớ tên người đó không?’ Cổ nói ‘Tên là Trần Văn Bé, sinh ở Long An.’ ”

Giữa trưa nắng mà tôi sống lưng tôi lạnh toát.

Tôi đã nghe các bạn tù của anh kể lại rằng sau khi bọn cai tù bắt được anh và đem trở về trại Suối Máu, bọn chúng còn chuyển về một người đã vượt trại ở Hóc Môn tên là Thịnh. Cả hai bị nhốt vào connex và bị bắn trong cùng một ngày, chồng tôi vào buổi sáng, anh kia vào buổi chiều.

Như vậy là những người bạn tù đã chôn hai anh kế bên nhau, và đã thương xót lập bia để chỉ đường cho thân nhân các anh mai sau đi kiếm. Trong gần bốn triệu người dân Sài gòn, cơ may hiếm có hay hồn thiêng của hai anh đã đem chị tôi và chị của anh Thịnh đến với nhau, để cho họ thân thiết và tin cậy nói cho nhau nghe những nỗi đau sâu kín của gia đình những người lính Cộng Hòa gãy súng.

Có lẽ hồn thiêng của chồng tôi níu chân chị H. nên chị đã để ý tới nấm mộ hoang khuất trong cỏ rậm, và đọc được cả những chi tiết viết bằng tay mờ nhạt trên miếng gỗ đã tám năm trời phơi mưa nắng.

Mẹ chồng tôi lập tức lo việc xin giấy phép đi đường, giấy phép cải táng và kiếm nhà quàn lo dịch vụ. Ngày đi bốc mộ, tôi và Mẹ ruột tôi từ Mỹ Tho về Sài Gòn cùng đi với Mẹ chồng, cậu ruột của chồng, và một cô em chồng.

Nhờ chị của anh Thịnh đã chỉ đường rất kỹ nên chúng tôi tới mộ khi mặt trời chưa đứng bóng. Cỏ dại đã được phạt đi nên chúng tôi thấy ngay ngôi mộ có tấm bia bạc phếch đứng chơ vơ trong nắng. Có lẽ đây là khúc cây tốt nhất mà các bạn tù của anh đã lựa, có lẽ họ đã khắc tên anh bằng cả tấm lòng, có lẽ vì mộ nằm ở khu đất cao và khô ráo, và có lẽ hồn anh còn quanh quẩn nên tấm bia vẫn còn đứng vững và những giòng chữ vẫn chưa phai sau tám năm hoang lạnh.

Người ta bắt đầu đào, tiếng bình bịch của cuốc bằm xuống đất dội bưng bưng vào óc tôi làm tôi choáng váng, phải ra ngồi dựa vào một gốc cây. Nấm mộ không sâu nên chỉ một lát là chạm đến cái hòm thô sơ, bể tan sau vài nhát cuốc.

Tôi vẫn ngồi dưới gốc cây, hai mắt mở trừng trừng. Tôi thấy như hồn tôi tách khỏi thân xác, bay là là trên cao nhìn mọi người đang khóc và tôi đang ngồi sững sờ như hóa đá. Từng khúc xương được bốc lên, mẹ chồng tôi nhìn bộ răng và nói rằng đúng là anh với hàm răng thiếu một chiếc ở góc trong. Khi mẹ kêu tôi tới nhận diện chồng, tôi mới lảo đảo đi tới gần mộ. Bên cạnh cái hộp sọ đã bể, tôi thấy chiếc áo sơ mi sọc do chính tôi sắm cho anh ngày xưa nằm cạnh sợi dây nịt của lính. Có lẽ anh em bạn tù đã thu nhặt túi đồ của anh và chôn theo anh. Tới lúc đó nước mắt tôi mới có thể trào ra. Cuối cùng thì em cũng đã tìm được anh rồi!

Sau khi thiêu cốt, Mẹ chồng tôi đề nghị đem gởi vào chùa ở Phú Lâm. Tôi đồng ý vì ở Sài Gòn dù sao cũng an toàn hơn là ở Mỹ Tho trong ngôi nhà xiêu vẹo, chông chênh của mẹ con tôi.

***

            “Mẹ có nhà không con?”

            Đang loay hoay đếm nón để khuya đem đi bán, tôi chạy vội ra cửa vì giọng nói đầy vẻ hái hức của cô bạn thân, học chung từ nhỏ.

Vừa thấy tôi, H. níu tay kéo ngồi xuống bậc cửa, móc trong túi áo ra một tờ báo được xếp gọn. Với vẻ mặt hết sức trang trọng, H. giở báo, chỉ vào một bản tin nhỏ với tựa đề : Thông Cáo Về Việc Làm Hồ Sơ Xuất Cảnh Cho Những Người Từng Đi Học Tập Cải Tạo.

            Hai chúng tôi chúi đầu vào đọc. “Những người từng đi học tập cải tạo trên ba năm sẽ được làm hồ sơ đi Mỹ, ngay cả vợ con của những người đã chết trong trại cũng được đi.”

Run run, tôi hỏi H. “Bà nghĩ tin này thiệt không?”

            “Thiệt mà! Ở trên Sài Gòn người ta xác định rồi, mấy người bạn ông xã tui đang làm đơn rần rần kìa!”

            Thế là chiều hôm đó tôi mở cái hộp sắt, lấy ra tờ Trích Lục Án Hình vừa coi lai vừa van vái chồng tôi.

Năm đó là 1988, như vậy chồng tôi bị giết đã mười hai năm. Nước mắt rơi lã chã, tôi lại kêu anh. Anh ơi! Anh giúp em cứu các con ra khỏi nơi này.

Mẹ chồng tôi nghe tôi kể chuyện làm đơn xin đi Mỹ, bà chép miệng, “Làm đơn thì phải khai ra cái chuyện chồng con bị tử hình. Tụi công an xã mà biết thì giống như khui ổ rắn. Má sợ các con mà đi không được, sau này sẽ khổ hơn…”

            Tuy nhiên lòng tôi đã quyết, đây là cơ hội duy nhất để cứu con tôi, điều mà tôi ước mơ từ mười mấy năm nay. Với sự giúp đỡ của vợ chồng bạn, tôi xin mẫu đơn, điền chi tiết, đính kèm bản sao của bản án tử hình rồi đem nộp ở Ty Ngoại Vụ Tỉnh Tiền Giang. Gia đình H. và chúng tôi đều được xếp vào danh sách H.O. 7.

Nhưng chỉ mấy tuần sau tôi nhận được thư từ Sở Ngoại Vụ ở Sài Gòn từ chối đơn của tôi với lý do: chồng tôi bị tử hình năm 1976, do đó anh không hội đủ điều kiện bị tù ba năm. Tôi nghiến răng rủa bọn Cộng ngu xuẩn, chồng tôi bị tử hình nghĩa là đi tù không bao giờ về, cớ gì mà không đủ điều kiện ba năm. Tôi viết thư khiếu nại nhưng Sở Ngoại Vụ từ chối, họ nói bắt buộc phải có ba năm ở tù. Đối với họ chết là hết, là không còn giá trị gì nữa.

            Lúc đó, gia đình của những người sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà đã hồi sinh như ruộng hạn gặp mưa rào. Họ tụm năm, tụm ba, thì thào về chuyện làm đơn, chuyện nhận được giấy tờ chấp thuận cho đi. Họ len lén mua sắm, chuẩn bị cho ngày lên đường. Mọi người chạy qua chạy lại, bàn bạc, chia sẻ với nhau những tin tức góp nhặt được về đời sống bên Mỹ, về ước mơ tương lai. Lác đác tiếng cười đã trở lại trong những căn nhà lụp xụp, buồn hiu.  

Tôi đứng bên ngoài hạnh phúc đó, nhìn cảnh tượng đó bằng cảm giác của đứa con nít bị bỏ rơi. Các bạn của tôi cứ nghĩ là tôi không có hy vọng, nên họ tránh bàn chuyện đi Mỹ trước mặt tôi. Có nhiều khi họ đang nói mà thấy tôi đến là im bặt. Tôi ráng cười nói cho họ yên tâm dù lòng đau như cắt.

            Giữa năm 1991, H. lên đường đi Mỹ theo diện H.O. 7.

Đêm trước khi đi, hai đứa nói chuyện thật lâu. H. hứa sau khi sang Mỹ sẽ hết lòng giúp mẹ con tôi. Tôi bỏ bản sao của tờ đơn xin đi diện H.O., bản sao của tờ Trích Lục Án Hình, và lá đơn khiếu nại của tôi vào một cái phong bì lớn. Tôi thêm vào đó bản sao của tấm hình thờ của anh, mong có phép lạ để một trong những người Mỹ từng làm việc với anh ở Phòng Nhì tiểu khu Định Tường, Mỹ Tho ngày trước nhận ra anh mà cứu mẹ con tôi. Tôi van vái, “Anh ơi! Anh phù hộ cho H. đưa được đơn đến tay người tốt, cho họ mở lòng thương mà cứu vớt gia đình mình.”

Ngày chia tay, tôi hết gượng nổi, tôi khóc như mưa.

H. lên xe, đem theo hy vọng của chúng tôi. Xe chuyển bánh rồi từ từ xa dần.

Tôi đứng dưới ánh nắng gay gắt, nước mắt chứa chan, nhìn dõi theo chiếc xe mờ dần trong bụi khói rồi biến mất sau khúc quẹo.

***

            H. đi rồi, tôi hồi hộp chờ đợi từng ngày.

Nhiều gia đình cựu sĩ quan ở trong vùng đã ra đi làm tôi càng thấy bơ vơ, khó kiếm người tâm sự. Khó hơn nữa là khi nghe tôi nói rằng tôi muốn khiếu nại với người Mỹ, hầu hết bạn bè đều chớp mắt ái ngại, rồi làm thinh.

Tôi hiểu rằng họ nghĩ người Mỹ sẽ không quan tâm đến một gia đình ở cách nửa vòng trái đất mà mối liên hệ với Mỹ đã bị tử hình từ mười sáu năm trước. Vài người bi quan còn không dám tin là H. sẽ giữ lời hứa với tôi. Họ lắc đầu nói, “Trước khi đi ai cũng hứa hẹn nhưng qua đó nhiều thứ phải lo quá nên người ta quên hết…”

Nhưng H. đã không quên mẹ con tôi.

H. có người anh chồng từng học Quốc Gia Hành Chánh và cũng là một sĩ quan VNCH. Năm 1975, anh giữ chức trưởng phòng kinh tế của Quân đoàn 4, anh cũng bị đi tù nhiều năm, sau đó anh vượt biển và định cư ở Mỹ.

Lá thư đầu tiên H. gởi về kể rằng anh ấy đã dịch lá đơn cùng với lá thư khiếu nại của tôi ra tiếng Anh rồi gởi cho cơ quan di trú Mỹ.

Từ đó, sáng nào tôi cũng thắp nhang trên bàn thờ chồng rồi ngóng chờ thư. Khoảng hai tháng sau, thư của H. đến.

Tôi dụi mắt, coi đi coi lại giòng chữ viết tay của H. để biết chắc là mình không lầm. “Văn phòng ODP bên đây chấp thuận hồ sơ của gia đình bà rồi! Họ sẽ liên lạc với Việt Nam để hoàn tất thủ tục.”

Hai tuần trôi qua với lo lắng, chờ đợi. Rồi tôi nhận được một lá thư của Sở Ngoại Vụ tại Sài Gòn yêu cầu tôi bổ sung giấy tờ về cái chết của chồng tôi.

Tôi đọc lá thư mà điếng hồn.

Như vậy là tờ Trích Lục Án Hình mà tôi đã nộp là không đủ. Chồng tôi bị xử theo luật rừng vào năm 1976, trong một phiên toà rừng tại trại tù, biết có biên bản hay không? Nếu có, biết họ có còn giữ lại sau mười sáu năm hay không?

Tôi lại mở cái hộp sắt và lấy tờ Trích Lục Án Hình ra soi xét. Góc trái của tờ giấy có hàng chữ “Tòa Án Quân Sự Quân Khu 7”.  Tôi sẽ đi tìm từ đầu mối đó.

Ngày đó, ở Mỹ Tho điện nước còn không có đủ, nói gì tới máy tính hoặc mạng internet. Thêm nữa, những hồ sơ về tù chính trị không bao giờ lộ ra ngoài nên tôi thông thể tra cứu, tìm kiếm được ở bất cứ nơi nào.

Cách duy nhất là tới thẳng Tòa Án Quân Sự Quân Khu 7 mà tôi không biết ở đâu. Tôi phải nhờ chị ruột và anh rể tôi đang ở Sài Gòn đi hỏi thăm dùm.

***

Một buổi trưa nắng gắt, có một người đi bộ từng bước xiêu vẹo trên con đường trơ trụi từ bến xe vô nhà tôi. Đó là chị Hai tôi!

Vừa tới nhà tôi, chị lột cái nón quạt lia lịa rồi vừa thở vừa nói, “Tìm thấy địa chỉ của Tòa Án Quân Khu 7 rồi! Đâu dè nó ở ngay tại Sài Gòn! Bây giờ, cái khó là em có dám vô đó hỏi họ về bản án không?”

Hai bàn tay tôi bỗng ướt nhẹp mồ hôi. Mười sáu năm qua tôi đã viết hàng trăm tờ lý lịch khai là chồng tôi mất tích, bây giờ tôi phải đối mặt với công an để nói rằng anh đã chết và tôi muốn kiếm bản án tử hình. Họ có túm đầu cả gia đình tôi về tội khai gian không?

Nhưng giấc mơ đi Mỹ của cả gia đình đã gần kề, cánh tay cứu vớt của người Mỹ đã đưa ra rất gần rồi, tôi nhất định phải nắm lấy. Tôi phải vượt qua mọi gian nan vì tương lai của các con.

Tôi gom góp cây trái trong vườn đem bán, kiếm đủ tiền mua cái vé xe lên Sài Gòn rồi ghé ở nhờ nhà anh chị. Chị tôi trao cho tôi tấm giấy ghi rõ địa chỉ nơi tôi cần đến, cho tôi mượn bồ đồ tươm tất nhất để mặc, nhưng chị cũng lo ăn từng bữa nên chỉ giúp tôi được tới đó.

Tôi cầu cứu cậu em út lúc đó mới tốt nghiệp Sư Phạm, có vợ vừa sinh con nhỏ. Hai vợ chồng vét tất cả gia tài phòng thân đưa cho tôi mượn hai trăm ngàn, lúc đó mua được gần một chỉ vàng.

Buổi sáng ngày tốt mà tôi đã chọn, cậu em chở tôi bằng xe Honda tới trước Tòa Án Quân Khu 7. Trời còn sớm, con đường còn vắng vẻ, cậu Sáu ngừng xe rồi quay lại nhìn tôi, lặng lẽ. Ánh mắt cậu nửa như khuyến khích, nửa như lo lắng, thương cảm khiến tôi mủi lòng muốn khóc. Nhưng tôi gom hết can đảm, lấy giọng bình tĩnh, “Sáu đậu ngay đây, rồ máy sẵn nghe. Có chuyện gì chị phóng lên xe, mình chạy liền nghe.” Cậu em gật đầu, “Em biết rồi, chị cứ vô đi. Ráng cẩn thận!” Tôi xuống xe, thò tay soát lại cuộn tiền dấu trong túi nhỏ ở lưng quần, rồi mím môi bước tới.

Khúc sân xi măng dẫn tới căn nhà nhỏ có tấm bảng đề “Trạm Tiếp Dân” chỉ có mấy thước ngang mà tôi thấy quá dài. Chân tôi ríu lại, tim tôi đập dồn dập, tôi không ngừng van vái, “Anh ơi, phù hộ cho em!”

Tôi là người khách đầu tiên trong ngày, cả căn phòng còn trống không, chỉ có một người công an còn rất trẻ ngồi ở cái bàn nhỏ ngay gần cửa vào. Thấy tôi, hắn hất hàm, “Cần gì?”

Tôi đưa bản sao tờ Trích Lục Án Hình ra rồi lấy giọng nhỏ nhẹ nhất, “Chào chú, tôi muốn xin bản sao của toàn bộ bản án này.”

“Xin để bổ túc giấy tờ đi H.O, phải không?”

“Dạ… Dạ phải. Chú làm ơn giúp dùm!”

Tên công an săm soi ngày tháng trên tờ giấy rồi nói, “Vụ này từ năm 1976, giấy tờ đem ra Hà Nội hết rồi.”

Tôi liếc nhìn quanh, rồi rút nhanh cuộn giấy bạc nhét vào tay hắn và nài nỉ, “Chú làm ơn hỏi dùm tôi…”

Tên công an đút lẹ tiền vào túi, suy nghĩ một chút rồi nói, “Được rồi, để tôi cố tìm. Hai tuần sau chị trở lại.”

Tôi vừa cám ơn hắn vừa lùi ra cửa.

Mười bốn đêm tôi trằn trọc vì lo lắng. Lỡ mà tên công an đó trốn luôn, lỡ mà bản án không còn, lỡ mà công an đòi thêm tiền… Hàng chục cái “lỡ” hiện ra trong đầu làm cho tóc tôi thêm bạc, mặt tôi thêm hốc hác.

Đúng hai tuần, tôi trở lại ngay lúc Toà Án vừa mở cửa. Tim tôi nhảy bình bịch khi thấy tên công an trẻ hôm trước, hắn lôi ra trong ngăn kéo ra một phong bì, đưa cho tôi với một nụ cười thoáng trong ánh mắt nhưng chỉ nói cụt ngủn, “Đây.”

Tôi chụp lấy, miệng líu ríu cám ơn hắn, chân vọt nhanh ra cửa. Mới thấy mặt cậu em, tôi run run lôi ra ba tờ giấy từ trong bao thư ra và nói líu lưỡi, “Có rồi, có rồi, Sáu ơi!”

Tờ đầu là lý lịch của chồng tôi, tờ thứ hai ghi lại diễn tiến trốn trại của anh, và tờ cuối kết thúc bằng giòng chữ:

Xử phạt:         TRẦN VĂN BÉ         Tử Hình

Nước mắt tôi lúc đó mới tuôn ra và lòng tôi lại đau như cắt trước cái trớ trêu của đời tôi: bản án tử hình với những lời chửi chồng tôi là “ác ôn, phản động” cũng là tờ giấy để cứu mẹ con tôi.

***

            Tôi sao lại bản án để gởi lên Sở Ngoại Vụ, còn bản chính tôi cất vào chiếc hộp sắt chung với tờ giấy Trích Lục Án Hình tôi đã nhận năm xưa.

Những đêm mất ngủ tôi lại lấy bản án ra đọc, và tôi đã thuộc từng câu trong đoạn diễn tả những điều xảy ra khi anh vượt trại.

            “… Hồi 11 giờ 30 ngày 5 tháng 3, 1976, Bé đã chui rào trốn ra tới Quốc Lộ 1 và thuê xe lam chạy đến khu vực ấp Bắc Hải. Đến đây nghe thấy tiếng súng nổ ở phía sau, Bé liền xuống xe chạy vào nghĩa địa lẩn trốn. Lúc 18 giờ ngày 5 tháng 3, 1976 Bé chạy tới xã Tân Hiệp – Biên Hòa trà trộn trong nhân dân… Đã có sự bố trí từ trước, nhân dân và chính quyền địa phương đã bắt Bé.”

            Như vậy là anh đã lẩn trốn hơn sáu tiếng đồng hồ, từ trưa tới chiều ngày 5 tháng 3, 1976. Lòng tôi đau như cắt khi nghĩ đến lúc anh bơ vơ ở Biên Hòa, vùng đất miền Nam quê hương, nơi rất thân quen nhưng lúc đó đã trở thành xa lạ, đầy cạm bẫy trong móng vuốt kẻ thù.

Trời ơi! Chúng đã bao vây anh ở Tân Hiệp ra sao? Anh có hoảng hốt, tuyệt vọng không? Anh có bị đánh đập nhiều không? Rồi trong hơn một tháng từ ngày 5 tháng 3 cho tới 10 tháng 4, 1976, anh đã bị hành hạ tới mức nào? Những ngày nóng như lửa nằm trong connex, anh đã đau đớn, đói khát tới bao nhiêu? Những đêm dài khủng khiếp anh đã nghĩ gì? Anh có nhớ vợ con nhiều không? Anh có lời gì muốn nói với với chúng tôi không?

Óc tôi bưng bưng với hàng trăm câu hỏi, ruột tôi đau như xát muối khi nghĩ tới những khổ hình anh phải chịu lúc cuối đời. Trong đêm lặng lẽ, nước mắt tôi tuôn ra, chảy ngược xuống ván, ướt đẫm hai bên tóc mai. Và tôi thường thiếp đi với bản án tử hình úp trên ngực…

***

Sau khi tôi nộp bản án tử hình lên Sở Ngoại Vụ, hồ sơ được Mỹ chấp thuận nhanh chóng và gia đình tôi được vào danh sách H.O. 14.

Nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản đâu có để chúng tôi ra đi một cách dễ dàng! Ngày tôi đi lãnh hộ chiếu, một nhân viên Sở Ngoại Vụ cau có nói, “Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã bỏ tiền ra đào tạo nuôi dạy các con của chị, nay các con chị lại ra đi, không phục vụ cho Đảng và nhà nước. Chị phải đền lại tất cả số tiền mà nhà nước đã bỏ ra. Chị đi về đi, khi nào trả tiền xong cho nhà trường, cầm biên lai lên đây thì sẽ được lãnh hộ chiếu.”

            Tôi lại ra về với nỗi lo thắt thẻo ruột gan.

Trong tay tôi không có tới vài chục ngàn mà họ đòi bồi thường tiền triệu! Chạy xuôi chạy ngược hết mọi nơi, suy nghĩ nát đầu óc, cuối cùng tôi lại phải về cầu cứu mẹ ruột của tôi. Bà suy nghĩ trắng một đêm rồi quyết định cắt một phần đất vườn nhà đưa cho tôi, coi như chia gia tài, mặc dù mẹ tôi còn sống.

Tôi rớt nước mắt vì thương mẹ và tủi thân mình. Từ nhỏ cha mẹ nuôi tôi ăn học, lớn lên làm cô giáo lương bổng ít oi, lấy chồng quân nhân, “tiền lính, tính liền” nên tôi chưa bao giờ có cơ hội báo hiếu cha mẹ.

Rồi cuộc đổi đời làm tôi góa bụa, một nách sáu con thơ, sống được tới giờ cũng nhờ cha mẹ nhịn ăn mà bao bọc. Nay ba tôi đã khuất, các con tôi đã lớn, vậy mà lúc ngặt nghèo cũng lại là mẹ già phải hy sinh.

Tôi vừa khóc vừa rao bán phần đất mẹ cho. Người ta biết tôi cần tiền nên ép giá, chỉ trả hơn một cây vàng. Tôi đem đền trường học gần hết, phần còn lại không đủ để đi xe lên xuống Sài Gòn phỏng vấn và khám sức khỏe nên tôi lại phải mượn em trai tôi.

            Rồi cái ngày mong đợi cũng tới. Ngày 20 tháng Mười Một, 1992, chúng tôi ra phi trường với một cái va li duy nhất chứa hành lý của cả gia đình sáu người. Mỗi đứa con tôi chỉ có một bộ quần áo trên người và một bộ đem theo, chỉ có tôi là được sắm một cái áo lạnh còn lại thì đành tới đâu hay tới đó.

Tôi ôm trên tay tài sản quý nhất, đó là cái bao thư lớn đựng di ảnh của chồng tôi, một vài tấm hình thời chúng tôi yêu nhau, và bản án tử hình.

            Máy bay cất cánh, tôi nhìn qua cửa sổ thấy Sài Gòn thu nhỏ dần mà nghẹn ngào. Cuối cùng, các con tôi đã thoát ra khỏi cái ngục tù bao la của nhà cầm quyền Việt Nam. Lần đầu tiên từ sau tháng Tư, 1975, tôi cảm thấy bình an.

Anh ơi, em đã lo được cho các con như lời anh dặn dò lần cuối. Cái chết đau đớn của anh và nước mắt, mồ hôi của em đã mở đường cho các con đi đến một tương lai tươi sáng. Anh đang mỉm cười, phải không anh?

https://vietbao.com/a307825/ban-an-tu-hinh

Categories
Sưu Tầm

GIA TĂNG SỰ GIÀU CÓ BẰNG CÁCH CHIA ĐỀU NÓ RA


(Lụm trên mạng)

Một giáo sư kinh tế ở một trường Đại học cho biết ông chưa từng ᵭάпҺ trượt sinh viên nào nhưng đã từng ᵭάпҺ trượt cả một lớρ. Lớρ đó kiên quγết cho rằng một xã hội có hình thái tổ chức hoàn hảo là một xã hội bình đẳng, không ai giàu và cũng không ai nghèo và đó là một cách cân bằng tuγệt vời.

Thế là vị giáo sư nói: “Được rồi, vậγ lớρ mình sẽ tiến hành một thí nghiệm về điều đó. Tất cả các điểm sẽ được tổng hợρ lại và chia đều ra, mọi người sẽ nhận được điểm như nhau, vì thế không ai bị trượt và cũng không ai được A cả.”

Sau bài kiểm tra đầu tiên, mức điểm trung bình cho cả lớρ là B. Những sinh viên chăm rất buồn, còn những sinh viên lười rất mừng.

Qua bài kiểm tra thứ hai, những sinh viên lười thậm chí còn lười hơn, còn những sinh viên chăm thì quγết định rằng họ cũng chỉ nên học ít thôi. Điểm trung bình cho bài lần hai là D! Không ai vui cả.

Đến bài thứ ba, điểm trung bình là F. Mức điểm không hề tăng lên, còn các cuộc cãi vã, buộc Ϯộι, nêu tên nổ ra, mọi người đều khó chịu và không ai muốn học để người khác có lợi.

Đến bài cuối cùng, tất cả đều trượt, và ai cũng ngỡ ngàng. Giáo sư đã nói với họ rằng: “Thông qua kết quả những bài kiểm tra thì các bạn có thể dễ dàng thấγ được rằng, kiểu gì thì kiểu xã hội mà các bạn đang mong muốn cũng khó thành hiện thực vì dù ý tưởng rất hấρ dẫn nhưng khi đưa vào thực thi chẳng ai còn động lực để làm việc nữa. Không gì đơn giản hơn thế !”

Cuối cùng ông tổng kết :

“Bạn không thể làm người nghèo giàu lên bằng cách khiến người giàu nghèo đi. Người không ρhải làm gì vẫn được hưởng trong khi người ρhải làm thì không được hưởng gì. Chính ρhủ không thể cho ai cái gì mà không lấγ thứ đó từ người khác. Khi một nửa nhân dân thấγ rằng họ không cần làm gì vì sẽ có nửa khác làm cho, còn nửa còn lại thì nghĩ họ làm cũng chẳng ích gì vì sẽ bị kẻ khác đoạt mất, đó chính là khởi đầu của kết thúc.”

Đừng trông chờ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Không ai có thể gia tăng sự giàu có bằng cách chia đều nó ra!

Sưu tầm

Categories
Sưu Tầm

VIỆN DƯỠNG LÃO : Chuyện Xưa, Chuyện Nay


175540613_10222099747736460_7498694467995077295_n

Viện dưỡng lão, nhà [cho người] già hay “nursing home” là mấy chữ khó khăn cho người nghe, nhất là những người cao niên. Không mấy ai hoan hỷ nghe hay muốn bàn chuyện viện dưỡng lão vì hình ảnh các cụ cao niên lọm khọm, cô đơn ngồi ngó trời ngó đất là một ám ảnh nặng nề. Người trẻ thì chuyện “dưỡng lão” xa vời qua, “còn lâu mới tới phiên mình”. Người già thì sợ hãi trước viễn tượng sống buồn bã, cô đơn giữa những người xa lạ. Người chưa già lắm thì xao xuyến, băn khoăn và lo âu khi phải tìm hiểu về viện dưỡng lão cho thân nhân.
Chuyện cá nhân thì riêng tư như thế nhưng chuyện cộng đồng, quốc gia thì cả một chính sách cần thiết hầu trợ giúp, chăm nom hiệu quả hơn các công dân luống tuổi, những người không còn khả năng tự chăm nom. Đại dịch Covid 19 thổi qua địa cầu, cư dân sống trong viện dưỡng lão là những người nhiễm bệnh và tử vong ở mức cao nhất. Các con số ấy đã đánh thức thế giới và nhà cầm quyền nơi nơi đã bắt đầu chú ý hơn đến viện dưỡng lão.
Tại Hoa Kỳ, khi thuốc chủng ngừa có mặt, cư dân viện dưỡng lão là những người ưu tiên trên danh sách chủng ngừa vì họ là những người dễ nhiễm bệnh lại sinh sống trong môi trường chung đụng với nhiều người khác.
Tại những quốc gia khác, cách giải quyết vấn nạn nhiễm trùng trong các trung tâm dưỡng lão sẽ nói lên phần nào tương lai của các cư dân luống tuổi sinh sống ở địa phương ấy. Sức khỏe, tính mạng của họ có được xem trọng hay không qua các chính sách y tế dành cho người già.
Mức tử vong của người già trong viện dưỡng lão do trận đại dịch Vũ Hán đã khơi dậy những bất bình từ cư dân Hoa Kỳ, và họ đòi chính quyền thay đổi chính sách kiểm soát, theo dõi hoạt động của viện dưỡng lão để trợ giúp người già đắc lực hơn, không thể để họ chết như rạ như việc đã xảy ra. Tất nhiên các vấn nạn ấy không là điều mới mẻ mà là hệ quả của những hoạt động cũ. Lịch sử đã chứng minh điều ấy. Để hiểu rõ hơn, ta cần xem xét những dữ kiện từ lịch sử của viện dưỡng lão, bắt đầu từ đâu và đã diễn tiến, phát triển ra sao; các nguyên nhân nào đã thay đổi cái nhìn của xã hội về tuổi già.
Tại Hoa Kỳ, số người già tuổi 85 trở lên mỗi ngày một đông, cư dân sống lâu hơn mức liệu định của xã hội nên ta chưa có các chính sách rõ ràng hầu giải quyết các vấn nạn y tế, xã hội liên quan đến tuổi già. Người già sức lực kiệt quệ …như chuối chín cây… cần được chăm sóc cẩn thận về sức khỏe cũng như được trợ giúp trong các nhu cầu cá nhân. Có cụ cần được cho uống thuốc men hằng ngày vì không còn minh mẫn để tự sử dụng các món thuốc cần thiết. Có cụ mất cả khả năng tự tắm rửa, thay quần áo. Rất ít những cư dân luống tuổi được gia đình chăm sóc đầy đủ. Số còn lại trông nhờ vào các dịch vụ công cộng và tùy địa phương họ sinh sống, phẩm chất cũng như số lượng của các dịch vụ ấy thay đổi.
Ngày nay, viện dưỡng lão, “nursing home” hoặc “skilled nursing home”, thường bao gồm cả dịch vụ y tế, cung cấp các bữa ăn và đôi khi cả các dịch vụ giải trí để ngày tháng bớt nhàm chán. Ta lại có cả các trung tâm phục hồi, rehabilitation, dành cho các cụ luống tuổi hồi phục sau cơn bạo bệnh sau khi rời bệnh viện và trở về nhà (nhưng chưa cần mức chăm sóc tại viện dưỡng lão).
Các trung tâm chăm sóc ấy còn có cả nơi dành riêng cho những người đã bị lẫn (dementia); tạm hiểu là đủ mọi loại và mức độ chăm sóc từ trợ giúp, phục hồi đến trông nom toàn phần. Cách “phân chia” dịch vụ thành nhiều phần như thế là một kiểu mẫu làm ăn buôn bán, càng nhiều dịch vụ, mức phí tổn càng cao.
Các bài phân tích dịch vụ y tế cho ta thấy được vài điều quan trọng, sự thay đổi theo thời gian, đi ngược về lịch sử từ thế kỷ XVII.
Cuốn sách “Old and Sick in America: The Journey Through the Health Care System” của Tiến Sĩ Muriel R. Gillick, trong những năm 1600 – 1700, khi người Âu Châu chiếm lãnh châu Mỹ, họ mang theo các tập quán sinh sống kể cả việc thành lập “almshouse” tạm dịch là “nhà tế bần” [của tư nhân] dành cho những người không được chăm nom bởi thân nhân hoặc láng giềng; cộng đồng hay quận hạt, chính quyền địa phương.
Nhà tế bần không chỉ dành cho người già yếu mà còn nhận cả các trẻ mồ côi, người khuyết tật hoặc kẻ lang thang không nhà, cung cấp chỗ ở cũng như các bữa ăn.
Đến những năm 1800 – 1900, nhà tế bần là nơi duy nhất cung cấp một số dịch vụ cần thiết cho người nghèo khó, những người không thân nhân để nương tựa. Mãi đến đầu thế kỷ XX, ta mới thấy nhà “dưỡng lão” hay “old age home” ra đời tại Hoa Kỳ. Nhà “tế bần” trở thành nơi dành cho những người bệnh tật, nghiện ngập và không còn là nơi dành cho người nghèo khó nữa. Người nghèo khó, “worthy poor”, được hiểu là những người không có khả năng làm việc để sinh sống và cũng không có thân nhân để nương tựa.
Nhà dưỡng lão thuở ấy thường do các tổ chức tôn giáo hoặc các nhóm đồng chủng / hội ái hữu như Evangelicals, Jewish people, Germans… thành lập và điều hành vì tin rằng họ có trách nhiệm chăm sóc những người “cùng hội cùng thuyền”.
Từ đó ta có Boston’s Home for Aged Woman, Indigent Widows’ and Single Women’s Society in Philadelphia và các trung tâm chăm sóc người già khác.
Các nhà dưỡng lão này thường nhỏ, chỉ có khoảng 30-50 giường; với một lệ phí khiêm nhường, cư dân có chỗ ăn và ở nhưng đủ khả năng dọn dẹp chỗ ngủ và tự vào phòng ăn mỗi ngày.
Vào thời khủng hoảng kinh tế, thập niên 30 của thế kỷ trước, xã hội cần nhiều nhà dưỡng lão hơn nữa vì số cung thấp hơn mức cầu rất xa. Mức dịch vụ cung cấp tại nhà tế bần trở nên tồi tệ [thiếu tiền tài trợ] nên bị xã hội lên án nặng nề.
Các nhà lập pháp thuở ấy cho rằng một ngân sách khiêm nhường để chăm sóc người già sẽ tiết kiệm được các khoản tiền điều hành nhà tế bần. Từ đó, đạo luật An Sinh Xã Hội, the Social Security Act, ra đời năm 1935, bao gồm cả chương trình Trợ Giúp Người Già, the Old Age Assistance (OAA) program, tài trợ cả người nghèo không nơi nương tựa.
Để xóa bỏ nhà tế bần, chương trình OAA không trợ cấp cho người cư trú, vì vậy họ di chuyển sang các nhà dưỡng lão của tư nhân. Thấy có tiền trợ cấp từ chính phủ, các công ty buôn bán đứng ra thành lập “trung tâm dưỡng lão”, quy mô hơn, rộng lớn hơn để kiếm tiền vì có thể kiếm lời từ việc chăm sóc người cư trú hợp lệ. Nghĩa là từ “nhà” sang “viện” hoặc “trung tâm” dưỡng lão. Cách hoạt động này đánh dấu việc chính quyền tham dự vào việc điều hành viện dưỡng lão [chi tiền nên có quyền điều khiển] của các công ty / tổ chức tư nhân ngày nay.
Một thập niên sau, năm 1946, Quốc Hội ban hành Hill-Burton Act cho phép nhà dưỡng lão được thành lập / xây cất chung với bệnh viện và cho phép chính phủ kiểm soát các hoạt động ấy. Viện dưỡng lão trở thành nơi cung cấp các dịch vụ y tế [ở mức độ thấp hơn bệnh viện], tạm hiểu là viện dưỡng lão chuyển từ hệ thống an sinh (welfare) sang hệ thống y tế (healthcare) và theo các tiêu chuẩn hoạt động riêng.
Theo bà Gillick, người Hoa Kỳ trong thập niên 50 xem hệ thống y tế công cộng như bệnh viện, và viện dưỡng lão khi nằm sát bên bệnh viện cũng là một loại bệnh viện dù không có mặt bác sĩ thường xuyên.
Các trung tâm dưỡng lão liên bang sinh sôi nảy nở rầm rộ; một số chịu nhiều tai tiếng và bị đóng cửa vì kém tiêu chuẩn y tế và an toàn. Năm 1965, tu chính Medicare & Medicaid được thêm vào đạo luật Social Security Act thì việc thành lập và điều hành viện dưỡng lão trở thành một ngành kỹ nghệ, buôn bán làm ăn rầm rộ như mọi ngành kỹ nghệ khác.
Đến giữa thập niên 70 thì số viện dưỡng lão gia tăng 140% và mức buôn bán gia tăng 2000%. Số lượng gia tăng nhưng phẩm chất của viên dưỡng lão lại sút giảm. Đến nỗi các trung tâm này bị gọi là “nơi dừng chân & chết” hay “park and die facilities”. Thượng Nghị Sĩ / Dân Biểu David Pryor đã gọi viện dưỡng lão là nơi nằm giữa xã hội và nghĩa địa, “halfway houses between society and the cemetery.” Từ thời điểm này, chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục kiểm soát để duy trì các tiêu chuẩn y tế áp dụng tại viện dưỡng lão.
Người nghèo khó, không có nguồn lợi tức nào khác, cư trú tại những viện dưỡng lão tài trợ bởi Medicaid. Ở đó, mỗi phòng thường có 3 – 4 giường và những chiếc tủ đứng có khóa cho mỗi người cư trú sử dụng nên phòng ốc thường chật chội. Tại những viện dưỡng lão dành cho người khá giả, thân nhân thường phàn nàn về phẩm chất dịch vụ mà họ phải trả tiền. Và khi bất bình, khách hàng thường tìm kiếm những nơi trú ngụ vừa ý hơn, tương xứng với món tiền phải trả. Nhu cầu này dẫn đến sự xuất hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụ trợ giúp người già, assisted living vào thập niên 80; mức độ trợ giúp tùy thuộc vào sự cần thiết của người trú ngụ, từa tựa như nhà trọ và không mấy liên quan đến “y tế” như viện dưỡng lão.
Nói chung, mùi tiền bạc thu hút người buôn bán đến làm ăn qua việc cung cấp dịch vụ “trợ giúp người già”. Kỹ nghệ này cũng nhanh chóng phát triển, nhanh chóng đến nỗi nhiều tài phiệt bỏ cuộc vì mức lời lãi không như họ mong muốn: Xây cất một tòa nhà thì dễ dàng nhưng chăm sóc người cư trú trong các tòa nhà ấy là việc khó khăn; cách chủ nhà hoạt động [làm ăn buôn bán] ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của người cư trú, nhất là những người đau yếu, sức khỏe mòn mỏi, không còn minh mẫn để tự chăm sóc. Kỹ nghệ này chú trọng sức khỏe thể xác, theo tiêu chuẩn tối thiểu của chính phủ như bữa ăn, vệ sinh thân thể cho người cư trú. Để đạt đủ tiêu chuẩn chăm sóc người già, ta cần nhiều yếu tố nhất là sự hiểu biết về y tế của chủ nhà và nhân viên làm công việc chăm sóc.
Những kiểu mẫu mới bắt đầu xuất hiện, nhà dưỡng lão chú trọng đến tâm thần của người cư trú ngoài sức khỏe thể xác, con số này rất khiêm nhường, chưa mấy phổ thông.
Dù mức tử vong tại viện dưỡng lão do đại dịch Vũ Hán là một con số kinh hoàng, 170,000+ con người trên toàn quốc, viện dưỡng lão vẫn là nơi cư trú thiết yếu cho người già nghèo khó vì các trung tâm trợ giúp, assisted living facilities, không nhận chăm sóc người nghèo trong khi viện dưỡng lão, nursing home, được tài trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ qua chương trình Medicaid.
Tính đến hôm nay, chăm sóc người già là một kỹ nghệ lớn trị giá khoảng 100 tỷ mỹ kim hàng năm, tài trợ bởi Medicaid và nguồn tài lực tư nhân. Câu hỏi khiến các nhà xã hội băn khoăn là làm thể nào để kiểm soát, theo dõi hoạt động của các trung tâm chăm sóc người già này hiệu quả hơn, tránh được các vấn nạn xảy ra trong thời đại dịch.

(Sưu tầm từ Andy Khánh @ Lydiem Vuong)

Categories
Thế Giới

Cảm ơn tổng thống Trump


 

FB Larry De King Jan. 08, 2021 

Cho đến hôm nay thì kết quả bầu cử xem như đã định đoạt. Ông Biden đã thắng trong một cuộc bầu cử tai tiếng nhất lịch sử Mỹ.

139326625_3702128773227731_5329049378192703140_n

Với 81 triệu phiếu bầu thì ông Biden bỏ xa thầy ông là Obama, trở thành vị tổng thống lừng lẫy nhất trong lịch sử, hơn cả bậc tổ phụ George Washington, Abraham Lincoln, hay Franklin Roosevelt, và xứng đáng được tạc tượng ghi công đời đời.

Nhưng thực tế có quá nhiều điều tiếng từ mọi giới. Ngoài những cáo buộc gian lận cụ thể, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra nhiều nghi ngờ của máy đếm phiếu Dominion. Nhưng tất cả đều rơi vào im lặng.

Không phải tự nhiên mà có 22 tiểu bang, 12 thượng nghị sĩ, 120 hạ nghị sĩ phản đối kết quả, cùng hàng chục triệu người Mỹ đã ký tên yêu cầu kiểm phiếu lại.

Còn nhớ trong đêm ma quái 3/11 rạng sáng 4/11 đồng loạt 6 tiểu bang chiến địa đều ngưng đếm khi lượng phiếu áp đảo dành cho ông Trump, để rồi sáng hôm sau kết quả được lật ngược.

Chuyện 1 tiểu bang ngưng đếm phiếu thôi đã là hy hữu, chưa từng xảy ra trong lịch sử, thì chuyện đồng loạt 6 tiểu bang chiến địa cùng ngưng là chuyện có đáng dành cho 1 cuộc điều tra?

Lần theo lịch sử, gần 100 năm nay, ứng viên nào thắng 3 tiểu bang gay go nhất là Florida, Ohio và Iowa thì luôn luôn thắng. Rồi khi một tổng thống tái ứng cử nhiệm kỳ 2 mà có số phiếu cao hơn lần đầu cũng chưa bao giờ thua.

Ông Trump thắng cả 3 tiểu bang đó, và chiếm được 75 triệu phiếu, hơn 12 triệu so với 4 năm trước. Vậy mà ông vẫn thua. Yếu tố này có khơi dậy nghi ngờ cho dân Mỹ?

Đang khi đó, ông Biden đã gặp nhiều khó khăn trong những những vòng bầu cử sơ bộ nội bộ đảng DC, số phiếu dành cho ông rất ít. Cuối cùng phải có sự thỏa hiệp nội bộ đảng DC để ông thay cho Bernie Sanders ra ứng cử. Ấy vậy mà ông đã chiếm được 81 triệu phiếu bầu, cao nhất, lừng lẫy nhất lịch sử tổng thống Mỹ. Rồi trong các cuộc rally tranh cử của ông chỉ le hoe vài chục mạng. Lúc đó 81 triệu người này ở đâu?

It’s too good to be true. 🙂

Giá mà yêu cầu kiểm tra lại phiếu (verify) được thực hiện, và ông Biden đúng là thắng cử với số phiếu nói trên thì tôi sẽ rất vui gửi đến ông lời chúc mừng chân thành nhất, dù tôi không thuộc phe DC.

***

Thử nhìn lại 4 năm qua để thấy rằng ông Trump không bao giờ có thể thắng lần này. Dĩ nhiên ông Biden không phải là tay chơi chính, mà đằng sau là những thế lực ngầm, bọn Deep State mà trước đây mình chỉ cho là thuyết âm mưu.

 

Ông thắng cử 4 năm trước là may lắm rồi. Là do họ không ngờ, quá chủ quan, vì các thăm dò đều cho là bà Hillary 90% thắng.

.
unnamed (75)

Nhưng sau đó là gì? Ông chưa kịp nhậm chức là đã có người công khai việc đàn hặc ông.

Và chỉ vài tháng sau, kế hoạch bắt đầu với câu chuyện thần thoại mang tên Russia Collusion. Một hội đồng đặc biệt được thành lập toàn các điều tra viên và luật sư thượng thặng của nước Mỹ vào cuộc bới lông tìm vết. Họ biết là không có vụ collusion, nhưng tự tin sẽ tìm được tì vết khác để bứng ông khỏi ghế, ai mà không có “a skeleton in the closet” chứ.

Nhưng phải nói ông Trump phòng thủ quá kỹ, hoặc là quá sạch để rồi 22 tháng trôi qua họ không tìm được gì. Thua keo này bày keo khác. Kế tiếp là vụ Ukraine call quid pro quo. Lần này họ lại thất bại vì quá nôn nóng cùng 1 lý do ất ơ.

Sau đó là sự cố black lives matter. Vụ George Floyd giờ đã đi vào quên lãng sau khi đã làm xong sứ mệnh. Tháng 5/2020, một video clip được tung ra và lan tràn khắp mạng. Trong đó người ta thấy cảnh viên cảnh sát da trắng chèn cổ George, và sau đó anh này chết trên đường đến bệnh viện. Cả nước Mỹ bùng lên phong trào biểu tình đập phá, đổ lỗi cho ông Trump, cho dù chuyện này xảy ra ở tần số dầy đặc thời ông Obama.

.
6226523_060220-ewn-5am-donkeeboy-george-floyd-mural-brittaney-vid

Nhưng vài tháng sau đó, một video đầy đủ hơn được tung ra. Ở đó là 1 câu chuyện khác. George đã chống đối cảnh sát, không chịu vào xe, 2 bên giằng co rất lâu, cảnh sát không hề cố ý. George đã chết vì bệnh lý công thêm chơi ma túy. Nhưng cái clip đầu tiên đã cắt đi phần đầu này. Cả thế giới mắc mưu, tôn George lên hàng thánh tử vì đạo. Hàng chục triệu người trên thế giới thương tiếc tiển đưa, và chỉa mũi dùi vào ông Trump.

Rồi kế tiếp là dịch covid tràn đến từ china. Đây là cơ hội vàng, phe DC tha hồ đổ lỗi cho ông, dù trước đó ông đã ra lệnh cấm travel từ china và bọn chúng thi nhau chửi bới ông là bài ngoại cực đoan. Bà Pelosi còn xuống tận phố tàu San Francisco kêu gọi mọi người đừng sợ, đừng nghe lời Trump.

Bọn truyền thông dòng chính MSM thì khỏi bàn, chính chúng từng chửi ông là tung tin đồn nhảm, con covid không đáng sợ. Nhưng sau đó nuốt lời, quay lại tấn công ông.

Với bọn này thì tin xấu về ông sẽ được mở hết công suất. Còn tin tốt của ông sẽ bị bóp méo thành xấu, còn làm không được thì dìm đi. Mỗi lời ông tweet ra đều bị chúng bâu vào mổ xẻ chửi bới, cười cợt bằng thích.

2 thằng ku mác (facebook) và ku jác (twitter), cộng thêm thằng ku gốc Ấn sundar pichai (google) lao vào đấm bồi, thi nhau kiểm duyệt, treo tài khoản của ông, nhưng miệng thì luôn chửi rằng ông là kẻ độc tài. 🙂

Đang khi đó chúng lại cúi đầu trước china, chặn và khóa luôn tiếng nói của những người bất đồng chính kiến ở VN theo yêu cầu của chính quyền độc tài.

***

Nói tóm lại, Trump là vị tổng thống bị đối xử bất công nhất lịch sử. 4 năm của ông không bao giờ thôi sóng gió. Ấy vậy mà ông lại có bảng thành tích lừng lẫy nhất, Ngoài những thành tích chói sáng về kinh tế, ông đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực đối ngoại.

Thời của ông lính Mỹ hy sinh ít nhất, mà thế giới lại hòa bình nhất. Ku Ủn Bắc Hàn không còn hung hăng ăn vạ, Mỹ không phải tốn 1 xu. Iran không còn hung hăng. Đặc biệt hòa bình Trung đông đang ló dạng sau hàng chục năm máu chưa bao giờ ngưng đổ ở miền đất dữ này. 2 dân tộc Do thái và Ả rập đã ngồi xuống bắt tay nhau hứa hẹn chung sống hòa bình.

Đây là 1 kỳ tích chưa đời tổng thống Mỹ nào dám mơ đến, vậy mà bọn bất lương MSM cố tình lờ đi.

Ông là 1 bất ngờ thú vị của lịch sử khi một tay ngang lên làm tổng thống mà lại đạt nhiều thành tích trong điều kiện bị chống phá khốc liệt, bị đối xử bất công nặng nề. Bọn MSM với hơn 90% sức mạnh truyền thông ngày ngày bôi nhọ ông, kết hợp với bọn big tech và cả big pharma cũng thông đồng đốn ông cho chết thì thôi.

Bù lại, ông là tổng thống được nhiều dân Mỹ yêu mến nhất. Con số 75 triệu phiếu dành cho ông là một thách thức lớn cho chính quyền mới. Ông cũng là vị tổng thống đảng CH chiếm nhiều phiếu bầu của người da đen và Hispanic nhất, mặc cho bọn MSM bất lương ngày ngày tố cáo ông là kỳ thị, ủng hộ thượng tôn da trắng.

Nhiều người bảo ông chơi trò dân túy, tức có tính mị dân. Điều này sai hoàn toàn. Các hình thức mang tính dân túy là sở trường của đảng DC, thông qua chương trình trợ cấp rộng rãi cho người nghèo bằng food stamps và hiện kim. Còn xu hướng CH chủ trương tạo công ăn việc làm, khuyến khích dân đi làm để tự lo thân hơn là chờ vào trợ cấp.

4 năm trước, dân Mỹ quá chán ngán các chính khách chuyên nghiệp nên đã chọn 1 kẻ ngoại đạo là ông Trump. Dĩ nhiên có rất nhiều người nghi ngờ về năng lực. Nhưng sau 4 năm làm việc, một số đông người trước đây không thích ông đã quay sang ủng hộ ông, bởi họ nhìn được những thành quả mà ông đem lại cho nước Mỹ. Dân Mỹ không ngu để dễ bị dụ như các bạn tưởng. May là những người Mỹ này không đọc CNN, NYT, WaPo…, nên không bị ngộ độc. 

Tuy vậy, cũng có không ít kẻ ghét ông. Ghét đến thậm tệ, thù ông còn hơn cả câu chuyện Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật chờ ngày báo thù. Mà ông có gây thù oán với họ chi mô, nhất là những người trong nước, có khi suốt đời chưa 1 lần đặt chân đến Mỹ 🙂 . Ông cũng chả hại gì đến nước Việt, nếu không nói là giúp họ tự tin hơn khi đối phó với china.

Dù gì thương hay ghét đều là tự do cá nhân bất khả xâm phạm. Người ghét ông cứ chửi bới lăng nhục ông thoải mái. Nhưng làm ơn đừng nhân danh DÂN CHỦ nha. Như anh Trịnh Hội vừa rồi, sau sự cố Capitol Hill bị người biểu tình tấn công, anh nhanh chóng đổ lỗi cho Trump, bảo ông là thằng lưu manh, rồi giận tím mặt, đến mức hủy kết bạn tất cả những ai ủng hộ Trump, vì không biết đến dân chủ căn bản. 😀

Nhưng Hội quên là 4 năm trước, khi Trump thắng cử minh bạch 100 lần hơn cuộc bầu cử này, phe Hilary bị shock nặng, dù không 1 lý do chính đáng, đã có biểu tình bạo động trên 52 thành phố của nước Mỹ. Nhiều cửa hàng bị đập phá cướp bóc. Lúc ấy Hội ở đâu? Hội có cho là bà Hilary lưu manh không?

4 năm thì hơi lâu, chắc Hội tánh mau quên. Mới mấy tháng trước thôi, khi bọn BLM biểu tình đập phá khắp nước Mỹ, ông Obama lên tiếng kêu gọi phải biểu tình mạnh hơn nữa để làm áp lực lên chính phủ. Mà biểu tình của BLM Hội biết rồi, lúc nào mà không có kèm theo đập phá cướp bóc. Hội còn nhớ không? Và Obama có là kẻ lưu manh theo định nghĩa của Hội?

4 năm trước ông Trump thắng cử thì Hội ko công nhận, đòi bỏ nước Mỹ mà đi 🙂 . Dân chủ của Hội là loại dân chủ THƯƠNG – GHÉT. Thương thì đích thị là dân chủ rồi, còn ghét thì 100 lần không. 🙂

Đã vậy Hội lại còn hăm hủy kết bạn với những ai suy nghĩ khác mình. Đây là phản ứng của loại dân chủ trẻ con chưa trưởng thành.

Nói cho Hội nghe, những người biểu tình hôm nay có lý do rất chính đáng chứ không phải những lý do vu vơ như bọn BLM hay Antifa biểu tình đập phá vô lối mà Hội chưa bao giờ hé răng nói 1 lời cho công đạo.

Nói tóm lại, thù ghét Trump là quyền cá nhân, từ trước tới nay tôi luôn luôn tôn trọng. Có không ít bạn bè tôi ghét Trump, nhưng chúng tôi không vì thế mà từ mặt nhau.

Cứ chửi bới nguyền rủa ông thoải mái, nhưng làm ơn, làm ơn đừng nhân danh dân chủ, nghe khắm lắm. Còn nữa, lại còn có khi chửi luôn những người ủng hộ ông. Cái này là dân chủ quá đà, không chịu được người khác chính kiến, như nhóm của anh nhà báo Huy Đức vậy. Loại dân chủ này mình đặt tên là dân chủ thịt chó mắm tôm, chỉ giỏi ác với Trump, còn rất hèn với Trọng.

Đặc biệt, tên tổng thống “lưu manh” mà Hội đang thù ghét lại vừa được viện thăm dò Gallup khá uy tín cho kết quả ông là nhân vật được ngưỡng mộ nhất (Most Admired Man) của năm 2020, qua mặt cả thần tượng Obama của Hội luôn đới. Còn Biden chỉ có đứng xa mà nhìn thôi.

Thế mới biết ngọn lửa hận thù có sức tàn phá ghê gớm, nó có thể biến một tâm hồn hiền lương thành hung hãn, độc ác.

***

Dĩ nhiên 8 năm thì tốt hơn nhưng 4 năm vừa qua của ông Trump với mình cũng là quá đủ. Ông đã đem lại một sắc thái mới, độc đáo, thú vị trong dòng chảy chính trị phải đạo, sáo mòn của Mỹ. Từ đây, 4 năm của ông sẽ được đem ra so sánh, đối chiếu với những đời tổng thống sau này.

Với mình, ông có nhiều cái dở, không khéo léo chính trị, đôi khi gây thù chuốc oán một cách không cần thiết. Chính trị của ông như quản trị một công ty, với thước đo là năng lực, lòng nhiệt thành và hiệu quả công việc.

Nhưng chính trị không hẳn vậy, chính trị đôi khi phải ma giáo, thỏa hiệp, kể cả xuống tay thâm hiểm, tàn độc để đạt mục đích. Vô độc bất trượng phu là vậy. Và ông không có những kỹ năng đó.

Dù vậy, cá nhân mình vẫn thích cung cách chính trị nghiệp dư, lấy kết quả làm thước đo, hơn là những chính trị gia lão luyện, có khi mòn cả gối, toét cả miệng để leo lên các nấc thang trên cao. Nói thì như thánh, hứa thật nhiều, làm như cái lon.

Những kẻ này làm mình liên tưởng đến bọn hoạt động đoàn, đảng rồi ngoi lên làm cán bộ dù bất tài, đang đầy rẫy ở trong nước, điển hình là tên Nguyễn Thành Tài và Tất Thành Cang.

***
51975512_720074838410766_5791697084360949760_n

Xin chân thành cảm ơn tổng thống Trump qua 4 năm sóng gió, đã để lại một di sản không hề tệ. Phần đánh giá này xin dành cho các sử gia sau này.

Ông không còn là tổng thống, nhưng vẫn là một tỷ phú có đời sống vương giả cùng vợ đẹp con ngoan. Mong là ông an hưởng hạnh phúc gia đình.

Ông còn là niềm cảm hứng để cá nhân tôi tìm hiểu về chính trị Mỹ, biết được một bộ mặt khác của nước Mỹ, nơi có hàng chục bạn bè thời tỵ nạn của tôi đang của tôi đang vui sống.

Với các bạn yêu mến Trump, mình hiểu nỗi thất vọng của các bạn, nhất là khi cuộc bầu cử này có quá nhiều khuất tất. Đây cũng là lý do chính để mình viết bài này. Chính trị là thế, không phải phe mình lúc nào cũng thắng. Hãy hành xử cao thượng. Dĩ nhiên các bạn có quyền phản biện, nhưng hãy nhắm vào các chính sách của tổng thống, những bất công, vô lý, hơn là đi vạch lá tìm sâu, đặt điều, bóp méo thông tin để tấn công chửi bới cá nhân như bọn báo chí thổ tả MSM đã từng làm với ông Trump.

2 wrongs don’t make a right. Đó là sự khác biệt giữa ta và họ.

Và trên hết, quyền yêu mến tổng thống Trump vẫn còn nguyên vẹn, và bất khả xâm phạm. Không ai cấm các bạn tiếp tục yêu mến và ủng hộ ông Trump trong những ngày sắp tới cả.

Cũng nhờ ông Trump mà chúng ta đã kết nối, đồng cảm, và trở thành những người bạn dễ thương. Có phải vậy không?

*** 

Thế giới giờ đã chuyển sang cuộc cờ mới. Ai sẽ vui còn ai phải gặm nhấm nỗi buồn lo?

Có lẽ giờ này ở Trung Nam Hải, cạnh Cấm Tử Thành, Tập hoàng đế đang mở Mao đài tửu ngàn năm, bu quanh là đàn cung nữ, để ăn mừng cuộc bất chiến tự nhiên thành này. Đối thủ khó gặm nhất đã bị hạ bệ bởi chính họ, có còn trở lực nào cho những tham vọng sắp tới? 2 cha con ông Biden từ lâu đã nằm trong túi ta rồi, không còn gì phải lo.

Cuộc thương chiến sẽ chấm dứt, các công ty china tiếp tục bành trướng, huawei, ZTE sẽ tăng trưởng mạnh, các viện khổng tử rất có thể trở lại các trường đại học Mỹ, sinh viên china sẽ tiếp tục tràn sang, lẫn trong đó là nhiều bọn gián điệp.

Thứ nhì là tên biến thái Hunter Biden. Nổi ám ảnh ông Trump thắng cử đồng nghĩa với việc hắn rất có thể phải đi gỡ lịch đã qua. Bây giờ vẫn tiếp tục ăn hút, gái gú thôi, nhưng kín đáo hơn là được. Đừng ngáo đá lần nữa rồi bỏ lại cái laptop nha. Lịch sử không lặp lại 2 lần.

Thứ đến là Iran, chắc họ đang mở đại tiệc ăn mừng và cười cợt kẻ thù ngàn năm là Trump, người đã tước mạng của viên tướng lừng lẫy nhất của quốc gia này, và là bậc thầy của chiến tranh khủng bố, môn võ công lợi hại của Iran. Mối thù này sẽ được thương lượng hậu hỉ với chính quyền mới.

Bên kia bờ Thái bình dương lại là câu chuyện khác. Hong Kong sẽ sớm sát nhập với china thôi. Những phản ứng của dân HK sẽ bị dập tắt bằng bạo lực, và chính quyền Biden sẽ phản đối chiếu lệ.

Dân Xứ Đài lại trở về mối lo thường trực. Mấy năm qua danh phận xứ này đang lên như diều trên trường quốc tế nhờ ủng hộ rất mạnh của chính quyền Trump. Nay thì chấm hết. china sẽ trở lại thói ỷ mạnh hiếp yếu, và vẫn vậy, chính quyền Biden sẽ phản đối chung chung.

Cuối cùng là Việt Nam. Các tàu thăm dò của china sẽ trở lại hải phận VN, các ngư dân miền trung sẽ tiếp tục bị bách hại. Việt Nam sẽ tiếp tục quan ngại, và chính quyền Mỹ kêu gọi 2 bên tự chế cho phải đạo chính trị.

Trên đây là những phán đoán cá nhân của mình dựa vào trường phái chính trị thân thiện với china của đảng DC. Năm 2011 quyển Death by China của giáo sư Peter Navarro ra đời, cất lời cảnh báo về con rồng đỏ đang lên và ngày càng nguy hiểm. Nhưng chính quyền Obama đã không quan tâm. Ông còn tại vị cho đến 5 năm sau đó với nhiều chính sách thân thiện với china. Mãi cho đến 2016 ông Trump mới bắt đầu cuộc chiến khốc liệt với rồng đỏ như các bạn đã chứng kiến.

Dĩ nhiên là phán đoán này có thể sai, và mình mong là mình sai 100% càng tốt.

PS:
Công việc mình ngày càng nhiều áp lực, mình không còn đủ thời gian viết, và một phần cũng chán thằng ku mác về thói mất dạy của hắn.

Mình chỉ là tên làm công ăn lương, phải lo chu toàn công việc trước, bằng không bị đuổi thì buồn lắm. Nên sắp tới mình sẽ không chơi facebook nữa. Tuy vậy các bạn bè thân thiết vẫn có thể liên lạc với mình qua messenger.

Thân ái.
Larry De King 

Categories
1 - Văn Thầy Trò Trịnh Hoài Đức Văn Con Gà Què Azalea

NHỮNG CON TƯƠNG CẬN… ĐANG PHÁ TANH BANH NƯỚC MỸ !


(Coi để cười vui. Just for fun !)

NHỮNG CON TƯƠNG CẬN… ĐANG PHÁ TANH BANH NƯỚC MỸ !

People who Resemble animals are destroying USA !

(Coi để cười vui. Just for fun ! Hahaha !)

(Hình lụm – Nhớ bấm vào từng hình)

Joe Biden – US President by fraud
Kamala Harris – US Vice President by fraud
Kamala Harris – US Vice President by fraud
Nancy Pelosi
Bernie Sander
AOC
AOC

(Hình lụm)

Posted FB Azalea Vu Feb. 21, 2021

Trở về =>  Văn Con Gà Què Azalea  –  Thơ Con Gà Què Azalea  –  

HOME

Categories
1 - TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 6 - Thơ Con Gà Què Azalea 8 - Thơ Lê-hữu-Nghĩa 9 - Thơ Trần Đông Thành Thơ

LỪA KHÙNG và những bài thơ họa


Đọc thơ tại đây => LỪA KHÙNG và những bài thơ họa

Trở về => TRANG THƠ XƯỚNG HỌA 4 – Thơ Con Gà Què – Thơ Lê Hữu Nghĩa –  Thơ Thầy Hồ Nguyễn  –  Thơ Trần Đông Thành

HOME

Categories
Video Clip Thời sự Tran MaiCoUSA

Tran MaiCoUSA Trang 7


Mời trở lại để xem Video clip mới (gần như) hàng ngày

 

#576 11APR21: TT TRUMP NÓI MCCONNELL LÀ “CHÚ NGO”, THẤT VỌNG VỚI PENCE!

11APR21: IRAN BỊ CÚP ĐIỆN, NGHI NGỜ DO THÁI TẤN CÔNG MẠNG!

#575 10APR21: VÌ TT TRUMP MÀ PELOSI BỊ “BỂ KẾ HOẠCH” NĂM 2016!

10APR21: TQ ĐEM TÀU DÂN QUÂN RA BIỂN, ĐÀI LOAN DỌA TRẢ ĐŨA!

#574 09APR21: VẼ LẠI BẢN ĐỒ – CƠ HỘI CHO TT TRUMP & MAGA 2022!

#574 09APR21: VẼ LẠI BẢN ĐỒ – CƠ HỘI CHO TT TRUMP & MAGA 2022!

09APR21: HOÀNG THÂN PHILIP QUA ĐỜI, TT TRUMP GỜI LỜI PHÂN ƯU!

#573 08APR21: ÔNG PENCE MUỐN “HÒA GIẢI” VỚI MAGA CHO 2024?

08APR21: MỸ XUỐNG NƯỚC, BỎ HẾT TRỪNG PHẠT LÊN IRAN!

#572 07APR21: BÀ CON MONG TT TRUMP TRANH CỬ GHẾ CỦA PELOSI!

07APR21: CALIFORNIA BẤT NGỜ MỞ CỬA LẠI VÀO NGÀY 15 THÁNG 6!

#571 06APR21: BIDEN CHỊU THUA TT TRUMP, HARRIS CÓ BÀN MỚI CỦA TỔNG THỐNG!

06APR21: NGA BÀY TỎ SỰ ỦNG HỘ QUÂN ĐỘI MIẾN ĐIỆN!

#570-2 05APR21: TT TRUMP “DẬP” NEW YORK TIMES TƠI BỜI VÌ FAKE NEWS! (PART 2)

#570-1 05APR21: TT TRUMP “DẬP” NEW YORK TIMES TƠI BỜI VÌ FAKE NEWS! (PART 1)

05APR21: KẺ THÙ & ĐỒNG MINH ĐÃ HẾT NỂ SỢ HOA KỲ VÌ BIDEN!

#569 04APR21: LS SIDNEY POWELL PHỦ NHẬN BÀ LÀ LUẬT SƯ QUÂN ĐỘI!

04APR21: ĐH CORNELL PHẢN ĐỐI LIÊN KẾT VỚI ĐH BẮC KINH!

#568 03APR21: TT TRUMP KÊU GỌI TẨY CHAY CÁC CTY ĐẠO ĐỨC GIẢ!

03APR21: BIDEN ĐƯA RA CHÍNH SÁCH DỄ DÃI VỚI THẾ GIỚI HỒI GIÁO!

#567 02APR21: TT TRUMP NÓI SẼ TIẾP TỤC TUNG BẰNG CHỨNG VỀ BẦU CỬ 2020!

02APR21: 02APR21: NÓNG – KẺ ĐIÊN LOẠN LAO XE VÀO CẢNH SÁT, ĐIỆN CAPITOL LOCKDOWN!

#566 01APR21: “TAM GIÁC QUỶ” ĐÁNH DB GAETZ ĐỂ TRIỆT HẠ MAGA!

01APR21: CÁC CTY MỸ ĐẠO ĐỨC GIẢ Ở MỸ NHƯNG IM LẶNG TRƯỚC TQ!

#565 31MAR21: TT TRUMP VẪN CHƯA TIẾT LỘ CÓ TRANH CỬ 2024 KHÔNG!

31MAR21: NGA BẤT NGỜ ĐƯA QUÂN TỚI BIÊN GIỚI VỚI UKRAINE!

#564 30MAR21: ÔNG MIKE “GỐI ÔM” NÓI TT TRUMP SẼ TRỞ LẠI VÀO THÁNG 8!

30MAR21: W.H.O BAO CHE TQ TRONG BÁO CÁO NGUỒN GỐC CON CÚM!

Vui lòng bấm vào những links dưới để xem Video clips cũ trên YouTube :

672 – #563​ 29MAR21: TT TRUMP KHAI TRƯƠNG WEBSITE MỚI!

671 – #562​ 28MAR21: CẬP NHẬT MỚI NHẤT VỀ MẠNG XÃ HỘI CỦA TT TRUMP!

670 – #561​ 27MAR21: TT TRUMP TUYỂN MỘ MAGA 2022 BẰNG REALITY SHOW!

669 – #560​ 26MAR21: TT TRUMP DỰ ĐỊNH THỊ SÁT BIÊN GIỚI MỸ-MỄ!

668 – #559​ 25MAR21: JOE BIDEN HỌP BÁO, TIẾT LỘ MÌNH… 151 TUỔI !

667 – #558​ 24MAR21: RINO MUỐN TT TRUMP “CHIA SẺ” VÀI GHẾ TNS 2022!

666 – #557​ 23MAR21: “NGŨ HỔ TƯỚNG” CỦA TT TRUMP ĐÁP TRẢ ĐƠN KIỆN TỪ DOMINION!

665 – #556​ 22MAR21: TT TRUMP GỢI Ý TÊN NHÓM QUYỀN LỰC ĐỨNG ĐẰNG SAU BIDEN!

664 – #555​ 21MAR21: TT TRUMP SẼ TÁI XUẤT TRÊN MẠNG XÃ HỘI RIÊNG CỦA MÌNH!

663 – 21MAR21: DB SWALWELL VẪN ĐƯỢC GIỮ LẠI ỦY BAN TÌNH BÁO!

662 – #554​ 20MAR21: TT TRUMP TRẢ LỜI QUÁ HAY KHI THẤY BIDEN TÉ!

661 – 20MAR21: BIDEN TỰ HÀO VỚI BLINKEN KHI MỸ BỊ TQ SỈ NHỤC…

660 – #553​ 19MAR21: KHU MAR-A-LAGO CỦA TT TRUMP BỊ ĐÓNG CỬA MỘT PHẦN!

659 – 19MAR21: TQ “SỈ NHỤC” MỸ “KHÔNG CÓ TƯ CÁCH” TẠI ALASKA!

658 – #552​ 18MAR21: DÂN MỸ CHÚ Ý – BIDEN GỌI HARRIS LÀ “TỔNG THỐNG”!

657 – 18MAR21: PUTIN THÁCH BIDEN TRANH LUẬN TRỰC TIẾP TRÊN TV!

656 – #551​ 17MAR21: QUÂN ĐỘI MỸ ĐANG BỊ CHÍNH TRỊ HÓA & CÁNH TẢ HÓA!

655 – 17MAR21: TÌNH BÁO BIDEN LẠI TỐ PUTIN CAN THIỆP BẦU CỬ 2020!

654 – #550​ 16MAR21: 2 TIN RẤT VUI TỪ ÔNG MIKE GỐI ÔM!

653 – 16MAR21: 45% DÂN MỸ CÔNG NHẬN TQ LÀ MỐI ĐE DỌA LỚN NHẤT!

652 – #549​ 15MAR21: ĐẢNG DC MUỐN LẬT ĐỔ KẾT QUẢ BẦU CỬ HẠ VIỆN TẠI IOWA!

651 – 15MAR21: VỢ HOÀNG TỬ HARRY THAM VỌNG TRANH CỬ TỔNG THỐNG MỸ 2024!

650 – #548​ 14MAR21: TB GEORGIA ĐANG MUỐN PHÁ TT TRUMP 2022 & 2024!

649 – 14MAR21: MỘT HẠ SĨ VBQG QUA ĐỜI KHI ĐANG ĐỒN TRÚ TẠI D.C!

648 – #547​ 13MAR21: BIDEN CHO QUÂN NHÂN MỸ… ĐI CHUYỂN GIỚI MIỄN PHÍ!

647 – 13MAR21: ĐẢNG DC XÀI HƠN $500 TRIỆU ĐỂ DUY TRÌ VBQG Ở D.C!

646 – #546​ 12MAR21: TT TRUMP CHUẨN BỊ ĐƯA CON DÂU RA TRANH CỬ TNS!

645 – 12MAR21: THÔNG BÁO QUAN TRỌNG VỀ CUỘC BÃI NHIỆM NEWSOM!

644 – #545​ 11MAR21: ĐỆ TỬ TT TRUMP DẠY MỘT BÀI HỌC CHO ĐẢNG CH TẠI HẠ VIỆN!

643 – 11MAR21: TƯỚNG KHÔNG QUÂN CẢNH BÁO MỸ CÓ THỂ THUA TÀU!

642 – #544​ 10MAR21: ÔNG PENCE SẮP TÁI XUẤT ĐỂ CHUẨN BỊ CHO 2024!

641 – 10MAR21: HẠ VIỆN THÔNG QUA DỰ LUẬT $1,900 TỶ!

640 – #543​ 09MAR21: DB GAETZ – NƯỚC MỸ CHUẨN BỊ CÓ TỔNG THỐNG 47?

639 – 09MAR21: ÔNG MIKE GỐI ÔM SẮP RA MẮT MẠNG XÃ HỘI MỚI!

638 – #542​ 08MAR21: TT TRUMP THÔNG BÁO KHẨN, ĐẢNG CỘNG HÒA CHOÁNG VÁNG!

637 – 08MAR21: TCPV BÁC ĐƠN KIỆN BẦU CỬ CUỐI CÙNG CỦA TT TRUMP!

636 – #541​ 07MAR21: MARICOPA COUNTY ĐANG LÉN LÚT HỦY PHIẾU BẦU 2020!

635 – 07MAR21: TT TRUMP SẼ VỀ THĂM NYC VÀO TỐI NAY!

634 – #540​ 06MAR21: TT TRUMP KHÔNG CHO ĐẢNG LỢI DỤNG TÊN ÔNG ĐỂ XIN TIỀN!

633 – 06MAR21: THƯỢNG VIỆN THÔNG QUA SỐ TIỀN $1,900 TỶ!

632 – #539​ 05MAR21: TIỀN CỨU TRỢ $1,400 BẾ TẮC TẠI THƯỢNG VIỆN!

631 – 05MAR21: BỘ TRƯỞNG CỦA BIDEN – TT TRUMP ĐÃ ĐÁNH THUẾ ĐÚNG VỚI TQ!

630 – #538​ 04MAR21: MIKE PENCE – GIỜ THÌ ÔNG NÓI ĐỂ LÀM GÌ…

629 – 04MAR21: CẬP NHẬT TÌNH HÌNH – THỦ ĐÔ CÓ GÌ HOT???

628 – #537​ 03MAR21: TT BIDEN SẼ HẠN CHẾ SỐ NGƯỜI ĐƯỢC LÃNH CHECK $1,400!

627 – 03MAR21: THỜI TỔNG TỰ LỆNH 46, CĂN CỨ MỸ TẠI IRAQ LẠI BỊ OANH TẠC!

626 – #536​ 02MAR21: TT TRUMP & CHIẾN LƯỢC THAY ĐỔI ĐẢNG CỘNG HÒA!

625 – 02MAR21: TEXAS & MISSISSIPI MỞ CỬA 100%, KHÔNG BẮT ĐEO KHẨU TRANG!

624 – #535​ 01MAR21: “SỰ TÍCH” CHỐNG TRUMP CỦA KINZINGER & HỘI GHEN TỴ TT TRUMP!

623 – 01MAR21: TCPV TỪ CHỐI 2 ĐƠN KIỆN CỦA LS SIDNEY POWELL!

622 – #534​ 28FEB21: CEO GOYA NÓI TT TRUMP VẪN LÀ TỔNG THỐNG HỢP PHÁP & THỰC TẾ CỦA MỸ!

621 – #533​ 27FEB21: TT TRUMP ĐANG CHUẨN BỊ CHO CHÁNH QUYỀN TIẾP THEO!

620 – 27FEB21: 95% ÔNG GRENELL SẼ TRANH CỬ THỐNG ĐỐC CALIFORNIA!

619 – #532​ 26FEB21: XUẤT HIỆN BỨC TƯỢNG VÀNG TT TRUMP TẠI ĐẠI HỘI 2021!

618 – 26FEB21: PHÁI MAGA ĐANG “CÀN QUÉT” ĐẠI HỘI 2021!

617 – #531​ 25FEB21: VÌ MAGA, TT TRUMP NÊN CÂN NHẮC TÁI XUẤT VÀO 2022!

616 – 25FEB21: CALIFORNIA ĐÃ CÓ 1,825,000 CHỮ KÝ BÃI NHIỆM NEWSOM!

615 – #530​ 24FEB21: TNS GRAHAM: “TÔI KHÔNG NGHĨ BIDEN ĐANG LÃNH ĐẠO NƯỚC MỸ!”

614 – 24FEB21: ĐẢNG DÂN CHỦ ĐÒI GIÀNH NÚT HẠT NHÂN CỦA ÔNG BIDEN!

613 – #529​ 23FEB21: TNS GRAHAM CHIA SẺ VỀ CUỘC GẶP TT TRUMP TẠI MAR-A-LAGO!

612 – 23FEB21: QUAN CHỨC BIDEN THÔNG ĐỒNG VỚI IRAN, LIỆU CÓ BỊ ĐIỀU TRA?

611 – #528​ 22FEB21: TT TRUMP KHÔNG CHO ÔNG PENCE DỰ CPAC 2021 LÀ FAKE NEWS!

610 – 22FEB21: TỐI CAO PHÁP VIỆN BÁC ĐƠN KIỆN BẦU CỬ TẠI PENNSYLVANIA!

609 – #527​ 21FEB21: ÔNG PENCE “NÉ” TT TRUMP, KHÔNG DỰ CPAC 2021!

608 – 21FEB21: CHỈ 77/254 COUNTIES CỦA TEXAS ĐƯỢC CQ BIDEN DUYỆT HỖ TRỢ!

607 – #526​ 20FEB21: TT TRUMP SẼ CHÍNH THỨC TÁI XUẤT VÀO TUẦN SAU!

606 – 20FEB21: CẬP NHẬT BÃI NHIỆM NEWSOM, DÂN CALI ĐÓN BÀ HARRIS “QUÁ ĐÔNG”!

605 – #525​ 19FEB21: MAGA CHUẨN BỊ CHO 2022, CHỜ LỆNH CỦA TT TRUMP!

604 – 19FEB21: ĐẢNG DÂN CHỦ ĐANG GIỞ TRÒ ĐỂ CỨU THỐNG ĐỐC NEWSOM!

603 – #524​ 18FEB21: TT TRUMP TỪ CHỐI HÒA GIẢI VỚI CÁC THÀNH PHẦN PHẢN PHÉ!

602 – 18FEB21: ĐẢNG DC ĐÒI CẤM AN TÁNG TT TRUMP TRONG NGHĨA TRANG QUỐC GIA!

601 –#523​ 17FEB21: TT TRUMP CÓ THỂ TỚI CALIFORNIA NẾU CÓ BẦU CỬ BÃI NHIỆM NEWSOM!

Xem lại những video cũ, mỗi trang 100 clips, tại đây :

Tran MaiCoUSA Trang 6  (Từ video clip  # 474 tới   )

Tran MaiCoUSA Trang 5  (Từ video clip  # 413 tới 28DEC20)

Tran MaiCoUSA Trang 4 (Từ video clip  # 310 tới  # 412)

Tran MaiCoUSA Trang 3 (Từ video clip  # 211 tới  # 309)

Tran MaiCoUSA Trang 2  (Từ video clip  # 115 tới  # 210)

Tran MaiCoUSA Trang 1  (Từ video clip  # 034 tới  # 114)

HOME